Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Truyện ngắn   /   Những giấc mơ tràn qua đồi trọc - Hà Thị Cẩm Anh
Những giấc mơ tràn qua đồi trọc - Hà Thị Cẩm Anh

Vẫn là giấc mơ ấy. Một giấc mơ đẹp. Đêm nào cũng thế. Giấc mơ dẫn dắt tôi trở về với quá khứ của một đời người: Vẫn vào những buổi chiều khan gió, tôi đã theo anh lên đồi, chúng tôi lang thang khắp những ngọn đồi sim, mua lúp xúp. Khi hai đứa dừng lại nghỉ chân trên một mỏm đồi cao. Anh nói:
- Em à! Vùng này sẽ là của cải, sẽ là sự giàu có của Mường Chiềng ta. Em hãy lấy anh! Chúng ta sẽ cùng nhau biến vùng đất trống, đồi núi trọc này thành Vương quốc xanh của thung lũng Si Dồ...
Anh chưa kịp nói hết tôi đã hét lên:
- Rõ là... Chỉ những khá(*) dở hơi như anh mới mơ mộng thế! 
Tôi bỏ xuống núi. Anh thì vẫn đứng đó. Anh đứng một mình. Buồn và cô đơn trên khu đồi trọc. 
Tôi bỏ làng Chiềng Va ra đi trước anh hai mùa rẫy. Mỗi chúng tôi đi khỏi thung lũng Si Dồ bằng một lý do riêng. Anh đi khỏi làng để vào nơi khói lửa rồi lại từ đấy đem về làng Chiềng Va nhiệt huyết của người lính sau cuộc chiến tranh. Tôi bỏ làng ra đi vì tôi sợ. Lúc nào tôi cũng cảm thấy sợ. Một nỗi sợ vu vơ và ám ảnh. Tôi  sợ khi phải chui rúc trong rừng tìm củ mài, rau sắng để có miếng ăn mỗi ngày. Tôi sợ những đêm mùa Đông rét mướt phải nằm co ro bên cạnh đống lửa cháy loi roi hết đêm này lại qua đêm khác trong cái bếp khách ở giữa căn nhà sàn nhỏ, trống trải và xiêu vẹo. Tôi sợ những khu đồi trọc quanh năm đựng đầy nắng và gió. Qua hết thế hệ này đến thế hệ khác, các thung núi nhỏ và các ngọn đồi thấp của Mường Chiềng đã bị cạo trọc, đã bị con người biến thành những khu đồi Pưởi păn hoang hoải. Từ khi tôi còn chưa đủ gan bỏ làng Chiềng Va để dấn thân vào  cuộc sống ồn ào nơi phố thị, mỗi buổi chiều tôi vẫn thấy anh một mình rong ruổi trên đồi trọc để tìm kiếm một cái gì đó rất vô hình mà tôi không biết. Thây kệ anh! Đối với tôi, tôi sợ tất cả những gì đã mất và cả những gì còn lại của làng Chiềng Va. Cái mất đi là những khu rừng, là những cái khe, những con suối đầy nước. Cái còn lại là sự đói nghèo triền miên trong các ngôi nhà sàn nhỏ, của làng tôi. Tôi ghét cay ghét đắng những hang động lỗ chỗ và đầy bí hiểm trên các vách núi cao ở phía sau làng. Tôi sợ cả những dòng nước nhỏ, trong suốt chảy từ trên các khe núi xuống sau những cơn mưa rừng bất chợt mà có lúc tôi đã nghĩ nó giống như những giọt nước mắt cay đắng của anh sau cả hai lần tôi gây ra nỗi đau trong lòng người con trai Mường ấy. Cả hai lần anh không đi tìm tôi. Bởi vì anh biết tôi không yêu anh, vì vậy mà anh không có quyền níu giữ cái gì không phải của mình! Còn tôi? Cái gì tôi cũng sợ. Tôi sợ chính mình. Tôi  ghét làng Chiềng Va. Tôi sợ và ghét cả tình yêu mà anh dành cho tôi nữa. Nếu như anh không nghèo khó... Đã thế một lần anh còn nói với tôi: 
- Người làng ta đã tàn phá đi những khu rừng vì nghèo rồi lại nghèo khó hơn vì đã phá đi những khu rừng. Đó là cái vòng luẩn quẩn mà người Mường Chiềng ta chưa tìm được lối để thoát ra.
Anh nói thế càng làm tôi nao núng. Tôi đã cam chịu cái nghèo ở ngôi làng ấy suốt cả tuổi thơ của mình. Mười bảy tuổi! Tôi muốn thay đổi số phận của mình. Thay đổi bằng cách nào? Tôi không biết! Học hành không được là bao nhưng tôi biết mình là một cô gái đẹp. Có lẽ ở đâu đó một cô gái có chút nhan sắc hơn người sẽ dễ sống hơn là cứ ru rú mãi ở làng.
Làng Chiềng Va rất nghèo. Ngôi làng buồn tẻ, đìu hiu, quanh năm cứ bảng lảng mây và lơ thơ khói trên những mái tranh xám xịt, ủ ê của những ngôi nhà sàn nhỏ có khuôn cửa voóng chật hẹp nhìn xuống cánh đồng bậc thang chật hẹp, đất đai khô cằn, bạc phếch của thung lũng Si Dồ. Tôi đã bỏ lại đằng sau mình ngôi làng nghèo khó ấy mà ra đi. Đi đâu và sẽ sống ra sao khi đã bước chân ra khỏi làng mình? Tôi không biết! Mười bảy tuổi, chưa từng trải để biết được những gì đang đợi tôi ở phía trước: "Cứ đi rồi khắc biết!". Tôi đã nghĩ thế và quả là như thế thật! Bước chân ra khỏi làng khi chưa có chút kinh nghiệm nào để làm vốn dắt lưng tôi mới biết cái giá phải trả cho sự ngu ngốc và nông nỗi của mình nó đắt đỏ thế nào, cay đắng ra sao. Bây giờ trong mỗi giấc mơ của những đêm không ngủ cứ chảy tràn qua những khu đồi trọc của tuổi trẻ dại khờ để trở về với quá khứ lại làm tôi day dứt, đau buồn. Ngày ấy nếu tôi nghĩ được nhiều hơn về đạo làm người của Mụ Dạ Dần linh thiêng ở Mường Trời thì tôi đã biết được là tất cả những gì ở quanh tôi đều rất tốt đẹp. Cả anh cũng thế. Anh là một chàng trai Mường tốt! Tôi đã bỏ lại chàng trai Mường ấy và ngôi làng nghèo khó của mình để ra đi. Tôi ra đi và đã tìm được cho mình sự thảm bại khôn lường kéo dài gần hết cả cuộc đời! Nếu chỉ như thế cũng chưa có gì đáng nói. Đi rồi nhưng tôi vẫn gây ra cho anh những nỗi đau. Nỗi đau của anh chỉ mỗi mình tôi biết. Mỗi mình anh phải chịu đựng. Hồi ấy tôi đã rất hả hê. Hả hê vì mình đã làm như thế. Tôi làm như thế để trả thù anh. Hận thù mà tôi phải trả chỉ vì anh nghèo quá! Chết toi, chết tiệt! Một kẻ nghèo như anh thì đem lại được gì cho cuộc đời tôi? Không gì cả! Vì không có gì tốt đẹp cho tương lai nên tôi đã bỏ lại đằng sau tất cả những gì mà tôi nghĩ rằng nó đã níu kéo tôi, đã dìm tôi sâu mãi vào sự nghèo hèn để ra đi, để tìm cho mình một cuộc sống khá hơn đó là mẹ tôi, là ngôi làng, là những thửa ruộng bậc thang, những đám rẫy khô cằn, là tình yêu của anh. Tôi mặc kệ! Tôi vén váy và xăm xăm bước ra khỏi làng vào một buổi sớm mai khi trời vừa hửng sáng. Ra khỏi con dốc Ngược ở cuối làng, tôi cởi cóm, cởi váy giống như là một con rắn lột xác rồi ném tất cả xuống suối Ly Lai để rũ bỏ đi quá khứ đáng buồn của một đứa con gái làng Chiềng Va quanh năm chỉ biết chui rúc trong rừng rậm để đào đất, bẩy đá mà kiếm miếng ăn không đáng để người ta dùng nuôi chó, nuôi lợn. Tôi khoác lên người một bộ quần áo bằng vải chợ mà tôi nghĩ là rất đẹp. Bộ quần áo này tôi phải đổi bằng một bộ xà tích năm giây bà ngoại để lại cho tôi đi lấy chồng khi tôi đủ lớn trước khi bà mất cho hắn, cái thằng mà sau này hắn đã phá nát đời con gái của tôi. Hắn có rất nhiều tiền. Mỗi tháng vài lần hắn xuất hiện ở Mường Chiềng. Hắn đến làng tôi để bán những chuỗi ngọc trai giả, những bộ quần áo vải chợ, những đôi dép nhựa xanh đỏ, những chiếc nhẫn mỹ ký rồi xục xạo khắp nơi trong các ngôi làng để tìm mua đồ cổ. Khi đã moi hết những thứ quý giá là cồng, là chiêng, là xanh quai, là những mũi tên đồng, súng kíp mà các gia tộc có Tổ phụ đã hưởng ứng Chiếu Cần vương của đức Hàm Nghi đứng lên theo các vị lãnh tụ của phong trào Cần Vương đánh Pháp ở các xứ Mường là cụ Hà Văn Mao ở Mường Khô, cụ Hà Văn Nho ở Mường Ký đã dùng để chiến đấu sinh tử với giặc Pháp ở đồi Chư Lẹ còn giữ lại được giống như là một chứng nhân văn hóa và lịch sử đồ sộ của xứ Mường này, hắn mang luôn tôi về thành phố, thuê nhà trọ bình dân cho tôi ở. Hắn hứa là sẽ tìm việc cho tôi làm để có được cuộc sống nhàn nhã, đầy đủ hơn ở Mường Chiềng như tôi đã muốn rồi hắn cưỡng hiếp tôi, chiếm đoạt tôi.
Một năm sau. Tôi trở về làng Chiềng Va.  Năm ấy, tôi tròn mười tám tuổi.
Khi tôi báo với hắn là mình đã có thai thì hắn vội vàng đem tôi đi giấu ở một khu nhà trọ khác, rất xa trung tâm thành phố rồi bỏ mặc tôi ở đấy. Trước khi xỉa cho tôi ít tiền rồi bỏ đi, hắn còn rít chặt hai hàm răng vẩu lại mà nói: Muốn sống sót thì đừng bao giờ đi tìm hắn. Hắn sẽ cho người thường xuyên liên lạc với tôi và thường xuyên theo dõi tôi mọi nơi, mọi lúc. Chỉ cần tôi giải quyết xong cái thai là mọi chuyện đâu lại sẽ vào đấy. Tôi vẫn sẽ là gái bao của hắn. Chết tôi rồi! Một đứa con gái Mường Chiềng theo một gã đàn ông xa lạ về thành phố rồi hoang thai! Tôi không biết phải nương tựa vào đâu? Trở lại ngôi làng mà từ đấy tôi đã ra đi thì không thể được! Nhưng mãi rồi, trong lúc tưởng như không còn cách nào ngoài cái chết để giải thoát thì tôi chợt nghĩ đến anh. Tôi phải làm như thế. Nhất định rồi! Đây là lối thoát ra duy nhất của cuộc đời tôi. Tôi trở về Mường Chiềng. Tôi không về làng Chiềng Va với mẹ mà cứ thế đi thẳng đến chân thang của một ngôi nhà sàn côi cút, lẻ loi trong một thung núi nhỏ được bao quanh bởi một khu đồi trọc hoang vắng cách làng Chiềng Va chưa đủ một bận quăng dao. Từ rừng về, nhìn thấy tôi trên sàn, anh không buồn, cũng không vui. Tôi cũng không cần những thứ đó từ phía anh và cũng không nói với anh: Tôi đã đi đâu? Vì sao tôi đã bỏ làng Chiềng Va mà ra đi ngần ấy thời gian? Tôi chỉ nóng lòng đợi cho đêm xuống. Hôm ấy ông trời cũng có vẻ đứng về phía tôi. Cơm tối chưa xong thì bỗng nhiên trời nổi lên một cơn giông lốc. Gió xoáy điên cuồng gào rít. Bụi đất bay mù mịt, khi trời tối hẳn thì mưa đá trút xuống. Những hạt mưa đá to nhỏ khác nhau tới tấp ném xuống mái tranh nghèo trên đồi trống mỗi lúc một mau hơn, nặng hơn. Mưa đá xối xuống rất mạnh. Đất đá từ trên các ngọn đồi trọc bị sạt lở ra từng mảng lớn rồi bị đẩy từ trên cao xuống khiến mặt đất rung bần bật giống như là có động đất từ xa. Ngôi nhà sàn nhỏ có cái cầu thang bằng luồng của mẹ con anh tuy đã được chằng néo, đã được ghìm chặt xuống bằng những cây luồng dài từ mùa mưa bão trước vẫn bị gió vặn xoắn, xô đi, đẩy lại. Mưa đá muốn dìm ngôi nhà cho lún sâu xuống rồi vùi lấp lại bằng sức mạnh vô biên của Thủy thần nhưng gió lại muốn nhổ bật lên, muốn tung ném vào khoảng không gian tối tăm, mây đen dày đặc đang vật vã trên những khu đồi trọc. Nước suối Ly Lai dâng lên cuồn cuộn, réo chảy ầm ầm. Mưa đá vẫn sầm sập đổ xuống. Tôi không thể cứ thế đội mưa, rẽ gió mà trở về nhà. Vả lại tôi cũng đâu có muốn xuống thang để trở về nhà mình đêm nay? Tôi có đem theo từ thành phố về một chai rượu ngon. Tôi khui ra để uống cùng với mế con anh. Tôi uống khá nhiều và cũng ép anh phải uống. Gã trai Mường hơn hai mươi tuổi chỉ mới ngửi qua mùi rượu đã say. Khi anh đã say khướt, tôi đặt anh lên sàn nhà, gần cửa voóng rồi buông màn xuống. Sáng sớm mai thức dậy thấy nằm bên cạnh anh là tôi. Cả hai đứa không một mảnh vải che thân. Anh rú lên kinh hoàng còn tôi cứ thế làm mình làm mẩy. Tôi đã sỉ vả anh hết lời. Cuối cùng thì anh cũng phải mở miệng ra. Anh bảo mình sẽ chịu trách nhiệm vì việc xấu anh đã gây ra cho cuộc đời con gái của tôi. Tôi nổi đóa lên. Tôi xỉa xói thẳng vào mặt anh: Anh là cái thá gì? Chỉ là một thằng Mường bước chân chưa qua nổi một đống cứt trâu mà dám... Có lẽ anh cũng biết thừa là anh không làm gì tôi cả, nhưng tôi đã muốn buộc chặt anh vào tội lỗi mà anh không hề gây ra nên càng làm già hơn. Miệng anh thì cứng lại, lưỡi như bị tụt sâu xuống họng. Còn tôi thì rất hỉ hả trong lòng, và sau một hồi nỏ mồm la lối om sòm và chửi rủa tục tằn, tôi đã vơ váy áo, đồ đạc của mình đi thẳng ra phía cửa man. Trước khi xuống thang, tôi vẫn lu loa khóc:
- Vì anh mà tôi không dám vác mặt về nhà. Không dám chường mặt ra đường cho người ta biết là tôi đã ngủ trên sàn nhà anh suốt cả một đêm. Nhưng tôi... lỡ tôi có thai thì biết phải làm sao... tôi mới mười tám tuổi...
Tôi vừa khóc tức tưởi vừa xuống thang.  Anh chạy theo, dúi vào tay tôi một nắm tiền. Mặt anh lúc thì đỏ bừng lên, lúc thì tái nhợt đi, xám ngoét lại. Tôi cầm tiền và bỏ đi. Cuộc đời tôi, ít ra tôi cũng đã thành công được một việc đầu tiên.
Gần tám tháng sau. Tôi lại trở về Mường.
Một buổi tối tôi ôm con lẻn về Mường Chiềng. Cũng như lần trước, tôi không về nhà mẹ mà đến thẳng nhà anh. Tôi lên thang, đặt con bé xuống sàn nhà. Anh trân trố nhìn tôi. Tôi vẫn cúi đầu im lặng. Tôi muốn để cho anh tự hiểu là tôi đang rất đau khổ, đang rất tuyệt vọng vì vụ chửa đẻ này là do chính anh đã gây ra. Anh vẫn cứ trân trố nhìn tôi bằng ánh mắt kinh hoàng rồi lại nhìn đứa trẻ sơ sinh. Tôi lùi dần ra phía cửa man rồi cứ thế tôi xuống thang đi thẳng. Tôi đi luôn một mạch cho đến tận bây giờ.
Bây giờ tôi già rồi. Cuộc đời tôi không còn gì để bấu víu tôi lại muốn trở về. Tôi muốn trở về làng Chiềng Va để sống nốt quãng đời còn lại của mình. Nhưng tôi không thể! Tôi lại sợ. Tôi sợ phải gặp anh. Tôi sợ đối mặt với con gái của mình. Tôi sợ cả những gì đã thay đổi ở xứ Mường này. Nó sẽ khiến cho tôi ân hận, đau đớn và càng thêm tủi nhục. Căn nhà sàn xiêu vẹo mà tôi đã trải qua một đêm giông bão ở đấy bây giờ là một ngôi nhà sàn năm gian rất rộng được cất lên bằng gỗ lim, gỗ lát khai thác từ chính khu đồi trọc mà ngày ấy anh đã dẫn tôi lên rồi nói về giấc mơ xanh của mình. Ngôi nhà được bao bọc giữa một vườn cây trái xum xuê. Trước cửa voóng của ngôi nhà ấy là rừng. Chỉ bạt ngàn là rừng xanh. Rừng trồng cây lấy gỗ quý hiếm là lim, là lát xen lẫn với những đồi luồng rộng, dài mút hết cả tiếng chiêng ngân của lễ hội Mường Chiềng. Ngày ấy có lần chúng tôi lên đồi trọc, anh đã dạy cho tôi cách nhìn sâu vào cái nghèo và sự khó khăn, đói kém triền miên của xứ Mường Chiềng. Anh nói:
- Con đường đưa người làng Chiềng Va ta thoát nghèo chỉ là con đường đi vào rừng xanh.
Tôi cãi:
- Theo anh: Đi vào rừng xanh để đào củ, tìm măng. Đúng không? Miếng ăn như thế đổ vào miệng mỗi ngày mà nói là hết đói, hết nghèo được hay sao?
Anh buồn bã nhìn tôi:
- Anh nói là khi nào những khu đồi trọc này được phủ bằng màu xanh của rừng thì làng Chiềng Va ta mới hết được nghèo. Con người được sinh ra từ rừng thì phải có rừng mới sống được em à! 
- Anh vẫn muốn nói đến chuyện trồng rừng? Đợi kiếm được tiền từ rừng của anh thì xương tôi đã mục ra rồi.
Tôi nói thế rồi vùng vằng xuống núi. 
Ước mơ xanh của anh đã thành hiện thực. Làng Chiềng Va bây giờ là xã Chiềng Va, một xã miền núi đầu tiên ở thung lũng Si Dồ không còn hộ đói nghèo. Mường Chiềng đã có những con đường thoát nghèo bằng bê tông thẳng tắp từ các ngôi làng chạy tuột vào đến tận cửa rừng. Những căn nhà sàn buồn hiu hắt và những khu vườn tạp đìu hiu bây giờ đã được thay bằng những căn nhà ngói đỏ, những ngôi nhà sàn rộng được cất bằng những thứ gỗ quý tươi rói khai thác từ trang trại rừng của những ông chủ rừng giàu có. Những ngôi nhà của thế hệ mới này của làng Chiềng Va ẩn mình trong các khu vườn rộng có rất nhiều cây ăn quả bản địa và cũng rất nhiều loại được du nhập từ khắp các vùng miền trong Nam, ngoài Bắc về xứ Mường Chiềng. Cánh đồng bậc thang khô cằn và chật hẹp, đất đai bạc phếch của làng Chiềng Va bây giờ đã có phai, có đập ngăn suối đựng nước để mỗi năm cấy hai vụ lúa lai. Chui rúc trong rừng để đào củ, hái rau bây giờ đã trở thành truyện cổ tích của làng, thỉnh thoảng người già mới đem ra kể lại cho con cháu của mình nghe. Các thửa ruộng bậc thang cao nhất, nếu trồng cây lương thực, đến mùa thu hoạch cũng chỉ là bế, là mang đã được chuyển đổi thành vùng chuyên canh cây dâu tằm. Những người đàn bà mà ngày ấy họ chỉ biết ngậm ngùi lên núi mà phát - đốt - chọc - tỉa bây giờ đang ấp ủ một ước mơ thật lớn: Đem hàng thổ cẩm và trang phục của phụ nữ Mường Chiềng ra hội nhập làng vải sợi, may mặc và thời trang của cả nước. Chiềng Va bây giờ như thế đấy! Những gì mà ngày ấy tôi nghĩ đó chỉ là giấc mơ thì trong chớp mắt, giấc mơ kia đã trở thành hiện thực. Người Mường Chiềng để dành của cải của mình ở những trang trại rừng. Người Mường Chiềng tích lũy vốn bằng những đàn bò, đàn dê đông đúc, những đàn gia súc, gia cầm dưới tán rừng tái sinh, rừng trồng và rừng của những dự án xóa đói giảm nghèo. Đó là cách "lấy ngắn nuôi dài" mà anh đã từng nói với tôi ngày ấy.
Mế anh. Một người đàn bà không may mắn. Một người tưởng như sẽ bị chết trong mặc cảm, trong yếu đuối và cô đơn đã thoát xác ra, đã vượt qua số phận của mình, không những để được tồn tại mà còn đến được cái đích mà bà đã muốn vươn tới trong cuộc đời mình? Bây giờ bà cũng là một nhân vật tiếng tăm của xứ Mường này. Người đàn bà câm mà trước đây mỗi lần phải giáp mặt tôi đã sợ chết khiếp ấy chính là người phụ nữ đầu tiên đã dám làm cái việc trái khoáy mà tôi từng nghĩ chỉ có những người không được bình thường như bà ta mới làm như thế: Trồng rừng! Người Mường Chiềng từ đời ông, đời cha cho đến đời con cháu vẫn chỉ phá rừng. Chưa có ai nghĩ đến việc trồng rừng! Người Mường không sống du cư như người Mông, người Dao trên các vùng núi cao, nhưng sản xuất theo lối du canh cũng không thua kém họ. Người ta đã phá đi cả những khu rừng nguyên sinh có những cây lim xanh, một loại gỗ quý hiếm mà ở các nước khác người ta phải thực hiện phương pháp bảo tồn gen để phát triển nhưng ở nước ta lại có rất sẵn ở Mường Chiềng để lấy đất trồng ngô, trồng sắn. Rừng bị đốt phá, một cơn lũ quét tràn qua, lớp đất mầu bị rửa trôi chỉ còn trơ lại những tảng đá. Không còn đất mầu để tra hạt ngô, hom sắn xuống nữa thì để đấy cho nắng hun, cho gió thổi rồi lại đi phá những khu rừng khác. Một năm sau khi anh nhập ngũ, bà địu đứa cháu ốm đau quặt quẹo trên lưng lên đồi. Bà cần mẫn trồng những cây giống, những hom luồng vào các hố đất hai mế con anh đã đào sẵn trước cả sự cố mà tôi đã gây ra cho họ. Rồi cứ thế, bà dần dần nắm lấy những bàn tay thô ráp, chai sần, vì quanh năm chỉ biết phá rừng làm lủ, làm rẫy vì vậy mà cũng quanh năm phải chui rúc trong rừng để đào củ, nhặt rau, hái quả cho qua bữa, qua ngày. Bà đã dẫn họ lên đồi trọc để trồng rừng, nuôi rừng, để trồng luồng, trồng cây lim, cây lát mà hồi ấy lẽ ra một đứa con gái Mường Chiềng như tôi cũng phải làm như thế, nhưng tôi đã không làm. Tôi, anh và người đàn bà tật nguyền kia là ba con người có thân phận rất khác nhau. Anh đã tưởng rằng: Chúng tôi có thể gắn bó lại với nhau rồi cùng đi đến cái đích cuối cùng ở xứ Mường Chiềng, nhưng anh đã không đủ sức để giữ tôi ở lại. Mế anh thì không thích đem tôi về đặt bên cạnh con trai mình. Có lẽ bà thấu hiểu tôi. Tôi sẽ không đem hạnh phúc đến cho con trai bà. 
Chung quanh cuộc đời người đàn bà tật nguyền này có rất nhiều chuyện vui, buồn: Tạo hóa đã cho bà một khuôn mặt xấu xí sau một lần mắc bệnh đậu mùa lại cướp luôn của bà giọng nói, vì vậy mà bà đã câm lại có khuôn mặt đen thui, rỗ chằng rỗ chịt, hai hàm răng hô, đôi mắt to thao láo. Thời con gái không gã trai Mường Chiềng nào có đủ gan cưới cô gái Câm ấy làm vợ. Không có chồng nhưng cô Câm cũng đâu có chịu sống cảnh cô đơn cho đến tận cuối đời? Mặc cho gia đình cấm đoán. Thây kệ cho lệ làng khắt khe. Cô gái Câm ấy vẫn muốn được làm mẹ. Cô Câm không chửa hoang. Nếu chửa hoang, cô sẽ không có lợn béo, trâu to, rượu cần, nếp cẩm mà nộp vạ cho làng. Thay vì được ăn cỗ phạt vạ đứa con gái hoang thai, người làng Chiềng Va và cả xứ Mường Chiềng lại được chứng kiến một chuyện rất lạ đời. Cô gái Câm chửa hoang với gió!
Vào mỗi buổi chiều, cô gái câm đi lên đồi Pưởi păn phía sau làng Chiềng Va, một khu đất trống, đồi núi trọc chang chang nắng và triền miên những cơn gió mồ côi. Cô gái Mường Chiềng lang thang trên đồi trọc cho đến tận buổi hoàng hôn nhạt nắng mới trèo lên một mỏm đồi cao nhất của khu đồi trống, núi trọc ấy rồi đứng nhìn. Cô đứng nhìn và rưng rưng nước mắt vì tiếc thương những khu rừng đã bị con người dồn đuổi vào tít tận chân những ngọn núi đá vôi trầm mặc bị khuất lấp dưới những áng mây mù mịt mà tầm mắt nhìn không tới được, rồi nhìn xuống làng Chiềng Va hiu hắt nắng chiều. Cô đứng ở đấy rất lâu. Lâu đến mức không ai đủ kiên nhẫn mà đợi xem cô gái câm xấu xí ấy đã lên đồi và đứng đấy làm gì? Đợi chờ ai? Cô gái đứng đấy cho đến khi mặt trời xuống núi, ánh nắng đã dịu lại rồi mới thong thả cởi dón, cởi tênh, rồi cởi váy, cởi cóm. Một bóng giai nhân hiện ra lồ lộ trong buổi hoàng hôn đang xuống. Cặp vú tròn trịa trinh nguyên. Đôi chân dài thẳng tắp. Đôi tay thon nhỏ, mềm mại. Mái tóc dài tha thướt bay bay trong gió chiều mát rượi của buổi hoàng hôn đỏ rực đã tạo thành một bức tranh tuyệt đẹp mà một danh họa thiên tài nào đó của thế gian này còn chưa được sinh ra nên đã bỏ lỡ mất khoảnh khắc đẹp thánh thiện, nguyên sơ ở cõi trần tục này đã bất chợt hiện ra nguyên hình trong khoảng không gian chập chờn của một buổi chiều hoang, trên một ngọn đồi hoang hoải. Cô gái câm xấu xí ấy đón hướng gió nồm lên rồi rất nhẹ nhàng, cô nằm xuống cỏ. Suối tóc mềm đen nhánh xõa rộng, đôi chân dang rộng. Cặp vú tròn nhô cao. Hai núm vú nhỏ xinh đỏ hồng khẽ rung lên theo nhịp đập của trái tim người con gái. Vùng kín giữa đôi chân dang rộng của nàng Câm như là một bông hoa đẹp dần dần hé nở. Cô gái Câm nằm ở đấy cũng rất lâu. Cả làng Chiềng Va như có chuyện động rừng. Đàn bà con gái không dám ngửng mặt lên mà nhìn nhau. Đám đàn ông, trai tráng không dám đi theo những con đường mòn vắt ngang, xẻ dọc qua khu đồi trọc ấy để về làng. Tại sao,  cái con Câm kia cứ phải lên đồi Pưởi păn mà làm tình với gió? Cô Câm cười: Chỉ là tại gió thôi! Mỗi lần cô lên đồi là gió quấn quýt cô như một người bạn, mơn trớn trên da thịt cô như một người tình. Cô cũng yêu những cơn gió. Cô là đàn bà! Đàn bà thì xấu, đẹp gì cũng vẫn muốn được yêu! Cô rất muốn có một đứa con! Người đàn bà muốn đẻ con là chuyện không sai! Cô là người xấu xí, tật nguyền. Nếu cô không có một đứa con của chính mình, sau này cô già rồi, người già chân run, gối mỏi thì ai sẽ là người chăm sóc cho bà ta? Ai cho bà ăn miếng cơm? Ai cho bà uống bát canh? Ai là người đưa đường, dẫn lối cho người già khi đã chết về ở Mường Trời với Mụ Dạ Dần linh thiêng bằng những câu mo Mường mà bây giờ còn sống bà ta đã rất thích nghe? Không ai cả! Vậy thì cô Câm làng Chiềng Va muốn có một đứa con, cô muốn được tự mình làm chủ lấy cuộc đời mình. Như thế thì có gì sai đâu? Người làng Chiềng Va nghĩ đi, nghĩ lại: Cô Câm không sai! Nhất định thế rồi! Nhưng cô câm không có chồng thì làm sao mà có được một đứa con? Cô Câm vui vẻ kể lại bằng ngôn ngữ của người câm: Vào mỗi buổi chiều, cô lên đồi, nằm xuống cỏ để đón những cơn gió thổi mát rượi rồi ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, cô khát khao và đón nhận. Cô rên rỉ vì khoái cảm và hạnh phúc. Cô sung sướng vì mình đã được lả lơi, được hủ hóa với những cơn gió trên đồi hoang. Kể xong. Cô cười. Chuyện lạ? Rồi một chuyện rất thần kỳ đã sảy ra làm kinh động cả xứ Mường Chiềng. Cô gái Câm của làng Chiềng Va có chửa! Cô gái đã hoang thai với những cơn gió. Chỉ thế thôi! Nếu làng muốn bắt vạ thì cô cũng chả có gì để mà nộp vạ. 
Chuyện người đàn bà làng Chiềng Va có chửa với gió làm người ta lo lắng. Người già lo, sợ đến mất ăn mất ngủ: Thần Gió đã đến Mường Chiềng! Thần Gió là con trai Mụ Dạ Dần ở Mường Trời. Nếu Thần nổi giận ắt sẽ thành bão lớn. Mường Chiềng đã trải qua nhiều cơn bão lớn. Bão quét qua làng, nhà cửa sẽ bay biến hết. Mùa màng mất sạch. Thêm lũ ống, lũ quét từ trên đồi trọc tràn xuống nữa thì sẽ không còn làng cũng chả còn người. Nếu không muốn Thần Gió nổi giận đùng đùng mà thành bão lớn thì hãy im mồm, im miệng! Người làng Chiềng Va đành phải im mồm, im miệng theo cách của người già nhưng cả xứ Mường Chiềng vẫn thấp thỏm lo. Người ta nín thở suốt cả thai kỳ của cô Câm để xem rồi đây chuyện gì sẽ sảy ra ở xứ Mường này? Đứa con của Thần Gió được hoài thai từ một người mẹ xấu xí ấy là một thiên thần hay là đồ ma quỷ? Ơn trời! Mụ Dạ Dần linh thiêng đã phù hộ cả xứ Mường này! Đứa trẻ sinh ra không phải là ma Xó, ma Lang, cũng không đen thui, xấu xí giống mẹ. Thằng bé cũng không bị câm, bị điếc bẩm sinh. Mới ra khỏi bụng mẹ, nó đã cất tiếng khóc oa oa, khóc váng cả nhà hộ sinh khiến cho những ngọn gió chiều cũng lao xao mừng rỡ rồi kéo xuống cả một cơn mưa rào mát rượi. Thằng bé nặng tới bốn cân hai, trắng trẻo và đẹp như một thiên thần trong truyện cổ tích của người già. Bao nhiêu lo lắng của người Mường Chiềng đã tan biến đi trong cơn mưa rào mát rượi của buổi chiều hôm ấy.
Hai mươi tuổi, trong cái đầu lúc nào tóc cũng rối bù của gã con hoang đã bất chợt manh nha một ý tưởng khá điên rồ. Khá nói với tôi là người Mường Chiềng có thể thoát nghèo bằng chính tiềm năng sẵn có của mình. Đó là đất đai, là núi trống, đồi trọc, là nguồn lao động rất dồi dào: Nguồn lao động này là những cô gái như tôi, các chàng trai như hắn... Điên thật! Nghe xong tôi đã không chịu nổi nữa là người già, là đàn bà, đàn ông, những người mà cuộc sống của họ vốn đã giống như lối mòn trên đồi trọc, nếp nghĩ của họ cũng đã trơ lỳ ra như đá dưới khe, dưới suối mà hắn vẫn muốn bàn với họ chuyện đất thấp, trời cao này hay sao chứ?  Chết toi, chết tiệt! Tôi không tin anh ta là con của Thần Gió. Khá chỉ là một đứa con hoang!  Đã là con hoang thì cũng nên biết thân phận của mình. Mế anh ta cũng thế! Đã câm tịt thì cứ câm luôn đi cho xong việc. Trồng rừng! Quả là một chuyện nực cười! Rừng đấy chứ đâu! Xứ Mường này chả là rừng thì là cái quái gì? Từ bao nhiêu đời nay người ta chỉ phá rừng chứ có ai nói đến chuyện trồng rừng bao giờ đâu mà anh ta dám? Đất trống, đồi núi trọc kia là áng thả trâu, thả bò của cả Mường này. Trâu bò vẫn thả rông trên núi, chúng muốn ăn đâu thì ăn, muốn ngủ đâu thì ngủ. Chúng chỉ là đồ súc vật. Làm cách nào mà bảo được cái đồ súc vật kia là chúng phải tìm cỏ rừng nào? Đừng đến núi nọ mà hãy đến núi kia? Vậy mà trước khi tôi đem con gái mình về, ấn vào tay anh ta thì trên những khu đồi hoang ấy đã được cả hai mế con cắm xuống những hom luồng và đã đào cơ man là hố để trồng cây lấy gỗ. Hai mế con kẻ câm, người điếc này đã trồng được một đồi luồng khoảng vài nghìn gốc. Chỉ còn mươi ngày nữa là anh ta lên đường nhập ngũ. Đùng một cái: Có một đứa trẻ sơ sinh từ trên trời rơi xuống giữa sàn nhà! Thật đáng đời! Nửa đêm, nghĩ đến chuyện này tôi đã nghiến răng kèn kẹt rồi phá lên cười. Tôi cười, khiến cho thằng đàn ông đang nằm bên cạnh co cẳng đạp tôi lăn xuống đất! Đến nước này thì hai con người khốn khổ ấy hết đường mà mơ mộng hão huyền! Gió đã hãm hiếp người phụ nữ câm kia trên đồi hoang như thế nào? Tôi không thèm biết. Tôi lạ quái gì chuyện một người đàn bà bị một thằng đàn ông nào đó hãm hiếp? Cũng như tôi, khi đã chửa ra rồi thì phải tìm cách gì đó mà thu xếp cho ổn thỏa, chỉ thế thôi. Mụ đàn bà xấu xí này rất khôn ngoan. Mụ ta còn ranh ma hơn cả tôi nữa là đằng khác. Đổ tội cho gió là xong hết mọi chuyện! Tôi lại cười cay đắng. Tôi cười ha hả, cười nghiêng ngả. Thế là tôi lại bị ăn luôn một đạp nữa. Tôi rất căm gã con hoang ấy! Nếu như cái ngày hắn ngỏ lời là muốn cưới tôi làm vợ, gia cảnh của hắn khấm khá như bây giờ thì tôi đã nhận lời lấy hắn. Cuộc đời tôi cũng đâu có ra nông nỗi này? 
Tôi vẫn nhớ, những năm hắn đang hăm hở trồng rừng, thanh niên, trai tráng khắp nơi nườm nượp lên đường ra mặt trận. Anh ta cũng hào hứng viết đơn. Ai cho cái thằng không bố ấy đi đánh Mỹ mà cũng muốn mơ! Đầu năm bảy mươi, gã trai Mường ấy lại tiếp tục viết đơn xin ra mặt trận. Đơn của anh ta được viết bằng máu hẳn hoi, lại có thêm chữ ký của người đàn bà câm kia nữa! Bà Câm ấy đã cam đoan rằng  mình vẫn còn khỏe mạnh, còn có thể tự lo được cho mình, xin cứ để cho con bà lên đường đi đánh giặc cho bằng với anh em. Bằng với anh em kia đấy? Anh ta chỉ là một đứa con hoang mà muốn được bằng ai chứ? Tôi đã gào lên rồi vừa cười, vừa khóc khi nghĩ đến chuyện này. Đơn xin nhập ngũ của anh ta đã được chấp nhận. Chỉ mươi ngày nữa là anh ta lên đường thì tôi bế con gái mình về ấn vào ngôi nhà ấy. Hẳn là giấc mộng bằng anh bằng em của cả hai mẹ con anh ta sẽ tan ra thành mây, thành khói. Nhưng khi nhìn thấy con trai như sắp lên cơn co giật lúc tôi đặt đứa trẻ sơ sinh xuống sàn nhà, người đàn bà kia đã toét miệng ra cười để vỗ về con. Bà ta vừa xốc cái bọc chăn có đứa trẻ lên tay khi tôi mới bước chân xuống hết chân thang vừa ú ớ nói gì đó mà chỉ có anh ta mới hiểu được. Mươi ngày sau đó, gã con hoang vẫn lên đường như không có chuyện gì sảy ra.
Sáu năm sau, anh trở về làng Chiềng Va sau khi đã để lại ở cửa ngõ Sài Gòn  hôm quân ta tiến vào cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập một cánh tay. Khi người thương binh ấy trở về làng thì con gái của anh đã vào học lớp Một trường làng. Mẹ anh đã nuôi cháu nội để con trai bà yên tâm lên đường đánh Mỹ. Hai bà cháu đã rời ngôi nhà sàn xiêu vẹo có cái cầu thang bằng luồng để vào ở hẳn trong đồi. Người làng Chiềng Va cũng lần lượt theo bà lên đồi trọc trồng cây. Những năm sau đó nữa, người làng Chiềng Va đã nhìn anh thương binh cần mẫn gánh cây lên đồi trọc hàng ngày. Người làng Chiềng Va không chỉ đứng nhìn mà cũng làm theo. Hơn mười năm sau khi anh thương binh ấy trở về làng thì người làng Chiềng Va đã phủ xanh được hết đất trống đồi núi trọc của mình. Họ đã cùng với mế con anh tìm được lối thoát nghèo bền vững cho xứ Mường Chiềng.
Tôi không thể trở về làng Chiềng Va được nữa. Bởi vì anh đã có một gia đình yên ấm. Con gái tôi bây giờ đã là một bác sĩ. Nó cũng đã lấy chồng ở làng Chiềng Va, ngôi làng có những con đường bê tông thẳng tắp. Một ngôi trường Tiểu học ba tầng khang trang, một trạm Y tế với gần hai chục giường bệnh mà nó là Bác sĩ Trưởng trạm ở đấy. Anh đã nói cho nó biết mọi chuyện trước khi con bé lấy chồng và anh đã khuyên nó đi tìm tôi. Tôi đã không dám gặp con bởi vì tôi chỉ là một kẻ lạc loài...
            

H.T.C.A


(*) Khá: cũng có nghĩa là hắn, là tay ấy, thằng kia. Một cách gọi không được thân mật lắm.


Các tin liên quan

Quảng cáo
Album
Liên kết website
Thống kê truy cập
 Đang online: 2
 Hôm nay: 47
 Tổng số truy cập: 80605
Cửa sổ văn hóa
  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 02373.859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: vnxuthanh@yahoo.com.vn - tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 162/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 23/5/2017
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa