Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Truyện ngắn   /   Một cái tết nhớ đời! - Đoàn Hữu Nam
Một cái tết nhớ đời! - Đoàn Hữu Nam

Tết năm 1979 tôi không được về phép. Tháng 9 năm 1977 tôi rời nơi chôn rau cắt rốn Hà Nam lên làm công nhân nông trường Nậm Cang đúng vào thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đang vào giai đoạn cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Nậm Cang là vùng đất giáp biên giới Việt - Trung thuộc vùng ven thị xã Lão Nhai. Với hai nước láng giềng khi quan hệ răng môi xấu đi thì việc căng thẳng đầu tiên là dọc hai bên biên giới phải đương đầu gánh chịu. Thị xã biên giới Lão Nhai cũng nằm trong hoàn cảnh đó. Khi những thanh niên chúng tôi chưa kịp lớn để theo cha anh lên đường vào Nam đánh Mỹ thì miền Nam đã được giải phóng. Khi chúng tôi vừa đủ cân đủ tuổi thì biên giới phía Bắc cần một lớp người bảo vệ biên giới vững chắc và góp phần xây dựng kinh tế cho đất nước. Đất nước gọi thanh niên lên đường, mấy trăm con người qua tuổi bẻ gẫy sừng trâu chúng tôi lên tàu ngược phía Bắc rồi hành quân tới nông trường Nậm Cang. Tới nông trường, chưa kịp làm quen với một vùng rừng núi mênh mông thì chúng tôi đã phải nghe tiếng loa cực lớn phía bên kia biên giới ra rả nói xấu Việt Nam, kích động Hoa kiều về nước. Nhập vào đội quân của nông trường chúng tôi được phân công vào từng tổ đội với nhiệm vụ vừa là công nhân trồng cây, chế biến nông sản, dược liệu vừa là chiến sỹ dân quân tự vệ. Công việc, tập luyện cuốn ngày cuốn đêm ai cũng có cái để trăn trở lo toan, ai cũng có cái để tự hào, để chắt chiu, gây dựng. Riêng thì nhiều lắm nhưng đều có cái chung là năm hết tết người nào cũng mong được khoác ba lô về ăn tết với mẹ cha, với làng quê yêu dấu. Song biên giới đang lúc căng lúc chùng việc sản xuất cũng như trực chiến không thể một ngày buông lơi nên tết đến đội nào cũng chỉ được nghỉ phép không quá năm mươi phần trăm quân số. Chỉ tiêu ấy được giao xuống từng tổ, tổ rất công bằng, ai hay lam hay làm, xông xáo gánh vác nhiệm vụ được ưu tiên, ai tết trước chưa được về tết này được đứng đầu bảng. Tết năm 1978 tôi được nằm trong con số năm mươi phần trăm được bạn bè tiễn ra tàu về quê, tết năm 1979 tôi phải nhường lại cho những người năm ngoái phải ở lại trực tết thay mình.
Khỏi phải nói tới sự xao xuyến, bâng khuâng, tiếc nuối trong khi tàu xe thuận lợi mà phải ăn tết nơi đất khách quê người, nhất là khi các lán rỗng đi một nửa người, không khí sắm tết rạo rực khắp các xóm ngõ, chợ phố, các gia đình trong nông trường. Vào những ngày sắp năm cùng tháng tận không khí cả đội sản xuất chúng tôi chùng hẳn lại nhưng rồi cũng đến ngày cả đội cũng xúm nhau vào chuẩn bị đón tết. Cũng thịt lợn, thịt gà, giò chả, măng miến, bánh chưng, rượu chanh chính hiệu. Cũng “… Người người họp nhau/ Người người hợp nhau/ Hai chữ mưu sinh thôi nặng/ Quên đi dằng dặc vui buồn/ Rượu lưng xoong/ Thịt lùm lá chuối/ Mắt người ngờm ngợp mây say”.
Trưa ba mươi tết. Làm mấy chén rượu đã đời xong tôi về lán của mình nằm miên man, nỗi nhớ nhà cồn lên, máu giang hồ bạt tử được thường ngày rèn rũa nằm im nay quẫy đạp, trồi lên, dẫn lối. Kiểu gì thì cũng phải chui qua lỗ kim kỷ luật, không được nằm trong danh sách trực tết là được tự do ba ngày tết. Được tự do thì phải hưởng, phải làm được những điều mình thích. Nghĩ là làm, tôi vùng dậy lẳng lặng lấy bộ quần si áo trắng kiểng duy nhất một mình “phắn” ra Lão Nhai xem tàu. Thường ngày cứ đến ngày chủ nhật là cánh công nhân trẻ của nông trường lại cuốc bộ ra phố để ăn vài cái bánh rán, uống một cốc si rô cho hả dạ, riêng tôi có thói quen ra tận ga để thoải mái ngắm tàu đến tàu đi. Quanh ngày quanh tháng mặt nhìn đất mông nhòm giời, ngoài nhìn mặt nhau đến mòn nhẵn ra thì chỉ có một màu quần áo bảo hộ, được ngắm nhìn những người háo hức, mệt mỏi chờ tàu, trên tàu là một thú vui tôi không muốn bỏ. 
Chiều ba mươi tết ga Lão Nhai vắng tanh vắng ngắt. Hàng quán quanh ga đóng cửa. Không người bán rong, bán lẻ. Sân ga chỉ có mấy người nhà ga, nhà tàu đang thong thả làm nhiệm vụ. Một con tàu hơi nước tựa như con trâu già đang phì phò chuẩn bị chạy xuôi, trên các toa tàu ngoài các nhân viên nhà tàu ra hầu như không có người. Lão Nhai hồi ấy vốn được coi là Mátxcơva của cả vùng Tây Bắc. Ngày ấy đường xá đi lại khó khăn, hành khách các huyện phía Bắc của Lào Cai, của cả tỉnh Lai Châu và một phần của tỉnh Điện Biên muốn đi xuôi phải trông cả vào tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội nên ga Lão Nhai là đầu cầu, là đầu mối hội tụ cả người và hàng hóa xuôi ngược của khắp một vùng rộng. Thường ngày cũng như đêm nhà ga nhộn nhịp, tấp nập kẻ đến người đi, kẻ mua người bán, vậy mà bây giờ…
Tôi trèo lên một toa tàu. Nhìn những hàng ghế trống người trong toa tôi chợt thấy bâng khuâng, tiếc rẻ. Cũng những toa tàu thế này mới hôm qua, hôm kia thôi tàu ngày cũng như tàu đêm tàu nào cũng người với người chật như củi bó, ai may mắn mua vé có số ghế thì còn có chỗ ngồi, còn phần lớn trẻ già trai gái phải đứng chen nhau, đến cái cửa toa cũng phải có bốn năm người đứng ngồi chen chúc, nay cả toa chỉ có một hai người thế có phí không. Hơn một năm lên Lão Nhai, hai lần đi tàu về quê thì cả hai lần phải nhận vé đứng trong suốt cuộc hành trình đằng đẵng cả ngày lẫn đêm, còn bây giờ… “Hay là thưởng thức một chuyến tàu không người xem cảm giác thế nào!”, tôi bất giác nhìn về phía nông trường, nhìn sân ga vắng vẻ, nhìn dọc con tàu, nghĩ đến hai ngày được tự do rồi chậc lưỡi: “Thử đón một cái tết trên tàu xem sao”.
Tôi móc túi lấy tiền đếm đi đếm lại. Còn được sáu đồng hai hào, thế là vô tư rồi, tiền vé thì không lo, người Việt sống với nhau tuyệt vời ở cái tình, bình thường lên tàu trốn vé chẳng khác gì kẻ phản động, nhưng ba mươi, mồng một tết khách đi tàu được miễn vé; một bát phở, một cái bánh nướng mậu dịch cũng chỉ có đồng hai, sáu đồng hai sẽ thoải mái cái dạ dày ba ngày. 
Tôi xăm xắn đi dọc các toa tìm chỗ ngồi ưng ý. Kia rồi! Tôi thầm reo lên, ở hàng ghế giữa toa số tám một cô gái xinh xắn đang mê mải chúi mắt vào một cuốn sách. Giữa chiều ba mươi, trên chuyến tàu chở toàn ghế mà có người mê mải chữ nghĩa đến quên trời, quên đất thế kia thì hoặc là cuốn sách có ma lực, hoặc là một con mọt sách. Thì ta cũng là một con mọt sách đây, cũng  thường ngày vùi đầu vào những cuốn sách ma mị đây. Tính tò mò, máu săn người nổi lên, tôi ghé mông ngồi đối diện ghế cô gái, một mắt ra cái vẻ để ngoài cửa sổ con tàu, một mắt đọc ngược những con chữ trên bàn. Thì ra cuốn “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, cuốn sách gối đầu giường, hút thanh niên chẳng khác gì “Thép đã tôi thế đấy” của người Nga, “Ruồi trâu” của người Mỹ gốc Anh. Lán công trường đuổi theo những con đường chui sâu vào rừng sâu núi thẳm, chỗ ở trống toang trống tuềnh, đói rét, cực nhọc, song trong ba lô của tôi lúc nào cũng có bốn cuốn sách, là “Ruồi trâu”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Dấu chân người lính”, “Mẫn và tôi”. Bốn cuốn sách ám vào đến mức tôi thuộc lòng từng đoạn như mẹ tôi thuộc Kiều, Cung oán ngâm khúc, Tống Trân Cúc Hoa... 
Những ngày mưa, đêm vắng lăn lóc đến nhầu nát từng trang truyện bây giờ được việc đây - tôi tự thưởng cho mình một hơi nắng gió sông Hồng rồi sẽ sàng:
- Trong khung cảnh tết nhất đến cổng rồi mà đọc đoạn này không hợp đâu em ạ!
Người con gái giật mình ngẩng lên:
- Sao anh biết!
- Thì… thì những năm tháng này ai mê sách mà chẳng nằm lòng “Dấu chân người lính”, có phải em đang đọc đến đoạn cuối của chương 2 không? 
Rồi chẳng đợi em mắt chữ A mồm chữ O tôi thao thao đọc vanh vách: 
- Vì trong chừng ấy năm, từ ngày hắn bỏ nhà đi lính cho Mỹ, nhiều lần hễ Xiêm bước chân đi xa khỏi bản là bắt gặp hắn đang đứng rình chị ở một chỗ nào đó. Hắn sợ bố, sợ ông cụ Phang giết nên không dám về nhà. Hắn đã chạy sang phía kẻ thù nhưng lúc nào cũng tính toán kéo chị đi theo. Hắn đã có vợ khác nhưng vẫn không chịu quên lãng mà vẫn thèm khát chị. Có một chuyện giữa chị và hắn, mà không bao giờ chị muốn nói ra: Một lần, Xiêm bị hắn cưỡng hiếp ngay ở ngoài rừng và chính lần ấy chị có chửa. Chị mang cái thai trong bụng, lúc nào cũng như ngửi thấy mùi thuốc lá lẫn mùi nước hoa của tên lính biệt kích, lúc nào cũng như nghe thấy một luồng hơi thở ghê tởm như hơi thở của một con thú dữ phả vào mặt…
Em ngỡ ngàng, tôi hào hứng, rồi cả hai hồ hởi dấn sâu vào những khoảnh khắc của cuộc chiến tranh tàn khốc mô tả trong truyện, vào những giây phút sinh tử, những tình cảm đồng điệu của những nhân vật như Kinh, Lữ, Nhẫn, Lượng, Khuê, Cận, Nết, Xiêm… Chúng tôi vừa theo khuynh hướng sử thi kết hợp lãng mạn của ông nhà văn viết “Dấu chân người lính” vừa tranh thủ bộc lộ mình, đến lúc trời sập tối thì em biết tôi là người Hà Nam, làm phu lục lộ, đang thử cảm giác ăn tết trên tàu, còn em là người Hà Tây, là y tá, đang làm việc ở xí nghiệp lắp máy 273 trên Tằng Loỏng; ngày mồng sáu tết nhà cưới em gái nhưng đơn vị không cho em về, bố mẹ đành phải đánh điện ngày bốn lần với nội dung bố sắp chết về ngay mới lay động được ý chí sắt đá của mấy ông lãnh đạo. Em hào phóng giở bánh quy, mứt hộp ra rồi hai đứa vừa nhấm nháp hương vị tết vừa nói về sự lãng mạn của tuổi trẻ, về thú chơi ngông của cụ Tản Đà, đa tình của cụ Nguyễn Bính, đặc biệt tôi đã nắm được tay em, truyền cho em hơi nóng lạnh của thời điểm sắp giao thừa, đặc biệt hơn nữa chúng tôi hứa với nhau lên Lão Nhai sẽ gặp nhau, sẽ cùng nhau bàn tiếp chuyện đường dài.
Tàu đến quãng gần ga Vũ Ẻn gì đó thì chúng tôi bất ngờ được nhà tàu mời tất cả hành khách về toa giữa để ăn tết. Chúng tôi bỡ ngỡ, cảm động háo hức đi theo cô nhân viên nhà tàu. Đến toa giữa chúng tôi đã thấy cỡ hai chục người cả hành khách lẫn nhà tàu ngồi sẵn, trên mặt mỗi cái bàn giữa hai hàng ghế đã bày sẵn một cái bánh chưng bóc sẵn, khoanh giò nạc, khoanh giò mỡ, gói mứt, chai rượu chanh, nhìn những nụ cười tươi vui, thân thiện cùng mâm “cỗ tết” chúng tôi biết sẽ được đón một giao thừa lạ và ý nghĩa nhất trần đời. 
Đúng lúc giao thừa theo hiệu lệnh của ông Trưởng tàu, tàu dừng bánh, một tràng pháo nổ giòn giã đón năm mới, ông Trưởng tàu trịnh trọng chúc những lời có cánh, rượu chanh mở nút, mọi người hồ hởi chúc nhau, cùng nhau ăn tết.
Đón giao thừa xong tôi và em trở về chỗ của mình, ái ố hỉ nộ thả ra ngoài cửa sổ, chỉ còn phiêu bồng lãng đãng nhận cho để rồi trưa mồng một tàu về đến ga Hàng Cỏ, tôi lưu luyến đưa tiễn em tới cửa ga rồi quay lại con tàu chờ ngược Lão Nhai chờ ngày gặp lại. 
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, ngày tôi định xuống Tằng Loỏng thăm em. Suốt đêm trước tôi hết mở lại gấp, lại cho vào túi áo ngực, lại lấy ra tờ lịch ghi ngày 17 tháng 2 năm 1979 có câu danh ngôn của Mazoni: Một trong những hạnh phúc lớn của đời sống là tình bạn và một trong những hạnh phúc lớn của tình bạn là có người để gửi gắm một bí mật, một tâm tư. Mong những lời có cánh này sẽ nói hộ lòng tôi với em.
Đúng giữa giờ Dần, giờ hoàng đạo, giờ đất nước đón chào một ngày mới tươi vui, rộn rã, tôi đang khấp khởi dắt cái xe đạp mượn được của ông đội trưởng ra cửa thì bất thình lình hàng loạt đạn pháo từ bên kia biên giới dội vào thị xã Lão Nhai và những vùng phụ cận trong đó có nông trường chúng tôi. Vốn được tập luyện, cảnh giác từ trước, nghe tiếng hô của ông đội trưởng tôi vội dựa cái xe đạp vào vách rồi nhanh chóng cùng anh em xách súng lao lên chốt. Chúng tôi vừa triển khai đội hình xong thì địch đã tràn sang, bọn “đầu nhọn đuôi dài” quần cho tiểu đội giữ chốt bắn đến cạn đạn, súng đỏ nòng, quá nửa đã hy sinh hoặc bị thương nặng, cực chẳng đã ông đội trưởng phải cho anh em vừa đánh vừa rút. Chúng tôi rút xuống tới chân đồi thì tôi bị một viên đạn xuyên qua ngực phải, gục xuống ngất đi, khi tỉnh dậy tôi thấy mình nằm trên giường trong một căn nhà ám khói, quanh tôi có đến bốn năm người kẻ rên la người nằm bất động. Khi thấy tôi mở được mắt một cô gái reo lên: “Sống rồi, anh sống rồi”, tôi ngỡ ngàng định hình một lúc mới nhận ra em. Khi tỉnh hẳn, qua lời kể lộn xộn của em tôi biết chúng tôi đã được một đơn vị bộ đội kịp thời giải vây, đưa tử sĩ và thương binh ra khỏi vùng nguy hiểm. Thấy tôi còn thoi thóp anh em vội sơ cứu, đưa về tuyến sau rồi được đưa vào cấp cứu ở bệnh xá của công ty Xây lắp máy 273. Là một y tá trực đón bệnh nhân từ tiền tuyến đưa về, mặc dù người ngợm tôi bê bết máu, bùn đất, ngực băng kín song em vẫn nhận ra tôi, nhất là khi thấy cái mặt trời đen và hai chữ Tương Lai tôi xăm mực tàu trên cổ tay mà hôm trên tàu tôi kể tỉ mỉ nguyện ước việc tôi xăm hình tượng này. Tôi và em mừng mừng tủi tủi, khi xe cứu thương của Bệnh viện Yên Bái lên chi viện đón thương binh về điều trị em được phép theo xe phục vụ, chăm sóc tôi.
Cuộc chiến xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh kết thúc thảm hại. Sau đúng một tháng sa lầy suốt dọc biên giới Việt - Trung, ngày 16 tháng 3 năm 1979 kẻ thù buộc phải rút về bên kia biên giới. Em trở lại cơ quan tiếp tục với công việc của mình, còn tôi, sau một thời gian điều trị vết thương ổn định, tôi được ra viện và trở lại với nông trường. Cuối năm ấy chúng tôi cưới nhau, em chuyển lên nông trường và cùng tôi bươn trải qua suốt mười năm hậu chiến tranh cho đến thời kỳ xây dựng lại Lão Nhai từ hoang tàn đổ nát. Trong biết bao buồn vui sướng khổ của chính mình, của thời cuộc chúng tôi lúc nào cũng nhớ tới cái tết định mệnh, nếu không có sự lãng mạn đến ngông cuồng, không có duyên số đưa đường chỉ lối thì làm sao mỗi đứa chúng tôi tìm được nửa của mình, gia đình tôi làm sao có được sự viên mãn đủ đầy, con cháu đầy nhà như ngày hôm nay, ơn giời ơn phật.
            

Đ.H.N


Các tin liên quan

Quảng cáo
Album
Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 5
 Hôm nay: 32
 Tổng số truy cập: 80590
Cửa sổ văn hóa
  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 02373.859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: vnxuthanh@yahoo.com.vn - tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 162/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 23/5/2017
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa