Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Truyện ngắn   /   Lóng lánh mắt mưa (Truyện ngắn dự thi)
Lóng lánh mắt mưa (Truyện ngắn dự thi)


VŨ QUANG TRẠCH 

Lóng lánh mắt mưa

Truyện ngắn dự thi

Dân xóm tôi còn nhớ tối hôm đó nhà cụ Nhân thêm ngọn đèn và bàn nước đặt ngoài sân, thấp thoáng người ra người vào. Cụ đang lâm chung, thều thào ý nguyện gì đó mà các con băn khoăn lắm... Nhưng trong lúc này không ai to tiếng, chỉ lặng lẽ buồn thương. Nghe loáng thoáng cụ dặn dò về nơi an táng nhưng nhà đang đắn đo, lưỡng lự. Người em út nhỏ nhẹ: “Ý bố thế ta nghe bố, nhưng còn họ hàng, làng xóm nhìn vào, người... trâu... liệu có thuận lẽ không?”.         
Từ trước tới giờ, làng tôi hễ cứ có việc gì tụ tập, hoặc như giỗ chạp, đám xá người ta hay nói đến chuyện con trâu. Mà nói đến chuyện trâu là nhắc đến cụ Nhân. Bây giờ vẫn thế, những câu chuyện về cụ, về trâu cứ lan truyền, từ già đến trẻ, thế hệ này qua thế hệ khác, xóm này sang xóm khác mặc dù con trâu và cụ cũng đã về với tổ tiên. Các cụ cao niên thường mở đầu: “Hôm ấy tôi theo ông Nhân...”. Tầm tuổi trung niên thì: “Tôi nghe bố tôi kể lại...”. Còn cánh trẻ bây giờ: “Cụ tôi nói thế này...”. Cứ thế chuyện luôn được dân làng nhắc nhớ mặc dù thời buổi “chuyện mạng đu trend” lên ngôi.
Các cụ dong trâu thường kể lại, đận ấy hợp tác xã điều động hơn chục con trâu đi vùng khai hoang cách làng mươi lăm cây số. Đàn trâu được dong ra đường quốc lộ. Chúng lủng lỉnh theo nhau. Con trâu Cui nhà ông Nhân tỏ ra có bản lĩnh cứ hiên ngang đi trên đường nhựa, thỉnh thoảng nó ngoái đầu trở lại rồi chậm dần về cuối đàn... 
Đêm ấy ở nhà, ông Nhân buồn lắm. Phần vì thương Cui, phần vì không nghe tiếng khua gióng chuồng lộc ngộc đòi rơm quen thuộc. Nhớ lại ngày ấy, vợ chồng ông nghèo lắm, con trâu chỉ là ước ao. Thế rồi anh ông đi lính Tây trở về, cho một bộ com lê vải dạ màu rêu xám rất sang trọng. Ông bàn với vợ: “Mình cả đời chân đất áo nâu, chả đi đến đâu mà mặc com lê, ta mang đổi nó cho nhà ông cửu Tam lấy con nghé một năm tuổi”. Hôm sau ông đến nhà cửu Tam. Cửu Tam đồng ý nhưng còn vặt vòi vợ chồng ông Nhân phải đi làm không công cho nhà ông ta một tháng để bù vào phần chênh lệch. Do đã quen nên con nghé ngoan ngoãn theo vợ chồng ông về nhà. Nó càng lớn càng vâm váp, lực lưỡng. Ông xâu vánh, buộc thừng. Bộ sừng mập múp, lại có dáng cánh ná vểnh lên, vượng thế phá cản nên cánh thợ cày trong làng gọi nó là con Cui... Miên man nhớ Cui, ông thườn thượt thở dài, chỉ mong nhanh hết tháng để trâu nhà mình trở về. Khuya, sao Thần Nông đã cúi xuống sát tận đồng làng, tán dừa đen mờ khua gió lao xao. Vẫn đôi guốc mộc lộc cộc đi lại trong ánh đèn dầu đỏ quạch mà không sao ngủ được. Ông ngước nhìn về khoảng trời sao phía Bắc, chả biết bây giờ con Cui đang lầm lũi ở đoạn nào, đã qua hai cây cầu sắt hay chưa? Mong sao bộ móng của nó đi trên đường không bị vật nhọn mà trầy xước, nhói đau.
Tờ mờ sáng hôm sau, ngay trước cửa ngõ nhà ông Nhân, người ta thấy con Cui đói hóp xương hông đầu hướng vào nhà run lẩy bẩy, sừng còn dính đầy rễ bèo, bớn cỏ. Mọi người vội theo nhau chạy đến, con Cui hít hít tỏ vẻ mệt mỏi. Cái đầu nó khẽ ngúc ngoắc, hai tai giật giật. Họ lay cổng gọi ông Nhân, nhận ra ông mắt Cui chớp chớp liên hồi. Ông cuống lên, dắt vội Cui vào sân, lấy củi đốt đống lửa ngay bên cạnh để sưởi ấm. Cả xóm không hiểu tại sao Cui lại tách đàn trở về làng. Đôi sừng dính bèo, quấn bớn chứng tỏ nó đã sợ hai cây cầu sắt nên bơi qua sông trong đêm đông giá rét. Mọi người xuýt xoa: “Tội nghiệp nó! Có lẽ không thể xa ông Nhân được nên mặc dù đêm tối Cui vẫn rời xa đàn trâu, quay về làng, nơi nó đã sinh ra, lớn lên, cày kéo và đói no cùng với dân làng. Nó muốn được ở bên người đã quát tháo nó, cưỡi trên lưng nó, kỳ cọ tắm rửa, vuốt ve, nựng nịu và bao lần tự tay cho vào miệng nó những chiếc bánh lá nóng hổi, thơm phức của người ăn trong ngày đầu năm mới”. 
Nghe tin con Cui bỏ đàn trở về trong đêm, chủ nhiệm hợp tác tức tốc đến ngay nhà ông Nhân. Bao nhiêu uy quyền không nói được với nhóm dong trâu, với con Cui, ông dồn hết vào người nuôi. Chủ nhiệm đanh giọng: “Yêu cầu ngay hôm nay ông đưa con Cui trở lại nhập đàn trên khu khai hoang”. Nghe thế ông Nhân từ tốn: “Chủ nhiệm nói vậy nghe khó lọt tai lắm, nó đang rất yếu. Việc để trâu quay về là việc của nhóm dẫn trâu, tôi không can thiệp. Nó là con của, thuận theo mình là mình được nhờ, bằng như nó không nghe thì mình phải chịu. Tôi có dụ nó quay về đâu mà chủ nhiệm bắt tôi đưa nó trở lại với đàn”. Chủ nhiệm đỏ sọng mắt áp đảo: “Nhưng nó là trâu nhà ông, ông phải có trách nhiệm”... “Tôi chỉ biết giao nó cho mấy người, nó theo đàn hay không, tôi làm sao biết được. Việc này hợp tác phải xử lý, giờ tôi dẫn nó đi mà nó vẫn quay về thì làm sao?”. Điên tiết quá chủ nhiệm gằn gọc: “Ông đã nói như thế chúng tôi không điều trâu nhà ông đi nữa và ở đây cũng không cần. Cày bừa bí quá mới huy động. Phần rơm mùa vụ cho hưởng bằng một phần ba các con khác”. “Chủ nhiệm làm thế là phải tội đấy. Nó là vật nuôi nhưng cũng cần công bằng trong công việc, trong chăm nuôi, nó cũng thấm đầy hạt nắng, hạt mưa trong mắt... Chủ nhiệm suy nghĩ lại đi”. “Tôi quyết thế đấy, đội sản xuất cứ thế thực hiện”. Mệnh lệnh uy lực của chủ nhiệm đã đến đỉnh điểm căng thẳng, ông Nhân nói: “Được rồi, để xem tôi cùng trâu có chết đói không... Ông là chủ nhiệm ông cứ thực quyền”. Chủ nhiệm bỏ đi. Ông Nhân giận tím mặt nhưng nén lòng im lặng.
Biết sẽ không được cày bừa thường xuyên nữa, ông Nhân thường cho bà con trong làng, những nhà không có trâu bò mượn Cui để cày ruộng phần trăm. Ông tậu một chiếc xe kéo rồi tập cho trâu. Cui ngoan ngoãn nghe lời ông, vài hôm đã thạo ngoắc sừng vào vai càng xe. Từ đó bà con trong làng cần chuyên chở gì là gọi xe trâu nhà ông. Ai có tiền trả tiền, ai chưa có đến mùa trả bằng thóc. Mùa mưa nhiều cỏ ông đi cắt cỏ, mùa gặt đến, mỗi buổi tối, sau khi đội sản xuất chia rơm xong, bà con gánh về dọc đường rơm vương vãi nhiều, ông Nhân chế một chiếc cào bằng sợi thép, mang đôi chành tre, chiếc đòn gánh đi vơ rơm, gánh về rũ sân phơi rồi lại đi tiếp. Cứ thế rơm khô đánh đống cho Cui chả kém gì rơm của các trâu khác.  
Ở làng quê, cày kéo thường rảnh rỗi khi đã qua vụ. Trừ vài nhà sắm xe đi chở vật liệu còn đa số trâu bò được rong rỉnh bãi đồng. Cui lại đang “chung thân thụ án” nên ít việc. Đầu làng có triền đồi Bái thoai thoải dốc, lâm nghiệp không trồng cây vì nhiều đá mồ côi. Nhìn triền đồi bỏ hoang, ông Nhân nảy ý tưởng táo bạo. Một hôm ông gặp giám đốc lâm trường trình bày: “Báo cáo giám đốc, tôi dân làng Trung, đầu làng tôi còn triền đồi Bái, lâu nay bỏ hoang chưa trồng cây gì, xin lâm trường cho tôi được khai khẩn để dung dưỡng môi sinh quanh làng, có cây xanh cản bớt gió Lào, gió bấc, cư dân mát mẻ, ấm áp và con cháu chúng ta sau này hưởng chút lộc cây”. Giám đốc lâm trường thấy ý tưởng hay nên đồng tình: “Ông trồng được cây phủ xanh đất trống đồi trọc là tốt quá rồi. Trong lúc lâm trường cũng đang muốn phủ xanh triền đồi Bái nhưng hiềm nỗi nguồn lực có hạn. Lâm trường đồng ý cho ông khai khẩn trồng cây lâm nghiệp, chúng tôi không thu gì cả và sẽ cấp đủ giống cây cho ông trồng. Ông Nhân mừng lắm, ông bắt đầu làm ngay.
Mùa mưa qua, trời còn ẩm ướt nhưng đã hây hẩy heo may. Tiếng côn trùng ran ran từng ngõ xóm. Ông Nhân xách chiếc đèn chai đi xuống chuồng trâu. Nhìn thấy ông, Cui lách đầu ra khỏi gióng chuồng hít hít. Mắt nó lóng lánh chớp chớp như hút hết ánh đèn vàng, rỏ thành từng giọt trong lòng ông Nhân... Bàn tay ông vỗ vỗ má nó âu yếm: “Có lẽ ta và Cui sẽ phải cải tạo triền đồi Bái thành đồi cây cho làng xóm, cho mai sau, Cui cùng ta cố gắng nhé”. Nói rồi ông xách đèn rời cửa chuồng. Cui lắc xắc đôi sừng gõ gióng chuồng nhìn theo ông. Ngay sáng hôm sau ông Nhân cùng Cui ra triền đồi Bái làm đường, đào đá bao tường khu đất rộng chừng hơn dăm héc ta. Những ngày đào, dọn đá là những ngày quá vất vả. Không có mưa, đất đồi quánh chắc, chỉ làm một lúc cả người và trâu đều háo nước. Cui đứng xều bọt mép thở hồng hộc. Biết thế ông Nhân tìm hòn đá to, phẳng, đục lõm sâu như cái mướng rồi đổ nước vào đó. Ngày ngày đi làm mang theo hai vèo nước bằng ống bương to, một vèo cho trâu một vèo cho người. Những hòn đá to như nồi hông, ấm vồm được ông lăn, bẩy lên xe. Cứ đầy xe lại kéo đi xếp thành tường bao xung quanh. Nửa năm sau cả triền đồi, đá đã được nhặt sạch. Rồi ông cùng Cui dong xe vào lâm trường Hà Lam lấy giống cây sến mật về trồng. Ông tính toán cứ dày dày một chút sau này những cây bị lụy, sâu còi cọc là vừa. Trồng đúng dịp mưa đầu mùa, giống sến mật phát triển đều đều. Vài năm sau người ta đã thấy triền đồi Bái, sến mật cao hơn đầu người mơn mởn vươn ngọn, tỏa nhánh. Cây nào cây ấy vỏ thân nhẵn mịn dần dần khép tán xanh biếc trông rất thích mắt. Mỗi lần ra ngắm đồi sến ông Nhân lại miên mải tự nói với mình: “Nếu không có Cui chắc không thể cải tạo được đồi đá này thành đồi cây”.
Cũng vào năm đó, gần năm chục quả bom nổ chậm ném vào làng và đường giao thông trước làng. Ngay lối ngõ độc đạo nhà ông Nhân có một quả. Bốn cánh nó xòe rộng như cái nong to chắn hết cửa cổng. Con Cui đang trong chuồng sát cạnh cổng. Phải cứu ngay, dắt nó xa khỏi quả bom. Ông lao ra, tức tốc gỡ thừng gay trên sừng trâu và kéo ra khỏi chuồng. Nhưng đi lối nào đây? Qua cổng thì quả bom đã chắn? Một thoáng luống cuống, bỗng ông nhận ra cái khe hẹp giữa tường cánh nhà trên và tường đốc nhà dưới, mỗi bức tường đều cao quá đầu người, ông quyết định kéo Cui qua đó để lên núi. Lối này nhỏ hẹp, chỉ vừa đủ cho người đi ra vườn sau. Quá sức tưởng tượng! Thế mà lúc ấy, không hiểu sao Cui to kềnh như thế lại ngoan ngoãn, chịu đau đớn cho ông kéo qua. Cui thân thương, đã gắn bó, tin tưởng ông đến mức cùng cảm nhận được sự hiểm nguy đang phải đối mặt. Nhìn chủ hốt hoảng, cuống cuồng và nó hiểu phải nghe theo ngay. Cui gồng mình, hóp xương hông lại, đạp chân từng bước cho mạn hông trượt theo hai bức tường, thở phì phì, trợn mắt đau đớn rồi trượt qua. Vừa ra khỏi khe hẹp ấy chừng mươi mét đến gốc cây dừa cao thì quả bom nổ. Chớp giật, mảnh bom lia, cành cây gẫy răng rắc, Cui chồm lên, quỵ hai chân trước che ông Nhân nằm sấp gọn dưới khoảng ngực nó. Từ trên cao, một chùm quả dừa to bị mảnh bom lia rời khỏi cây, văng xuống rơi trúng giữa lưng Cui. Quá đau đớn nhưng nó vẫn cố gượng đứng thẳng hai chân trước. Ông Nhân từ trong khoảng ngực Cui trườn ra. Ông áp má mình vào má Cui, cứ thế nước mắt chảy giàn giụa... Ngay sau đó, mặc dù hai mái ngói nhà bị bom vỡ gần hết nhưng ông Nhân bỏ kệ mọi việc để lo cho Cui. Ông nhờ thú y đến xem. Biết Cui chỉ đau, không gãy xương, không tổn thương phần bụng ông mừng lắm. Ông lấy lá tướng quân, lá cúc tần hơ nóng chườm ngay. Cho Cui uống nước dừa, nước cam thảo. Làng bị bom được nhà nước hỗ trợ mỗi hộ vài yến ngô răng ngựa hạt to của nước ngoài viện trợ, ông nâm lên múc trước cho người, phần còn lại bỏ vào cối giã nhuyễn hòa loãng cho trâu. Mỗi lần Cui ăn ông nhìn vào mắt nó rồi thầm thì: “Cố ăn đi, ta và Cui đều là trời sinh ra, sống chết có nhau, ta mãi mãi bên Cui...”. Cứ thế một tuần sau, Cui khỏe trở lại. Dân làng được vui lây, có người bảo: “Đây là lần thứ hai họ nhìn thấy ông Nhân rơi nước mắt, lần trước là khi báo tử người con trai của ông hi sinh ở chiến trường...”.  
Thấm thoát hơn hai chục năm, theo người làm lụng vất vả mãi Cui đã già yếu, bước đi chậm chạp, hai mắt lúc nào cũng đùn ken, cái đầu không còn ngúc ngoắc vượng sức ngẩng lên như trước. Biết nó đã xuống sức, một hôm ông Nhân nói với đội sản xuất: “Trâu nhà tôi già yếu lắm rồi, đề nghị đội báo với hợp tác, từ nay nghỉ hẳn cày bừa”. Nghe thế đội trưởng bảo: “Tôi sẽ đề nghị cho nghỉ từ vụ này”. Một tuần sau hợp tác thông báo Cui được nghỉ nhưng kèm theo là ý định cho mổ thịt Cui trong hội nghị xã viên sắp tới làm ông Nhân bực tức lắm. Ông gặp ngay chủ nhiệm và nói: “Trâu nhà tôi nghỉ là nghỉ, không phải để hợp tác mổ thịt mà rượu chè ngày hội họp”. Mấy tay bợm rượu nghe thế, sốt sắng thúc giục đội sản xuất sớm sớm lên món. Thậm chí có gã còn nói trước mặt ông Nhân: “Nhìn Cui thế thôi nhưng bắp còn chắc lắm, cứ gộc củi mà ninh lên thì bền nhắm ra phết!”. Ông Nhân nổi máu cự lại: “Các ông có còn là con người hay không vậy, nó cày, bừa, xe kéo mang thóc lúa, ngô khoai, của nả về cho mình, bây giờ nó già yếu lại đi giết thịt nó. Cũng như con người chứ, nó đã sống, nó có quyền được chết. Các ông muốn chén, muốn thịt thì ra chợ... Trâu nhà tôi khi nào ngưng thở tôi sẽ đưa ra triền đồi Bái. Không có thịt thà gì hết”.
Mùa đông ấy, Cui không thể bước chân ra khỏi chuồng, phần vì cóng phần vì nó đã quá yếu. Ông Nhân xa xót lắm. Tối nào ông cũng buộc kỹ mấy chiếc bao tải sọc xanh vào lưng, vào cổ cho Cui đỡ run. Ông cho Cui ăn cỏ non, cháo cám, uống nước vo gạo nhưng xem ra sức lực của nó vẫn không chống đỡ nổi với tuổi tác và khí hậu đông ken giá buốt. Vào một đêm đại hàn, nó nằm lịm ngả đầu, thở nhè nhẹ yếu ớt. Ông Nhân xách đèn chai loay xoay soi vào miệng và mắt nó, bỗng Cui ngóc đầu lên, mở to mắt, từ trong đôi mắt ấy nước mắt ứa ra kỳ lạ, gợn trào nhấp nhánh rồi từ từ khép lại. Đầu Cui lả xuống mớ rạ lót chuồng. Cui tắt thở. Sáng ra, ông Nhân nhờ người chặt mấy đoạn cây bạch đàn nhỏ, mở hết gióng, lựa Cui nằm nghiêng, vừa nâng vừa đẩy dần ra khỏi chuồng, dốc càng xe kéo cho Cui lên xe. Ông cùng mươi người đưa Cui ra triền đồi Bái. Ông đen đúa, cao gầy lỏng khỏng đội chiếc nón lá, mặc bộ đồ nâu bạc phếch, cúi xuống sát ngực trâu trông như cái dấu hỏi rỏ đẫm buông giữa nhân sinh. Mấy tay bợm rượu như tự biết mình đã không phải khi gạ gẫm mổ thịt, đứng im lặng nhìn theo chiếc xe đang chở Cui đi. Một người hay thổi sáo trong xóm đi theo, tấu lên bản hồ xừ xang xê cống líu... Đến đồi Bái, tay xẻng, tay cuốc hì hục đào một chiếc hố to rồi dùng con lăn và dây thừng từ từ đưa Cui xuống. Ông nhắc nhở mọi người cố gắng lấp bằng cát mịn, đừng bỏ đá cục, đá sỏi vào mộ. Mộ Cui to dần lên, những hòn đá được xếp bao tròn lại như cái giếng đầy cát. Ông Nhân ngồi tựa vào thành mộ. Bản hồ xừ xang... ly biệt nỉ non. Ông buông một câu như chỉ để mình nghe: “Thôi vĩnh biệt Cui nhé. Cũng xong một kiếp, có sinh tử, có cõi âm dương... Ta thương Cui nhưng an lòng”.
Tôi công tác xa làng, mỗi năm vài lần về thăm. Nghe nói điều áy náy, băn khoăn của mấy anh em trong đêm cụ Nhân lâm chung đã được làm theo tâm nguyện người quá cố: An táng cụ gần mộ Cui. Giữa hai ngôi mộ là hàng cây hoa mẫu đơn núi, cao tầm thắt lưng. Chả biết tự khi nào, dân làng đã nhi nhiên chuyển gọi thành ông Cui, và triền đồi này cũng được gọi là triền đồi Bái ông Cui.
Đầu thế kỷ hai mốt, tôi cùng một nhóm của Tổ chức Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên về khảo sát thực tế, ghi nhận khu sến mật triền đồi Bái sẽ quy hoạch vào vườn sến Quốc gia Linh Quy để gìn giữ, bảo tồn. Chúng tôi đến nơi đã chiều muộn. Quay phim chụp ảnh tìm hiểu bao nhiêu thứ cần thiết, cuối cùng cũng tạm xong. Trời nhá nhem tối lại lắc thắc mưa. Đường triền đồi đã có hàng cột điện chiếu sáng. Ánh sáng đủ để những công việc ra vào khu vườn, bảo vệ, chăm sóc cây quý an toàn, soi rất rõ hai ngôi mộ. Các đồng nghiệp người nước ngoài hỏi tôi về hai ngôi mộ. Tôi tóm tắt câu chuyện diễn ra từ sáu mươi năm qua. Các vị nghiêm cẩn nhìn nhau rồi thốt lên: “Hay lắm! Thật đặc biệt! Rất nhân văn, thiên lương. Có hai ngôi mộ này càng làm cho người ta biết trân quý cội nguồn mà gìn giữ khu bảo tồn thiên nhiên bền vững hơn, sâu nặng hơn...”. Nói rồi, các vị chắp tay giữa ngực, cúi đầu trước hai ngôi mộ một lúc sau mới quay gót. Tôi ngước nhìn bóng điện sáng lối vào triền đồi Bái, những giọt mưa rơi thánh thót mang theo ánh sáng vàng trầm lóng lánh mắt mưa, mắt sinh linh từ trời đang rỏ xuống... 
                Tp Thanh Hóa, 4-2025
                           V.Q.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 73
 Hôm nay: 4267
 Tổng số truy cập: 13891833
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa