Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Truyện ngắn   /   Anh hùng lẻ bóng (Kịch bản văn học)
Anh hùng lẻ bóng (Kịch bản văn học)

THANH GIANG

Anh hùng lẻ bóng 

Kịch bản văn học

Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên

        (Quan hải - Nguyễn Trãi)  
(Họa phúc có manh mối không phải từ một ngày - Người anh hùng để hận tới nghìn năm sau)

Chương 1: Đường đến ngôi Hoàng đế

Thành Thăng Long. Bên trong điện của Thượng hoàng Trần Nghệ Tông.
Thượng hoàng ngả người trên ngai vàng, mắt nhắm nghiền, vẻ mặt mệt mỏi. Hoàng thái phi ngồi cạnh ngai, vòng hai tay ôm chân ngai:
- Ta cầu xin Hoàng nhi đoái thương, che chở cho Lê Quý Ly. Hiện giờ, nhiều đại thần, thân vương hoàng tộc đang tìm cách cản trở, hãm hại cháu của ta. 
Thượng hoàng Nghệ Tông, ngồi thẳng lên:
- Mẫu hậu xem, các tiên đế đều chỉ dùng người trong nội tộc để giao gánh vác việc triều đình. Còn trẫm, trẫm dùng Quý Ly, ngoại tộc, giao trọng trách cho khanh ấy. Quý Ly từ một chức quan võ nhỏ, trẫm đã phong làm Khu mật viện đại sứ, gia phong làm Trung tuyên quốc thượng hầu, lại gả em gái trẫm là Huy Ninh công chúa cho!
- Tạ ơn Thượng hoàng! 
- Sau khi Hoàng đế Trần Duệ Tông, em của trẫm mất, trẫm giao mọi việc cho Quý Ly định đoạt. Hoàng đế Trần Phế Đế nối ngôi, nhưng bất tài, trẫm đã bắt thắt cổ chết. Lê Quý Ly giờ chỉ dưới một người. 
- Tạ ơn Thượng hoàng. Ta vẫn thấy lo lắm!
- Hơn hai chục năm trẫm ở ngôi Thượng hoàng, trải ba đời Hoàng đế, địa vị Lê Quý Ly vẫn vững như bàn thạch. Nhiều kẻ trong hoàng tộc ghét cay, ghét đắng, muốn trừ khử Quý Ly, mà có làm được đâu. Kẻ nào chống Quý Ly, trẫm đều chuẩn cho Quý Ly trừ thẳng tay. Chừng nào trẫm còn là Thượng hoàng thì kẻ nào dám đụng đến khanh ấy?
Tiếng Thái giám tổng quản vọng vào:
- Khu mật viện Lê Quý Ly bái kiến Thượng hoàng!
Thượng hoàng nhẹ nhàng đỡ Hoàng thái phi đứng dậy. Giọng miễn cưỡng:
- Cho vào.
Lê Quý Ly cung kính hành lễ rồi hai tay nâng tấu sớ dâng lên.
Thượng hoàng khoát tay:
- Việc khanh suy tính rồi thì cứ làm. Từ nay, khanh không cần dâng tấu sớ nữa.
- Tạ ơn Thượng hoàng!
*
Công trường xây dựng thành An Tôn đông nghịt người. Những khối đá lớn làm sẵn từ trước nằm ngổn ngang ven chân núi, thợ khai thác đá mình trần hì hụi đánh nêm, cạy bấy những tảng đá lớn trên núi hoặc đẽo gọt các tảng đá thô theo chỉ dẫn của kiến trúc sư. Nhiều tốp thợ khác dùng con lăn, nặng nhọc di chuyển từng khối đá trên đường về thành.
Tại khu xây dựng thành, những người thợ, dân phu đắp đất tạo dốc và dùng dây kéo các khối đá đặt trên con lăn để lắp vào thành. Theo cách đó, bốn bức tường thành được xây cao dần bằng các khối đá có kích thước to, nhỏ khác nhau nhưng đều kết nối, chồng khít với nhau. Vòm của các cổng thành được tạo bằng những khối đá hình nêm, hình múi bưởi, chêm chặt cứng tạo hình vòng cung. 
Riêng tại một đoạn của bức thành phía Đông, những tảng đá cứ rời ra, xô nghiêng, há hoác mạch, có tảng lăn xuống chân dốc đắp bằng đất. Cống sinh Trần Công Sỹ, quan cai thợ, nét mặt rầu rĩ, lo âu, chạy lên, chạy xuống đôn đốc những người thợ đang ngồi bệt trên nền bùn đất. Họ không đứng lên nổi, chân tay bải hoải vì kiệt sức. Đang lúc ấy, viên quan giám sát việc xây thành cùng một toán lính hung hãn ập đến. Viên quan giám sát hô lính trói gô Cống sinh Trần Công Sỹ đang sợ tái xanh tái xám, rồi chĩa gươm vào mặt, gằn giọng:
- Vì cớ gì đoạn thành này cứ xây lên ban ngày thì đến đêm lại đổ? Ngươi dám làm phản sao?
Trần Công Sỹ run rẩy, mặt cắt không còn hạt máu:
- Bẩm... chúng tôi đã cố hết sức, làm cả ngày, cả đêm, nhưng không hiểu vì sao tường thành bị đổ.
- To gan, trốn tội! Ta cho ngươi đi gặp Diêm Vương mà hỏi! Bay đâu! Chém ngay!
Một nhát gươm đưa. Trần Công Sỹ đổ gục trên mặt thành ngổn ngang đất đá do bị sạt lở. Những người thợ lảo đảo cầm dụng cụ làm việc dưới roi vọt của viên cai thợ mới. 
Tiếng kêu khóc từ ngôi làng kề thành phía Đông vọng đến. Nàng Bình Khương tóc tai rũ rượi, váy áo bê bết bụi đất, bước thấp, bước cao, ngã dúi, ngã dụi, đôi tay cào cấu trên mặt đất, lao đến ôm lấy xác Trần Công Sỹ vừa bị chém.
- Ối ông ơi! Ối trời cao, đất dày! Chồng tôi có tội gì mà phải chết thảm thế này! Oan cho chồng tôi! Oan cho chồng tôi! Ông ơi à ông ơi! Hờ hờ... 
Buông xác chồng, nàng Bình Khương uất nghẹn liên tiếp dập đầu, vỗ hai bàn tay vào tảng đá nằm ngay cạnh đó. Máu chảy đầm đìa, đọng thành vũng trên các hốc lõm của tảng đá đen thô ráp dùng làm đá kê đòn bẩy. 
Nghe tiếng kêu khóc, kiến trúc sư Nguyễn An cùng viên quan giúp việc rảo bước đi tới. Họ chỉ kịp nhìn thấy nàng Bình Khương gục chết trên tảng đá, bên xác của người chồng. Gương mặt Nguyễn An đau đớn, u uất. Ông lặng đi hồi lâu rồi vẫy một tên lính lại:
- Ngươi vào làng Đông cho gọi người ra mang xác họ về mai táng tử tế. Nhớ bảo dân làng mang cả tảng đá kia, sau có thể dùng đến.
Hai thầy trò Nguyễn An lặng lẽ quay đi. Viên quan giúp việc bước theo sau, cùng tâm trạng đồng cảm với thầy: 
- Thưa thầy, việc quá lớn lại làm quá gấp. Ngày nào cũng có người chết vì tai nạn. Có ngày nhặt được cả rổ ngón tay, ngón chân bị đá nghiến đứt.
Nguyễn An thoáng quay nhìn người học trò, gương mặt đăm chiêu như vẫn đang nghĩ về điều gì đó. Họ dừng bên một khối đá lớn trượt nghiêng, có một phần lún sâu xuống đất. Từ phía bên kia khối đá vọng sang:
- Tội cho Cống sinh Trần Công Sỹ. Ông ấy hiền lành, gan bé sao làm phản được.
- Ừ, do trời phật không chứng cho kẻ bất đạo, ma quỷ, oan hồn chống phá đấy thôi.
Nghe mấy câu ấy, Nguyễn An như sực tỉnh. Ông cùng viên quan giúp việc bước sang chỗ mấy kẻ đang trạo nhau. Thì ra đây là toán lính canh thợ, lẻn ra chỗ khuất chia nhau một con gà nướng sống, nướng sít. Cả bọn mặt biến sắc, sụp lạy như tế sao:
- Chúng con lỡ lời! Chúng con lỡ lời! Xin đại nhân tha mạng!
- Ta nghe rõ các ngươi nói gì. Đáng tội chết, nhưng ta cho các ngươi có cơ chuộc tội.
- Đa tạ đại nhân! Đa tạ đại nhân! Chúng con xin theo lời đại nhân.
- Các ngươi gọi thợ đến, cùng làm với thợ, đẩy khối đá này ra, rồi đào sâu xuống đất. Ta đồ ở đây có mạch nước ngầm. Nếu các ngươi đào thấy thì mạch nước đó rửa cho đầu óc, rửa cho tâm địa các người khỏi u tối. Việc tìm thấy mạch nước đó cũng minh oan cho Cống sinh Trần Công Sỹ. Ta sẽ cho triệt mạch nước ngầm, còn các ngươi lại đôn đốc thợ xây thành.
Đám lính lạy tạ rồi tất tả chạy đi gọi thợ. Gương mặt Nguyễn An giãn ra, trở lại vẻ điềm tĩnh, tự tin. 
Khi thành An Tôn được xây dựng xong cũng là lúc dân làng Đông lập đền thờ nàng Bình Khương gần bên thành. 
*
Thành Thăng Long. Chính điện. Ngai vàng vắng bóng Hoàng đế. Các quan đại thần tụ tập thành từng đám, phím đàm với nhau, thái độ chán chường, tác phong uể oải, trễ nãi. 
- Các vị xem, theo lệ phải đến chầu mà Hoàng đế lại không thiết triều - Một quan đại thần lên tiếng.
- Từ khi Thượng hoàng băng hà, triều đình ta có Phụ chính Thái sư. Hoàng đế không thiết triều thì có sao đâu?
- Đấy, vừa nhắc đến Phụ chính Thái sư thì Phụ chính Thái sư đến!
Các quan văn võ đại thần nhanh chóng đứng thành hai hàng như khi Hoàng thượng thiết triều.
Phụ chính Thái sư Lê Quý Ly chậm rãi đi giữa hai hàng quan đứng chầu. Khi đến trước ngai vàng, Quý Ly dừng bước, quay người lại, đưa mắt nhìn qua một lượt: 
- Các vị quan đầu triều nghe đây. Hoàng thượng khẩu dụ phải dời kinh về Tây Đô, đóng đô tại thành An Tôn. Bá quan khẩn trương thi hành. Ai chậm trễ bị biếm chức. Ai kháng chỉ bị xử tội chết. Các vị rõ cả chưa?
- Chúng thần tuân chỉ!
*
Từng đoàn ngựa xe nối nhau rời kinh thành Thăng Long. Nhân khi dừng võng, dừng kiệu, mấy viên quan túm tụm lại, lấm lét đưa mắt nhìn quanh. Một người thở ra giọng bất mãn:
- Đang yên đang lành, sao lại dời đô chứ? Thích dời là dời, chẳng ra thể thống gì. 
- Nói là về nơi hiểm yếu phòng khi quân nhà Minh đánh sang, nhưng kỳ thực là sợ không dám ở lại Thăng Long.
- Vậy là nhà Trần ta mất thật rồi!

Chương 2: Thanh gươm hai lưỡi

Trong thành An Tôn. Các quan đại thần, tướng sĩ đứng thành từng nhóm, nhỏ to trò chuyện. Viên quan truyền tin giơ loa thông báo:
- Đến giờ Mùi, các quan đại thần, tướng sĩ hiện diện tại núi Đốn làm lễ Minh thệ. Phụ chính Thái sư đang phê duyệt tấu sớ, trừ việc cấp báo, nghiêm cấm đến gần!
Trần Khát Chân gật đầu với đám tướng sĩ thuộc hạ rồi hô lớn:
- Ta có việc cấp báo!
Trần Khát Chân mặc áo vải, tay không, đi thẳng lên điện của Phụ chính Thái sư Hồ Quý Ly. Toán vệ sĩ canh gác bên ngoài điện vội dạt sang hai bên, nhường lối. Trần Khát Chân đẩy cửa bước vào trong điện. Chỉ có một mình Hồ Quý Ly mặc hoàng bào, ngồi gục đầu trên án thư, bộn bề tấu sớ, nghiên bút. 
Thân thủ nhẹ nhàng, Trần Khát Chân bước nhanh đến trước án thư, lật tà áo rút ra một đoản đao lóa sáng. Bằng cả hai tay, Trần Khát Chân đâm phập đoản dao vào giữa lưng Hồ Quý Ly. 
- Lên! 
Ngay sau tiếng hô như gầm ấy, các toán võ sĩ ẩn nấp trong điện vụt ập đến vây quanh Trần Khát Chân. Trần Khát Chân vứt thanh đoản đao nhuộm đỏ máu xuống nền điện, kiêu hãnh ngẩng cao đầu, mặc cho đám võ sĩ dùng dây trói quanh thân. Toán võ sĩ dữ tợn đẩy vào lưng, đưa Trần Khát Chân đi ra cửa điện.
Cánh rèm hậu điện được vén lên. Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng bước ra đến bên án thư. Máu từ cái xác mặc hoàng bào chảy thành vũng trên mặt án. Gương mặt Hồ Quý Ly tái đi.
- Con thấy cả rồi chứ? Quả là người tạo ra hình nhân giống như thật. Nhát đao mới bạo liệt làm sao! May mà ta lường trước được việc này, bằng không, đại sự đã tan thành mây khói. 
- Cấp báo! Cấp báo! - Tiếng hô vọng vào từ ngoài cửa điện. 
- Cho vào!
Một võ quan chạy vào, quỳ trước mặt cha con Hồ Quý Ly:
- Bẩm Phụ chính Thái sư! Chúng thần đã bắt hết đảng phản nghịch của Trần Khát Chân.
- Chúng không kháng cự sao?
- Bẩm Phụ chính Thái sư! Quân cấm vệ đổ ra vây chặt, chúng thần lại hô: Kẻ nào dám chống thì gia quyến bị tuyệt diệt, bọn phản nghịch đều thúc thủ chịu trói.
- Các ngươi làm tốt lắm! Cho ngươi lui!
Hồ Quý Ly bước đến bên giá đặt gươm, một tay cầm vỏ gươm, một tay rút thanh gươm ra, giơ lên trước mặt:
- Ta dùng thanh gươm hai lưỡi này, để diệt ngoại xâm (chém ngang sang bên trái), trừ nội phản (lia ngang gươm sang bên phải). Trần Khát Chân được ta giao gươm lệnh này xung trận, giết chết Chế Bồng Nga. Các tướng được giao gươm này lên ải đánh giặc Ngô, bắt giết Trần Thiêm Bình. Nay Trần Khát Chân phản ta, gươm này không chém sao được?
- Thưa cha! Trần Khát Chân cùng bè đảng phản nghịch đáng tội chết, nhưng gia quyến Trần Khát Chân thì...
Hồ Quý Ly trừng mắt:
- Xử trí như ngươi thì còn đâu vương pháp! Ta giao thanh gươm này cho ngươi, giờ Ngọ ngày mai điệu hết bọn chúng ra núi Đốn hành hình.
- Thần tuân chỉ.

Chương 3: Cơ đồ trong mộng tưởng

Năm 1400, tại Tây Đô, Hồ Quý Ly truất ngôi nhà Trần, lên làm Hoàng đế, đặt niên hiệu Thánh Nguyên, lập ra nhà Hồ. Hồ Quý Ly đổi quốc hiệu là Đại Ngu, đồng thời, đổi từ họ Lê sang họ Hồ.  
Thành An Tôn. Chính điện. 
Hoàng đế Hồ Quý Ly ngồi trên ngai vàng thiết triều. Nhiếp thái phó Hồ Hán Thương, Tư đồ Hồ Nguyên Trừng cùng bá quan đứng chầu. Hoàng đế Hồ Quý Ly cất lời:
- Bá quan văn võ nghe đây. Nhà Minh tuy đã phong vương cho ta, nhưng vẫn đang rục rịch động binh, lấy cớ “Phù Trần, diệt Hồ” hòng cướp nước ta. Tình thế nước sôi lửa bỏng. Các khanh phải dốc lòng, dốc sức đôn đốc mọi việc ta giao. 
- Quan Tư Đồ Hồ Nguyên Trừng!
- Có thần!
- Khanh mở thêm xưởng đóng chiến thuyền Cổ lâu, đúc Thần cơ thương pháo, lo phòng bị thành An Tôn, thành Đa Bang, gia cố đồn lũy dọc bờ nam sông Hồng, đóng cọc nhọn ở các cửa biển, ở nơi hiểm yếu trên sông lớn!
- Tuân chỉ! 
- Tư mã Nguyễn Ước!
- Có thần!
- Ngươi chăm lo việc tuyển binh theo Kiểm biên dân số trong cả nước. Trưng tập hết số trai tráng trốn việc quan đi ở chùa. Trưng dụng gia nô, nông nô dôi dư ở các điền trang, thái ấp. Lập các kho tích trữ lương thảo, chế thêm nhiều binh khí.
- Tuân chỉ! 
- Tư không Đinh Phúc!
- Có thần! 
- Ngươi giám sát việc thi hành chính sách hạn điền, hạn nô, giám sát việc phát hành, lưu thông tiền giấy “thông bảo hội sao”, giám sát việc thu thuế theo hạn mức, giám sát việc sử dụng cân, thước, đấu theo quy định của nhà Hồ ta!
- Tuân chỉ! 
- Thiếu phó Đường Giang!
- Có thần! 
- Ngươi giám sát việc miễn sưu thuế cho trẻ mồ côi, miễn sưu thuế cho đinh nam không có ruộng, cho đàn bà góa có ruộng, lo đặt trạm y tỳ ở khắp nơi để chữa bệnh cho bách tính!
- Tuân chỉ! 
- Thiếu bảo Hà Phú!
- Có thần! 
- Ngươi chăm lo việc mở trường học ở các trấn, phủ, châu, cấp ruộng cho trường học để nuôi thầy, lựa chọn người tài giỏi tiến cử lên triều đình, chăm lo việc tổ chức kỳ thi cử nhân, bỏ môn ám tả cổ văn, thêm môn toán pháp.
- Tuân chỉ! 
- Kẻ nào không làm tròn bổn phận, kẻ nào cản trở, chống đối đều phải nghiêm trị theo vương pháp.
- Chúng thần tuân chỉ!
*
Năm 1401, Hồ Quý Ly xưng là Thái thượng hoàng, truyền ngôi Hoàng đế cho con thứ Hồ Hán Thương, giao việc quân cho con trưởng Hồ Nguyên Trừng.
Hồ Nguyên Trừng tháp tùng Thượng hoàng Hồ Quý Ly đến xưởng đóng thuyền Cổ lâu. Các tốp thợ xúm xít quanh con thuyền đang đóng dở. Người cưa xẻ, khoan, tiện, bào, đục các tấm gỗ; kẻ lắp mộng, ghép ván tạo khung cho con thuyền.
- Thưa cha! Nhìn bề ngoài, con thuyền này giống thuyền dùng tải lương. Thực ra đây là thuyền chiến hai tầng. Binh sĩ mang khí giới trực chiến ở tầng trên cao. Người chèo thuyền được bố trí ở tầng dưới, có ván gỗ che chắn an toàn. 
Vẻ mặt mãn nguyện, Hồ Quý Ly đưa tay vuốt nhẹ lên thanh gỗ khung thuyền:
- Quả là lợi hại! Ta có chiến thuyền này còn lo gì thủy binh giặc.
Thượng hoàng cùng người con trưởng tài ba đi đến xưởng đúc Thần cơ. Hồ Nguyên Trừng ra hiệu cho các tốp thợ tiếp tục làm việc. Người này đưa đôi tay mải miết thụt bễ. Tàn lửa đỏ bay túa lên từ lò than cháy sáng. Tốp kia nhễ nhại mồ hôi khiêng nồi nấu đồng đổ vào khuôn đúc súng. Gần đó, một tốp thợ khác cần mẫn mài giũa thân súng Thần cơ mới đưa từ khuôn đúc ra. Vài khẩu Thần cơ được đặt trên giá đỡ có bánh xe, oai vệ vươn nòng. 
- Thưa cha! Loại Thần cơ này được cải tiến từ hỏa pháo. Uy lực chưa có thứ súng nào sánh bằng.
- Ta cho phép con lấy số tiền đồng thu được khi thay bằng tiền giấy đem đúc Thần cơ - Vừa vui mừng đấy, Thượng Hoàng thoắt lại trầm ngâm, lo lắng.
- Chiến thuyền, Thần cơ vẫn chưa nhiều mà giặc Ngô đã rập rình ngoài biên ải. Liệu ta có kịp chăng? 
*
Bên cổng Nam thành An Tôn. Đám đông sĩ tử, dân chúng đang xúm xít xem cáo thị công bố danh sách trúng tuyển kỳ thi Thái học sinh, kỳ thi đầu tiên do nhà Hồ tổ chức. Mấy sĩ tử ăn mặc kiểu con nhà quyền quý, vẻ mặt nhâng nháo trạo nhau:
- Huynh có tên trên bảng vàng không?
- Xem mười lần rồi mà không thấy. Thật phí công! Đời thuở nhà ai đưa toán pháp chỉ dành cho bọn thợ vào thi? Xưa đến rày có triều nào xem nhẹ chữ nghĩa thánh hiền?
- Huynh nói chí phải! Cậy quyền, cậy thế mà đảo lộn hết mọi thứ. Các huynh xem, sao lại đề cao thứ chữ Nôm “nôm na mách qué” chứ? Mà này, đề cao chữ Nôm mà lại đặt quốc hiệu là Đại Ngu?!
- Hi hi. Ha ha. Hị hị hị...
Nhóm ba người gồm: Vũ Mộng Nguyên, Lý Tử Tấn, Nguyễn Trãi đứng gần đấy. Lý Tử Tấn bực dọc định chõ sang đối thoại với bọn kia. Vũ Mộng Nguyên túm tay áo, nhẹ nhàng can:
- Lý Tử Tấn huynh! Bọn họ thi rớt, phẫn chí nói càn. Mặc họ.  
- Tôi thấy bực mình. Nhưng thôi. Ba ta đều đỗ để làm quan phục vụ nhà Hồ. Vậy huynh Vũ Mộng Nguyên, huynh Nguyễn Trãi nói xem cách thi của nhà Hồ hay ở chỗ nào?
- Đưa toán pháp vào thi để chọn người tài như kiến trúc sư Nguyễn An, xây được thành An Tôn, xây được Đàn Nam Giao, cánh học tầm chương, trích cú chỉ để ngâm vịnh, khoe chữ với đời thôi - Vũ Mộng Nguyên đáp lời.
- Không hẳn như huynh Vũ Mộng Nguyên nói, cách thi tuyển trước đây vẫn chọn được người tài. Cái khác bây giờ là cần thêm kiến thức của toán pháp. Các huynh xem, đề cao chữ Nôm là đề cao văn hóa, tiếng nói của dân mình, là tự tôn dân tộc, trong khi vẫn học cái hay, cái tốt của người khác, kể cả người phương Bắc. 
- Tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Trãi huynh. Chúng ta đều nghĩ như nhau nên mới cùng đi thi, cùng may mắn thi đỗ kỳ này.  
*
Một khu chợ trong kinh thành.
Kẻ mua người bán không mấy nhộn nhịp. Hàng nông sản có thóc lúa, ngô khoai, rau củ quả, gà vịt, thịt bò, thịt lợn. Hàng thủ công, đồ gia dụng có thúng mủng, dần sàng, nồi niêu, mâm bát, đồ sành sứ. Hàng dệt may có váy áo, chăn màn... Một quầy thu, đổi ngân nằm ở góc chợ. 
Quan Tư không Đinh Phúc cải trang thành nhà buôn, miệng ngậm tăm lông đuôi voi, vai đeo bọc tiền, tay cầm quạt giấy phe phẩy, thong thả dạo chợ. Một viên quan khác giả làm nông phu, vai quẩy tay nải, lơ ngơ đến chỗ này, chỗ nọ, nhưng chỉ xem thôi, không thấy mua bán gì. Xa xa, mấy tốp lính đeo gươm nghiêng ngó bên nọ, bên kia, ra chiều chểnh mảng. Nhưng mỗi khi tay nông phu đổi vai quẩy tay nải, quay lưng về phía nào thì lập tức mấy tên lính ập đến tịch thu hàng, bắt người ở nơi đó. Thì ra người bị thu hàng, bị bắt do mắc tội không dùng cân, thước, đấu theo quy định của nhà Hồ, hoặc vẫn trao đổi bằng tiền đồng mà không dùng tiền giấy. 
Tại quầy thu đổi ngân. Hai gã, một to béo, hung tợn, một gầy gò, gian xảo, đang ép trưởng quầy cùng người phụ tá cho chúng vào thế chỗ. 
- Lui vào trong, chúng tao mượn chỗ đổi hết số tiền giấy này rồi đi ngay!
Khi trưởng quầy cùng phụ tá đi khuất, tên gầy đặt số tiền giấy lên mặt quầy: 
- Mày xem, có giống tiền thật không? Lộ là toi mạng đấy.
- Giống hơn tiền thật ấy chứ. Lộ thế chó nào. Đồ nhát gan!
Nhà buôn - chính là quan Tư đồ Đinh Phúc cải trang - từ bên hông quầy thu đổi ngân đủng đỉnh bước vào:
- Ta muốn đổi tiền đây!
- Xong ngay!
- Một quan ăn mấy?
- Triều đình cho đổi một quan tiền đồng ăn một quan hai tiền giấy. Ông đổi nhiều thì một quan ăn hai. 
Nhà buôn lật xem tiền giấy tỏ vẻ hài lòng, lão đổ bọc tiền đồng ra mặt quầy:
- Các ông đếm đi, ta lấy thêm mấy bọc nữa đổi luôn.
Nhà buôn đi ra ngoài quầy gấp quạt giấy lại. 
Nhận được ám hiệu, toán lính xô đến trói gô hai gã đứng trong quầy, thu tang vật tiền giả rồi điệu chúng đi. 
*
Thành An Tôn. Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng bước từ trong điện ra. Ba người có vệ sĩ theo sau cùng trèo lên mặt thành, gương mặt đăm chiêu, nhìn về xa xăm. Ráng chiều hắt thứ ánh sáng vàng vọt, đỏ bầm lên vòm trời ngổn ngang mây xám.
*
Doanh trại của quân Minh. Bọn lính cầm gươm đứng bao quanh gian lều lớn dựng bằng vải nằm giữa doanh trại. Hai tên lính hộ pháp gác cửa, cửa che kín bằng tấm vải, được vén lên khi có người ra vào. Trong lều, Tổng binh Mộc Thạnh oai vệ ngồi trên sập cao phủ da hổ, hai tên vệ sĩ đeo gươm đứng phía sau, mặt lạnh tanh như tượng. Các tướng chỉ huy giáp trụ chỉnh tề, đứng hai hàng phía dưới. Tổng binh đưa mặt nhìn qua một lượt:
- Đại quân ta đã thần tốc tiến đến thành Thăng Long, quân sĩ cần được nghỉ ngơi vài ngày, rồi sẽ chọc thẳng đến thành An Tôn, diệt trừ cho xong nhà Hồ, ca khúc khải hoàn.
Đám tướng dưới trướng tỏ vẻ phấn khích ra mặt.
- Các ngươi xem, chưa khi nào quân của thiên triều phương Bắc vào Đại Việt dễ dàng như lần này, dù quân nhà Hồ có khá hơn quân nhà Trần, nhưng mới đủ sức dẹp Chiêm Thành, chứ làm sao đọ nổi tám mươi vạn tinh binh, đông hơn quân Nguyên, của ta. Hào khí Đông A nay còn đâu. Chuyện đánh bại quân Nguyên Mông đã xưa lắm rồi. Các ngươi thấy đúng thế không?
Các tướng biểu lộ đồng tình, vênh vang đắc ý nhìn nhau. Tổng binh đang ngả người ra sau, miệng cười, mắt lim dim, bỗng ngồi thẳng lên, nghiêm mặt, mở to đôi mắt trắng dã:
- Các ngươi nghe cho rõ đây. Đại Minh ta động binh “Phù Trần, diệt Hồ”,  khoa trương như thế để các nước lân bang khỏi chê cười ta vô cớ đánh chiếm Đại Việt. Nay quân ta đã tràn sang đây, các ngươi mặc sức cướp phá, chém giết. Trước là lấy lương thảo nuôi quân ta, do hậu cần không theo kịp, sau là làm cho Đại Việt suy tàn sức người, sức của, không biết đến khi nào hồi phục để tính chuyện chống lại Đại Minh ta.
Các tướng “dạ” ran. 
- Các ngươi nhớ lời ta truyền đây. Tuy quân của nhà Hồ non yếu, dân Đại Việt không theo, nhưng cha con Hồ Quý Ly thuộc loại to gan, lớn mật, rắp tâm, rắp chí chống lại nhà Minh. Chúng lấy thêm quân, chế nhiều khí giới, rồi ra sức lập phòng tuyến. Chúng dám đưa quân chặn đánh quân ta nhiều trận, bắt giết kỳ được Trần Thiêm Bình. Chỉ nội trong ba tháng mà xây xong thành An Tôn bằng đá ở nơi hiểm yếu, đủ biết cha con Hồ Quý Ly một lòng quyết chiến với quân ta. Chúng đáng phải chết, nhưng không giết ngay mà bắt giải mang về cho Hoàng đế ta hỏi tội, để chúng bị đọa đày, sống không bằng chết.
Các tướng “dạ” ran. 
Đương khi ấy, tiếng hô “cấp báo” vang lên từ bên ngoài. Một tên thám mã được đưa vào lều.
- Bẩm Tổng binh! Hồ Quý Ly đang cho điều binh ở các trấn về thành An Tôn!
- Ta biết rồi. Ngươi lui ra! Ha ha ha... Hoàng Đế Đại Minh ta tính toán như thần. Hoàng Đế cho tập trung đủ binh tướng, tích trữ sẵn lương thảo, vừa khi nhà Trần sai Thiêm Bình cầu viện là tràn sang đánh ngay. Trù chừ đến khi Hồ Quý Ly trong tay có triệu quân, thu phục được lòng dân, làm cho nước Đại Ngu hùng cường, thì quả là khó nuốt trôi. Bay đâu! Nghe lệnh, nội trong hôm nay, xuất quân khỏi thành Thăng Long. Đại quân tiến đến đâu giết sạch, đốt sạch đến đó, nhớ thu hết sản vật, đồ quý, bắt hết người tài, thợ giỏi của chúng mang về. Các tướng đi tiên phong chọn ngựa tốt truy đuổi, bắt sống cha con Hồ Quý Ly cho ta.
Tổng binh trợn mắt vỗ mạnh tay xuống án. Các bình đĩa đựng rượu thịt nảy tung lên. Các tướng tay nắm chặt chuôi gươm đeo bên mình, nối nhau lao ra khỏi lều Tổng binh.
*
Thành An Tôn. Thượng Hoàng Hồ Quý Ly cùng Hồ Hán Thương sốt ruột đi lại trong nội điện. Tiếng súng nổ, tiếng gươm đao chạm nhau, tiếng hò la vọng vào ngày một lớn. Ánh lửa từ bên ngoài hắt lên các cây cột, lên vách tường điện nhoang nhoáng. Lửa cháy đến cửa điện. Hồ Nguyên Trừng tất tả chạy vào, vứt thanh gươm đỏ lòm máu xuống đất, tay dìu Hồ Quý Ly, tay kéo Hồ Hán Thương chạy vào hậu điện. Lửa bùng to. Ngôi điện cháy đỏ rực đổ sập xuống.
*
Viên quan cận vệ phi ngựa lao vun vút, miệng hô: Tránh đường! Tránh đường!
Lát sau, ba cha con Hồ Quý Ly rạp mình trên ngựa phi tới, long bào, chiến bào tả tơi. Xa xa, bụi đường bốc lên thành vệt dài chạy gần lại. Thấp thoáng bóng người ngựa, thấp thoáng cờ hiệu của quân Minh trong khói bụi. 
Cha con Hồ Quý Ly chạy qua một ngôi làng. Dân chúng, kẻ thập thò, ngấp nghé sau cảnh cửa mở hé, kẻ đứng khoanh tay, vẻ mặt vô cảm nhìn ba người đang tất tả trốn chạy. Tiếng lũ giặc đuổi theo vọng đến ngày một lớn dần. 
Từ đường lớn rẽ sang con đường nhỏ hẹp, cha con Hồ Quý Ly ghìm ngựa, hỏi xin nước uống. Vợ chồng gã trọc phú đứng trong mái hiên xua tay, rồi bước vào nhà, khép cửa lại. Duy chỉ một người phụ nữ nghèo mang một cái ấm đất và mấy cái bát sành rót nước cho cha con Hồ Quý Ly. Đưa tay trả lại cái bát sành sứt mẻ vừa uống xong, Hồ Quý Ly cúi đầu cảm tạ người dân quê. Nước mắt ứa ra trên cả hai gương mặt. Cha con Hồ Quý Ly lại vội vàng nhảy lên yên ra roi thúc ngựa.
Vợ chồng gã trọc phú đẩy cửa bước ra, ngó theo làn bụi do vó ngựa làm tung lên. Mụ vợ của lão trọc phú mai mỉa:
- Đẹp mặt bà cô nhà ông. Rách như tổ đỉa mà còn vác mặt ra nghênh giá, thương xót ông vua chạy nạn.
- Chị im mồm cho tôi nhờ. Nhà tôi nghèo, được đức vua đoái thương cấp đất, miễn thuế nên còn sống đến hôm nay. Tôi chịu ơn mà chỉ có hớp nước lã dâng lên. Các người giàu nứt đố, đổ vách nhưng vẫn thấy xót vì hạn nô, hạn điền nên đem lòng thù oán đức vua. Mặt các người mới là đẹp.
- Rõ là “Giặc bên Ngô, không bằng bà cô bên chồng”. Hứ. 
Gã trọc phú như không nghe thấy gì, chăm chăm nhìn ra đường. Liền đó, toán quan quân nhà Minh xộc tới. Gã nhanh nhẩu đưa tay chỉ về hướng cha con Hồ Quý Ly vừa khuất bóng, rồi kéo tay mụ vợ vào nhà, đóng sập cửa lại.
Ngoài đường, từng làn bụi bốc lên mờ mịt.

Chương 4: Nỗi niềm quân vương
  
Một toán quan quân giặc Minh giải đoàn tù đi ngược lên phía Bắc. Viên quan cầm đầu mang vẻ mặt gian xảo, vênh váo, cưỡi ngựa đốc thúc, giám sát bọn lính. Lũ lính hằm hè quát nạt, vụt roi vào những thân hình tiều tụy, ốm yếu của những tù nhân chậm bước. Nhiều tên lính dắt theo trâu bò, khiêng vác hòm xiểng, mâm đồng, nồi niêu, váy áo, lợn gà mà chúng vơ vét, cướp bóc được.
Viên quan cầm đầu tốp lính nghĩ rằng: Chẳng có kẻ nào liều thân “cứu giá”, giải thoát cho tù nhân, nên không cần đông quân lính áp giải họ, nhưng vẫn phải thận trọng canh chừng tù nhân đào thoát. Những tù nhân “loại thường” bị buộc dây thành từng đoàn. Tù nhân quan trọng hơn phải đeo gông, đeo xiềng xích. Riêng Hồ Quý Ly bị nhốt trong xe tù và vẫn phải đeo gông. 
Viên quan lệnh cho bọn lính: Không cần đối xử tử tế, nhưng không được để những tù nhân quan trọng bị chết, phải đưa họ về cho Thiên triều xử tội hoặc trưng dụng làm việc cho Đại Minh. Chúng cho người nhà, người khỏe mạnh được đi theo, đỡ cho chúng việc coi sóc những tù nhân quan trọng. Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đeo gông, xiềng nhưng được đẩy xe tù cho cha Hồ Quý Ly. Nguyễn Trãi được dìu đỡ, giúp cha Nguyễn Phi Khanh lê bước trên dặm dài. Bao quanh xe tù còn có nhiều người tài, thợ giỏi, trong đó có kiến trúc sư Nguyễn An từng giúp Hồ Quý Ly xây thành đá An Tôn.
Đường lên ải Bắc nhỏ hẹp, quanh co, gập ghềnh. Đoàn người lúc nhấp nhô, ẩn hiện bóng hình trong sương sớm, khi co mình, gập đầu trước những làn gió cuối chiều lạnh buốt thổi từ phía Bắc xuống.
Không gian thê lương bao trùm hành trình. Những cột nhà cháy đen chĩa lên vòm trời xám xịt. Đồ đạc, nông cụ bị đập phá quăng quật, vương vãi. Những mảnh vải thấm máu đen đặc phất phơ trên cành cây, trên hàng rào xiêu vẹo. Lô nhô các nấm mộ chưa mọc xanh cỏ, hoang lạnh. Đoàn người đi qua nơi từng xảy ra những trận huyết chiến giữa quân nhà Hồ và giặc Minh. Xương trắng phơi trên nền đất mấp mô. Những ngọn giáo gãy, thanh gươm mẻ, áo giáp vỡ vụn. Cỏ cây khô héo, dập nát. Gương mặt những người tù nặng trĩu suy tư, sắt đanh lại. 
Cuối ngày, đoàn người dừng chân bên bờ một con suối, gần khô cạn, ngổn ngang những hòn đá lớn, đá nhỏ, ngâm một phần dưới nước, phần trên rêu bám đã khô bết lại. 
Bọn lính tháo gông cho tù nhân, để nguyên xích chân, tay, rồi gom họ thành từng nhóm. Bữa tối được phát ra gồm cháo loãng, vài mẩu ngô, sắn chỉ đủ cầm hơi. 
Sương chiều muộn dâng đầy từ lòng suối, từ hẻm núi, dâng đầy mặt đất. Bóng tối cùng hơi lạnh trùm xuống. Những đống lửa được đốt lên, bập bùng, chập chờn trong màn sương, bóng tối. Nhóm tù nhân đi bên xe tù và Hồ Quý Ly được gom thành một nhóm, ngồi bao quanh đống lửa. Những người con ngồi sát phía sau che gió và dành nhiều phần hơi ấm cho cha già. Ánh lửa soi lúc tỏ, lúc mờ gương mặt của Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Nguyễn An. 
Gương mặt Hồ Quý Ly nặng trĩu suy tư, dường như Người đang nghĩ đến điều gì xa xăm, không liên quan đến tình cảnh bi thảm lúc này. Đôi mắt Người khi khép lại im lìm hồi lâu dưới vầng trán trầm tư, khi mở to trên gương mặt dường như hóa đá, ngẩng lên trời đêm. Đôi mắt bắt ánh lửa. Ánh lửa như cháy lên trong đôi mắt ấy.
Chỉ đến khi Hồ Quý Ly rướn mình đưa đôi tay lại gần đống lửa hơn, Nguyễn Phi Khanh mới cất lời:
- Muôn tâu Thượng hoàng!
- Thôi mà. Chúng ta đang đều là thân tù, đừng giữ lễ thế!
- Thưa vâng! Xin Người bớt lao tâm, chúng thần theo Người và hiểu được lòng Người với nước, với dân...
Hồ Quý Ly khe khẽ lắc đầu: 
- Ngươi hiểu thấu nỗi đau của ta sao? Ai cũng biết triều Trần đã suy vi đến độ không còn gánh nổi việc nước. Họa mất nước thấy nhãn tiền. Ta dẹp được Chiêm Thành, mở cõi rộng thêm, nhưng nhà Minh kia mới thực là mối nguy ngày càng lớn. “Phù Trần, diệt Hồ” chỉ là thứ che đậy dã tâm cho đẹp mặt với các nước lân bang thôi. Kéo dài triều Trần ngày nào, vận nước suy thêm ngày đó. Hiềm một nỗi, ta là một sủng thần của mấy đời vua. Thân ta, nhà ta ăn lộc dày của triều Trần. Nhưng dù biết thiên hạ truyền đời coi ta là kẻ “đại nghịch bất đạo”, ta vẫn phải mau chóng chuyên quyền mới hòng làm cho quốc thịnh, dân an được.
- Thưa vâng. Ngay nhà Trần cũng nhờ Thái sư Trần Thủ Độ phế nhà Lý đang suy vi, dành ngôi vương, để lo đại nghiệp, lập võ công hiển hách, mà có ai dám coi là “bất đạo”? 
Hồ Quý Ly cười buồn:
- So sánh như thế, ngươi không thấy có hai điều khác sao? Cuối triều Lý, nhà Trần có thế, có lực, danh nghĩa nhà Lý nhường ngôi có lý, có tình, nên nhà Trần lấy được ngôi vương êm thấm, lòng dân yên thuận. Còn ta, trong tình thế của ta, ta buộc lòng phải sát hại những ai cản trở con đường đến ngôi vương. Lưỡi gươm của ta đỏ máu không ít người trong dòng tộc nhà Trần. Trần Thiêm Bình đáng chết, còn Trần Khát Chân cùng thân quyến mấy trăm người phải chết, chỉ vì ta không làm khác được. 
Hồ Quý Ly lặng đi hồi lâu, đôi mắt đăm đăm nhìn vào ánh lửa đỏ rực. Giọng Người trầm xuống:
- Cùng giành lấy ngôi vương, thâu tóm quyền lực để mưu cầu đại sự, nhưng nhà Trần dựng nước, giữ nước thành công, ngàn đời sau chịu ơn các bậc tiên đế anh hùng đó. Trần Hưng Đạo trở thành Đức thánh của chúng dân. Còn ta, thất bại cả đôi đường, nước mất, cơ đồ tan hoang. Ta thành kẻ tội đồ. Kết quả thất bại không thể biện minh cho phương sách của ta, dù đều nhằm làm cho nước mạnh, dân yên. Ngặt vì ta không đủ thời gian để thực thi các phương sách đó, quả là “Dục tốc bất đạt”.
Hồ Quý Ly khom người, đưa đôi tay đeo xiềng đỡ lấy vầng trán, mái tóc bạc lửa soi đỏ như màu máu. Bỗng Người ngồi thẳng lên, quay sang Nguyễn An: 
- Ngươi nghĩ sao, chỉ ba tháng mà ta cùng các ngươi thiết kế, đôn đốc xây xong thành đá An Tôn kỳ vĩ. Sao nói “Dục tốc bất đạt”?
Nguyễn An dừng tay cời lửa, thành kính ngước nhìn Thượng hoàng:
- Muôn tâu Thượng hoàng, điều căn cốt mà nhà Hồ ta muốn đạt là giữ được nước. Xây được thành mà nước vẫn mất là việc bất đạt vậy, mà dục tốc không chỉ là gấp gáp trong xây thành, dục tốc cả trong việc chuẩn bị mọi mặt để chống giặc mạnh.
- Phải rồi. Trời không cho ta cơ hội thời gian, ta mất “thiên thời”. Lòng dân chưa thuận, ta mất “nhân hòa”, dù có thành đá, ở nơi “địa lợi”, việc lớn không thể thành. 
Hồ Quý Ly quay sang Nguyễn Trãi:
- Ngươi có biết thành An Tôn còn hay bị giặc Minh san phẳng?
- Muôn tâu Thượng hoàng, giặc Minh đốt phá trong thành tan hoang, đập nát đầu đôi rồng đá, riêng thành đá còn như nguyên vẹn.
- Ơn Trời, dù thân ta tan vào cát bụi nhưng thành đá vẫn còn, để đời sau biết ta quyết chí chống giặc, biết rằng thành cao, hào sâu chưa đủ, muốn thắng giặc, phải dựa vào lòng dân “chúng chí thành thành” - Đó mới là thành lũy không giặc nào phá nổi. Mừng là con ta, Hồ Nguyên Trừng, cũng từng khắc cốt điều này, từng tiên liệu nguy cơ mất lòng dân là mất nước. Đánh giặc không sợ, chỉ sợ lòng dân không theo.
Hồ Nguyên Trừng ấp đôi bàn tay của mình vào tay của cha già, nói vừa đủ nghe:
- Thưa, vâng.   
Đống lửa dần tàn, than hồng mờ đi dưới lớp tro màu trắng, thi thoảng vài tàn lửa đỏ bay lên. Mảnh trăng hao gầy, sắc nhọn và lạnh giá, lặng lẽ treo trên một góc trời đêm.
*
Đoàn tù nhân cùng quan binh áp giải tiếp tục hành trình. Đói rét, đòn roi, lao lực khiến những xác người nằm lại ven đường ngày một nhiều. 
Khi ải Nam Quan xám xịt hiện ra phía trước, đoàn người dừng lại chờ lính đi bẩm báo quan trấn ải. Cha con Hồ Quý Ly cùng tất cả tù nhân buồn bã hướng mắt về cố hương, cố quốc thay cho lời chào ly biệt đau đớn xé lòng. Cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi đứng sát bên xe tù. Nguyễn Trãi nắm chặt bàn tay cha, lệ trào qua mắt. Nguyễn Phi Khanh cương nghị vỗ về, dặn dò người con trai chí hiếu của mình: “Con hãy trở về tìm minh chủ, dâng “Bình Ngô sách”, giúp rập đánh đuổi giặc Ngô, đền nợ nước, trả thù nhà. Như thế mới là tròn chữ hiếu, con của ta!”. 
Hồ Quý Ly nhìn Nguyễn Trãi khẽ gật đầu:
- Ngươi trở về đi. Muôn dân nước ta sẽ phải trải qua nhiều năm lầm than, tốn bao xương máu, nhưng rồi sẽ đuổi được giặc Minh tàn ác, trả được hận mất nước. Còn nỗi hận trong lòng ta, nỗi hận để đại nghiệp bất thành thì... lưu mãi đến thiên thu.
Nguyễn Trãi đau xót nhìn Thượng hoàng. Thân hình Người tiều tụy. Mái tóc bạc trắng phủ dài xuống gương mặt sắt lại. Duy đôi mắt Người vẫn ánh lên cái nhìn cương nghị, dẫu chứa chất trong đó cả nỗi buồn đau thẳm sâu. 
- Cúi xin Thượng hoàng, cúi xin cha cho con được đưa tiễn đến trước cửa ải. Sau khoảnh khắc này, con không bao giờ còn được gặp Thượng hoàng, không bao giờ còn được thấy cha. 
Những tù nhân nghiến chặt hàm, câm lặng đi tiếp chặng cuối của con đường lưu đày. Đám quan quân nhà Minh phấn khích như bầy chó về đến nhà chủ. Chúng hú hét chạy lên chạy xuống dọc đoàn tù nhân và mặc sức vung ngọn roi chẳng còn tác dụng gì với những người đã không buồn nhìn đến chúng. 
Nguyễn Trãi dừng lại bên đường, dõi theo bóng hình cha, dõi theo đoàn người nhập nhòa trong làn bụi đường rồi khuất hẳn sau cửa ải. Chàng trai đưa tay gạt lệ chảy tràn trên mặt, xoay người bước nhanh trên con đường dẫn về quê hương đang chập chờn bóng giặc.  

T.G


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 93
 Hôm nay: 8424
 Tổng số truy cập: 15701440
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa