Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Truyện ngắn   /   Người thầy đầu tiên
Người thầy đầu tiên

HỎA DIỆU THÚY

Người thầy đầu tiên

Truyện ngắn

Bố đã sinh ra tôi lần thứ hai. Mẹ tôi kể lúc tôi sáu tháng tuổi, tôi bị ngạt đến mức đã tím tái. Hôm ấy, nếu không có bố ở nhà chắc không có người kể câu chuyện này.  
Sau lần chết hụt ấy, tôi như đứa trẻ mất vía, chậm chạp, ít nói, nhút nhát và rất dễ khóc. Lúc nhỏ tôi gần như không có bạn, nói đúng hơn không dám chơi với bọn nó vì luôn bị bắt nạt. Không hiểu sao, tôi giữ được hình ảnh trong đầu: đứa bé gái năm tuổi, mặt tròn bụ bẫm nhưng nhem nhuốc, hai tay giấu trong bụng, dưới cái cạp quần đen cứng như mo nang, lang thang một mình đi hết ngõ này đến ngõ khác của xóm chùa. 
Bỗ đỗ tú tài bán phần, cách mạng tháng Tám bùng nổ, bố xuất hiện trong lực lượng lãnh đạo giành chính quyền ở huyện, rồi bố đi một mạch đến tận kháng chiến thành công. Trở về, bố trở thành ông giáo dạy cấp hai. Thời ấy, hai ba huyện mới có một trường cấp hai. Bố tôi dạy đủ các môn: văn, toán, lý, hóa và thể dục! Năm 1957, trường cấp 2 Cẩm Thủy thành lập, bố thuyên chuyển lên đấy. Nhà tôi, miền biển, lên Cẩm Thủy hàng trăm cây số đường rừng, không có xe đạp chỉ đi bộ. Bố mang theo anh cả tôi mới sáu tuổi, đỡ cho mẹ còn năm đứa ở nhà. Đứa trẻ sáu tuổi cùng ông bố “hành quân” cả trăm cây số, tối dừng chân ngủ nhờ bà con ven đường, đi bộ bốn ngày thì tới trường bố dạy.  
Khi tôi lên sáu, bố được chuyển về dạy cách nhà khoảng bảy, tám cây số, tôi cũng được “nếm trải” những chuyến cuốc bộ như vậy vào tối thứ bảy. Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên cái cảm giác ước ao ngọt ngào khi cơn buồn ngủ kéo đến mà được nhắm mắt thả mình xuống rệ cỏ ven đường. Tôi đi trong mộng du rồi bố cõng lên lưng lúc nào không hay.  
Bố mang theo tôi để rèn cặp. Tôi ít nói và nhát hiếm thấy, bố kể, sáu tuổi nhưng tôi không biết chào hỏi ai. Bố tập cho tôi mời cơm các thầy cô (ngày ấy các trường đều có bếp ăn tập thể), trước giờ ăn, bố cùng ngồi để tôi tập nhắc đi nhắc lại câu mời, nhưng trước đông người, tôi lại như bụt mọc, không thể mở miệng. Ngày hai lần, tuần này sang tuần khác, tháng này qua tháng khác, cho hết năm học, bố kiên nhẫn tập cho tôi câu mời ấy và rồi lần nào cũng thất bại. Vậy mà bố chưa một lần la mắng hay thất vọng, tôi thì vẫn chả thấy lo sợ hay xấu hổ vì không làm nổi một việc cỏn con. 
Bố cho tôi đi học lớp một, nhưng cái não tôi khi ấy hình như chưa hình thành nếp nhăn hay sao ấy, những gì cô giảng tôi chả hiểu gì sất, không nhớ một tí tị gì, ngày nào cũng đi học nhưng ra về với cái đầu rỗng không. Bố hình như biết điều ấy, Người cho tôi đi học chỉ để tôi được chơi với bạn bè, hòa nhập với các bạn cùng tuổi. Buổi chiều, bố cũng chẳng dạy gì thêm, bố chỉ hướng dẫn tôi tập viết, luyện viết. Bố cùng tôi chơi trò tập viết bằng ngón tay xuống đất, tôi bắt chước những chữ bố viết. Khi tôi đã quen với mặt chữ, bố chuyển sang viết phấn lên bảng gỗ, rồi chuyển sang viết bút chì. Tôi còn nhớ như in lần bố cho cầm bút mực, và trước mặt là lọ mực màu hồng. Cán bút bằng gỗ có màu vàng, ngòi bút có cái bụng để chứa mực. Lọ mực thì thật đặc biệt, có thể cầm dốc ngược mà không bị rơi mực ra ngoài. Nhưng một sự cố khiến đứa trẻ nhút nhát khi ấy chết sững: tôi cắm ngòi bút vào lọ mực xắc xắc mấy cái rồi rút ra thì một giọt mực to tướng rớt lên trang vở. Nhìn thấy giọt mực vỡ ra, tim tôi như ngưng đập. Tôi đưa mắt nhìn bố rồi khóc òa. Nhưng gương mặt bố không có gì thay đổi, vẫn là vẻ điềm tĩnh, dịu dàng, hình như Người còn hơi mỉm cười. Bố lấy cục phấn lăn nhẹ vào giọt mực, phút chốc giọt mực biến mất vào cục phấn, tôi nhìn và quên luôn khóc, quên cả sợ hãi, chỉ vừa thấy một điều kỳ lạ, thú vị diễn ra. Não tôi như bừng sáng nhận thức ghi nhớ một kinh nghiệm đầu tiên. 
Việc tô chữ, luyện chữ cứ diễn ra vào các buổi chiều, đến tối bố chấm điểm bằng gạch chân những chữ viết đẹp. Những ngày mới dùng bút mực, viết cả trang nhưng chẳng được chữ nào gạch chân. Cuối tuần, bố dùng phần thưởng cho sự tiến bộ của tôi, khi thì chiếc bánh bao nhân đậu bố mua ở cửa hàng mậu dịch, có khi là bắp ngô hoặc vài củ khoai luộc, quả chuối chín ai đó cho và phần thưởng đặc biệt nhất cho lần tôi viết xuất sắc là em búp bê mặc áo vàng, váy xanh bên trong nhồi mùn cưa. Em búp bê có đôi má màu hồng phúng phính, đôi mắt to tròn với hàng mi cong. Tôi cầm búp bê ra sân trường chơi với cảm giác thật kiêu hãnh. Cuối năm học, tôi được khen vì viết chữ đẹp và cũng biết đọc từ lúc nào. 
Từ lúc tôi biết đọc, bố mua nhiều truyện tranh, đặt cả báo Nhi đồng và Thiếu niên Tiền phong. Tôi nhát nên thường ở nhà, bố cho tôi thế giới riêng là báo và tủ sách. Tôi tiếp xúc với thế giới cuộc sống qua tủ sách báo ấy, có lẽ óc tưởng tượng của tôi cũng nhờ vậy mà được nuôi dưỡng và phát triển. Tôi cảm nhận, mỗi ngày mình “khôn” hơn ra một chút.
Khi tôi lên lớp năm, bố nghỉ hưu, từ đây, bố vừa là người thầy vừa là mẹ. Bố đảm nhận hoàn toàn việc chăm sóc tôi và đứa em gái út (lúc này ở nhà chỉ còn hai đứa bé), mẹ chạy chợ lo cơm áo. Bố lên cho chúng tôi một thời khóa biểu buổi chiều ở nhà. Thời khóa biểu ấy “học thêm” các môn ở trường không có, như: vẽ, nhạc, bơi và vẫn tiếp tục luyện chữ đẹp. Người dạy các môn ấy chính là bố. Ở nông thôn ngày ấy được tiếp xúc với màu và bút vẽ, được học ký tự nhạc và tiếp xúc với nhạc lý, biết bơi như rái cá là điều hiếm thấy. Bố còn muốn dạy tiếng Pháp nhưng thấy chúng tôi không hào hứng nên thôi, giờ thì hối tiếc nhưng ngày ấy không phải học là sung sướng vô cùng. Bây giờ khi đã dùng những tích lũy ấy để trưởng thành mới hiểu châm ngôn thâm thúy của phương Tây: “Rễ của học tập thì đắng nhưng quả của nó thì ngọt”. Trong thời khóa biểu buổi chiều ấy còn có giờ “lao động”, cũng dài bốn mươi lăm phút, hôm thì nhặt quả sa mộc, hôm thì đi cào lá, cào cỏ về làm củi đun. Bố buộc khoảng giữa của cái quang giắng lại cho chúng tôi dễ khênh, đi nhặt quả thì mỗi đứa một cái mủng con. Nhà vẫn phải mua củi nhưng chúng tôi được rèn trách nhiệm lao động. Tôi còn nhớ, vào mùa thu và mùa đông, quả sa mộc rụng nhiều, hai chị em tôi như hai con sóc nhỏ chăm chỉ mỗi ngày tha về hai mủng quả mà chúng tôi có hẳn một cót quả khô dùng cho những ngày rét đậm để mang ra đốt cho ấm.  
Trước khi vào học giờ buổi tối, bao giờ cũng có chấm điểm các môn học buổi chiều, tôi thường được khen vì không trốn đi chơi. Đứa em gái láu lỉnh của tôi thường giả vờ đau bụng để tránh bị phạt. Bố chưa bao giờ dùng đòn roi hay chửi mắng, chỉ phạt bằng cách ngồi im trước bàn học hoặc đứng úp mặt vào tường mười lăm phút. Bố rèn chúng tôi nghiêm khắc bằng tình thương và sự tôn trọng.
Lên cấp hai, tôi chỉ học đến chín giờ tối và sẽ thức dậy vào bốn rưỡi sáng hôm sau. Những môn học thuộc lòng sẽ học vào buổi sáng. Bố luôn thức cùng chúng tôi cho đến khi lên cấp ba khi chúng tôi đã lớn và quen với giờ thức ngủ. 
Bao giờ bố cũng đi ngủ sau khi đã sửa tư thế ngủ cho chúng tôi, không trùm chăn kín đầu và hai chân duỗi thẳng. Sở hữu đôi chân thẳng tưng bây giờ, chúng tôi cảm ơn bố biết mấy.
Bố rèn cho tôi thói quen tự lập, bảy tuổi tôi đã biết nấu cơm mặc dù nấu bằng củi và bổi. Tôi cũng biết rửa bát, quét nhà và trông em. Quê tôi là cửa sông, khi Mỹ bắn phá miền Bắc, các cửa sông đều bị phong tỏa, ngày hai lần máy bay đến đánh phá, trước khi cút ra biển, chúng vội vã trút những quả bom thừa, làng Bạch Câu bao lần gánh họa, nhiều gia đình có người chết tức tưởi. Hai anh trai kế tôi đã mất trong hai lần chúng quẳng bom nơi cửa sông, cách nhau năm tháng. Bố đào cái hầm hình chữ L giữa sân, trên phủ bổi để tránh bom bi. Máy bay ném bom có cữ giờ, tôi nấu cơm mang ra cửa hầm, hai chị em vừa ăn cơm vừa nhìn chùm bom rơi. Khi thấy những quả bom đen sì đã to thù lù, nghĩa là chúng sắp chạm đất mới kéo tay em chạy thụt vào ngách hầm rồi bịt chặt tai. Có lần, nghe tiếng bịch bịch trên nóc hầm, tôi nín thở chờ nghe bom nổ và xác định, nhưng mãi chả thấy tiếng nổ nào, lúc sau có tiếng chân nhiều người chạy và tiếng la trong ngõ xóm, có lẽ ai đó lại bị mảnh bom, hai chị em mới chui ra khỏi hầm. Tôi nhìn lên nóc hầm toàn bùn là bùn, hóa ra bom nổ dưới sông và tung bùn lên tận nhà tôi. Những năm cuối của cuộc chiến tranh ác liệt ấy, chỉ có hai đứa trẻ chúng tôi ở nhà. 
Tôi đã được rèn nghị lực và lòng dũng cảm từ hoàn cảnh một mình trông em và đi qua những thời khắc sinh tử.     
Những đứa con là kết quả của đấng “sinh thành”, từ công “sinh” đến công dưỡng mà “thành”. Sự nhẫn nại và tình yêu con vô bờ của cha đã rèn nên tôi, từ đứa bé nhút nhát, ù lì thành một tính cách tự tin với bản lĩnh tự lập. Tôi chưa hoàn hảo nhưng là một cá thể tự tin và tự trọng, yêu cuộc sống và luôn cố gắng hoàn thiện mình.
Bố là người thầy đầu tiên và là người thầy vĩ đại suốt đời của tôi. 
Câu chuyện này có thật đến chín mươi chín phẩy chín mươi chín phần trăm, nhưng có người lại bảo: bịa đến chín mươi chín phẩy chín mươi chín phần trăm!
                                H.D.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 80
 Hôm nay: 8383
 Tổng số truy cập: 15701399
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa