Chùm bài: Về miền di sản - Bài 2: Ngựa xe về Bồng Báo (Du ký dự thi)
TRẦN HOÀNG MINH
Chùm bài: Về miền di sản
Du ký dự thi
Bài 2: Ngựa xe về Bồng Báo
Miền di sản xứ Thanh ôm trong lòng những mật mã cổ mà càng tìm đến càng khiến người ta kinh ngạc bởi sự phong phú và tầm vóc phi thường của nó. Hành trình hôm nay tìm về một địa chỉ từng được dân gian Thanh Hóa khắc nhớ về niềm kiêu hãnh một thời: Ngựa xe về Bồng Báo(1); Ngựa voi về Bồng Báo!
Trong sách "Vĩnh Lộc huyện chí" (năm 1816) của Lưu Công Đạo, Lệnh Doãn Vĩnh Lộc từ năm 1814 đến năm 1817, viên tri huyện mẫn cán đã đi khắp không gian Vĩnh Lộc từng thốt lên: "Ôi! Thanh Hóa là một châu huyện của các bậc vua chúa, Vĩnh Lộc là một danh ấp trong châu ấy. Núi sông, danh thắng, hiền tài, khôi khoa, hào kiệt cùng với sản vật quý, là nơi tốt nhất trong châu". Nếu Vĩnh Lộc "là nơi tốt nhất" của Thanh Hóa thì đất Bồng là "nơi tốt nhất" của Vĩnh Lộc chăng?
Đất Bồng là dải đất thơ mộng, xinh đẹp bên triền sông Mã, lưng tựa vào núi Hùng Lĩnh, còn một tên nữa là Tác Hùng, dân gian gọi là núi Sáo hay Sóc Sơn và núi Biện Lĩnh (sau đổi thành núi Báo). Núi Sóc "ngọn vững chãi, dáng độc tôn", xưa "có nhiều sản vật, nhân sâm", thứ nhân sâm tiến vua, được tôn vinh là "Đại Việt đệ nhất danh sâm". Núi Biện Lĩnh (có cái tên ấy vì Lệnh Doãn cho 20 suất canh trông giữ hai quả núi, mỗi tháng dựa vào suất để cấp lương bổng, nhân đó gọi là Biện Lĩnh, là đất cấm địa gồm 29 ngọn"(2). Núi Biện Lĩnh đẹp độc lạ đến nỗi "đỉnh núi nhọn như chiếc kích, xa mà nhìn lại có người cho là tinh, là kỳ, là phượng, là ngựa, là bức gấm thêu, là bức họa vẽ. Mỗi bước nhìn lại một hình trạng lạ, cho dù người vẽ giỏi cũng không thể vẽ được". Biện Lĩnh có hai hang động, "Tiên Cử Động" và "Tân Tạo Động" còn gọi là Tiên Phàn và Ngọc Long. Trong động "có nhũ thạch sắc ánh như kim ngân, nếu lấy đèn đuốc mà soi thì tựa như "cành quỳnh cây ngọc". Đến các quan lại và các quý văn nhân tài tử nhiều người đến du xem"(3). Triều Lê Cảnh Hưng có Thị Nội Tri Giám tước Trì Trung hầu Trần Ngọc Xuyến đến bày rượu uống ba ngày, múa bút đề thơ trong đó có câu:
Thiên lưu danh thắng dữ phong đô
Thạch cốt sơn di bất họa đồ
(Trời lưu lại danh thắng cùng đất phong đô
Dáng núi luôn biến đổi không thể vẽ nổi)
Thế núi danh thắng ấy đã tạo nên vẻ "bồng lai" cho đất này.
Đất Bồng có đến ba làng: Bồng Thượng, Bồng Trung và Bồng Hạ. Những nhà nho của đất này không chỉ tự hào với vẻ đẹp "bồng lai" của cảnh sắc nơi đây mà còn nhận thấy chí "tang bồng hồ thỉ", của những đấng nam nhi xứ này. Chữ "bồng" (蓬) với những sắc thái nghĩa ấy đã được chọn để thể hiện khí chất của một vùng đất. Xứ Bồng cũng từng mang những cái tên mộc mạc hơn: "Biện Thượng", chữ "biện" (弁) đi cùng chữ "thượng" chỉ vùng đất nằm ở phía trên, nơi thượng nguồn hoặc nơi có thế đất cao, hiểm yếu và một tên khác: "Đông Biện" (Nghệ Yên Thành, Thanh Đông Biện), chỉ vùng đất cao ở phía Đông. Cuối thế kỷ XIX, chữ "Biện" húy của vua Đồng Khánh nên không được nhắc đến nữa, địa danh "đất Bồng" tồn tại đến nay. Riêng Bồng Thượng còn được ghép thêm chữ "Báo" gọi là Bồng Báo. Nghĩa của chữ "báo" trong sách văn bia cổ chùa Báo Ân và sách Đại Nam nhất thống chí, được viết là 報 (báo đáp, báo ân). Có lẽ chữ "báo" xuất hiện sau khi Bồng Thượng đã trở thành đất "địa linh nhân kiệt", nơi sinh ra cả những bậc đại khoa lẫn danh tướng lẫy lừng, còn là đất "quý hương" của 12 đời chúa, ngồi ngôi đến hơn hai trăm năm. Tinh thần "Báo Ân", "Báo Bản" với thần linh, với tiền nhân khiến đất này thành đất "Bồng Báo" sang trọng từ địa thế đến con người.
Hãy hình dung suốt gần ba trăm năm, những ngả đường về Bồng Báo luôn tấp nập ngựa xe đi về, lúc thì nhà chúa về bái yết tổ tiên, lúc thì tuần du kinh lý, vi hành. Những chuyến đi ấy, ngoài ngựa xe của nhà chúa là ngựa xe của các quan đại thần, tuần phủ, tri huyện tháp tùng. Có lẽ, Bồng Báo dưới các đời chúa, rất nhiều quan đại thần đã từng về chiêm ngưỡng, thăm viếng quê hương đất tổ nhà chúa, nghĩa là không khí luôn rầm rập ngựa xe, võng lọng, cờ xí… Bồng Báo khi ấy vừa mang vẻ sang trọng, đài các của một "kinh đô" với hành dinh Từ Phủ, vừa mang vẻ trang trọng, thâm nghiêm của đất quý hương phát tích, đất quy lăng của các chúa khi yên nghỉ trở về cố thổ. Những cuộc đi lại tấp nập ấy trong một thời gian dài, rất dài đã tạo nên đúc kết cho không gian Bồng Báo lừng lẫy một thời: “Ngựa xe về Bồng Báo”, "Voi ngựa chầu về Bồng Báo"!
Bồng Báo bây giờ là nơi gìn giữ không gian thiêng của vượng khí "nhân kiệt" với những di sản văn hóa - lịch sử Quốc gia: Phủ Trịnh, Nghè Vẹt, lăng mộ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm, lăng mộ Bình An Vương Trịnh Tùng; đền thờ Hiển Khánh Vương Trịnh Khả, bậc khai quốc công thần thời Lê Sơ; đền thờ Thái tể Vinh quốc công Hoàng Đình Ái, cháu ngoại Thái sư Trịnh Kiểm và là danh tướng kiệt xuất thời Lê Trung Hưng; lăng Quốc Thánh Mẫu Nguyễn Thị Ngọc Diễm (mẹ chúa Trịnh Sâm, thứ phi của chúa Trịnh Doanh. Trừ Phủ Trịnh đang trong quá trình phục dựng, các địa chỉ còn lại đều gần như còn nguyên gốc ban đầu: Một Nghè Vẹt rộng lớn tới 11 gian, nơi thờ tự ông tổ họ Trịnh (Đô bác Đại vương Trịnh Ra) và 12 đời chúa Trịnh. Trong Nghè Vẹt vẫn còn nguyên đôi vẹt gỗ khổng lồ cao tới hơn hai mét được chạm trổ tinh xảo. Đôi vẹt đứng trên lưng rùa, đầu ngẩng cao, dáng thon dài uy nghi tựa chim hạc. Trong văn hóa tín ngưỡng thời Lê - Trịnh, chim vẹt trở thành linh vật, loài chim thông minh gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi(4), vừa biểu tượng cho sự tận tụy, can gián ngay thẳng, trung thành tuyệt đối của bậc bề tôi (các chúa Trịnh) với vương triều. Nghè Vẹt còn lưu giữ chiếc khánh đá chế tác từ đá khói núi Nhồi. Gõ vào khánh đá này ta nghe được thứ âm sắc đặc biệt, thứ thanh âm vang ngân trong trẻo, dịu dàng như vọng về từ quá khứ.
Di tích khu đền thờ và lăng mộ Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Diễm (mẹ chúa Trịnh Sâm) hiện cũng là một di sản văn hóa độc đáo. Lăng mộ của bà đã bị những tên mộ tặc đào bới để tìm của cải nhưng hệ thống sân tượng thì vẫn còn nguyên xi. Mười quan hầu giống như các võ sĩ có kích thước cao hơn người thật (không tính phần đế đã cao 1,8m) đứng thành hai hàng bồng vũ khí, tư thế khiêm cung, nhẫn nại đứng canh gác cho giấc ngủ thiên thu của Thánh Mẫu. Hai ông phỗng tròn trùng trục chắp tay quỳ lạy cung kính hai bên với thái độ sẵn sàng thực thi mệnh lệnh. Tất cả đều được khắc từ đá xanh khói núi Nhồi nguyên khối. Nhìn nhóm tượng đá đã đứng đấy hơn 200 năm rêu phong cổ kính nhưng những nét chạm khắc thì vẫn nguyên sự sống động thần thái. Các bộ giáp phục tỉ mỉ đến từng đường trang trí nhỏ. Đặc biệt là vẻ mặt mỗi người một vẻ, các ngài đều đã ở độ tuổi đã "an trí", tức là khoảng 50, ai cũng có bộ râu quắc thước, vẻ mặt với những nếp nhăn in hằn thời gian. Nhưng đôi mắt các ngài thì mở to trong trạng thái cảnh giác cao độ. Quần thể tượng quan hầu ở đây cùng với loạt các quần thể tượng trên đất Thanh Hóa, như: Voi, ngựa, bia đá tại đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi tại làng Phúc Triền, xã Đông Thanh; Quan hầu, ông phỗng, voi, ngựa tại đền Thượng núi Nhồi; Tượng đá quan hầu, voi ngựa, bia đá tại khu đền thờ và lăng mộ Quận công Lê Trung Nghĩa, cho thấy nghệ thuật chế tác đá của nghệ nhân xứ Thanh xưa đã ở bậc tuyệt kỹ.
Bồng Báo bây giờ nằm trong chuỗi kết nối với những di sản văn hóa - lịch sử đặc biệt: Di sản Văn hóa Thế giới Thành Nhà Hồ; Di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh; Di tích Quốc gia làng cổ Gia Miêu ngoại trang - Lăng miếu Triệu Tường. Trong không gian khoảng 10 ki lô mét vuông ấy đã sinh ra những con người kiệt xuất dẫn dắt lịch sử Việt Nam suốt 600 năm!
Đường về Bồng Báo giờ đây không còn là những con đường đất như ngày xưa mà thay bằng những con đường trải bê tông, rải nhựa phẳng lỳ. Hai bên đường vẫn là những cánh đồng xanh mướt, vào dịp thu đông, dưới cánh bãi ven sông Mã xen giữa những cánh đồng ngô đang trổ cờ là những đám cải dưa trổ hoa vàng rực. Dòng sông Mã mạn thượng nguồn mùa lũ hung dữ bao nhiêu thì về đến miền trung du, hạ du mềm mại, ngọt ngào như nàng ả một con. Nàng phồn thực những bờ bãi mỡ màng, nàng óng ả trong sắc hồng phù sa nồng nàn, chở thứ quà tặng quý giá từ những thảm rừng già vùng biên viễn xứ Thanh. Dễ hiểu vì sao hàng vạn năm trước người cổ đại bước ra từ rừng già, từ hang Con Moong, Eo Lê, Tiên Sơn… đã chọn đất Bồng - Đa Bút làm nơi cư ngụ và những kinh nghiệm, trí tuệ được chọn lọc, tích lũy từ hàng vạn năm trước đã trở thành thứ trầm tích trí tuệ để tạo nên đất Bồng Thượng - Bồng Báo sau này.
Tại sao không? Hãy tái hiện lại cảnh "Ngựa xe về Bồng Báo" trong những tour du lịch đến xứ Bồng? Hãy để du khách ngồi trên những cỗ kiệu xe song mã, tam mã, tứ mã với lọng vàng ngựa tía bảng lảng khói sương xưa khi về lễ hội Phủ Trịnh, tham quan Nghè Vẹt, thăm viếng lăng mộ các vị thân vương, các anh hùng nghiêng mình trước đền thờ các danh nhân - danh tướng. Ngồi trên các cỗ xe ấy, du khách vừa được ngắm núi Sóc - núi Báo "danh thắng dữ phong đô" biến ảo trong thế giới tưởng tượng, ngắm dòng Mã giang cuộn chảy mà trong đầu vang lên những câu thơ đâu đó của một người con Vĩnh Lộc:
Sông Mã ơi, có từ bao giờ thế?
Mà chở đầy câu hò hẹn quê hương
Vĩnh Lộc đón ta một chiều lộng gió
Đất níu chân người, lòng tràn ngập yêu thương.
Ai đó yêu cổ sử thì tưởng tượng ra cảnh chàng trai Trịnh Kiểm năm xưa mồ côi cha đi chăn trâu thuê bẻ cờ lau tập trận với lũ trẻ mục đồng, giết bò khao quân khiến làng muốn trị tội đuổi đi. Trên núi Sóc - núi Báo xưa rậm rạp trăn, gấu, lợn lòi nức tiếng sản vật, trong đó có loài sâm được tôn là "Đại Việt đệ nhất danh sâm", chỉ dùng để tiến vua. Lẫn trong tiếng lóc cóc của vó ngựa là ngọn gió mát rượi thổi lên từ sông Mã. Bất chợt, người ta muốn căng lồng ngực hít những hơi thật sâu để tận hưởng không khí trong lành và mơ hồ nhận ra hình như trong gió có thoảng mùi hoa quê từ các vườn nhà, những bụi cây dại ven đường, từ hoa lúa, hoa ngô vào mùa làm đòng.
Hiện nay, Vương Phủ đang được phục dựng, mục tiêu tái hiện kiến trúc cung đình thời Lê - Trịnh với quy mô rộng hơn cả diện tích xưa, khoảng 13ha (diện tích cũ khoảng 10ha) với những hạng mục chính sẽ được tái hiện như: khu Phủ từ (thờ tự tổ tiên các đời chúa), Tòa đại đường - Chính điện, Nội phủ (nơi ở của chúa), cùng hệ thống vườn hồ, hành doanh và khu làm việc của các quan. Công trình xây dựng sẽ tuân thủ nguyên tắc truyền thống, thể hiện nét đặc thù giao thoa giữa kiến trúc cung đình và văn hóa dân gian dựa trên các căn cứ lịch sử, bản vẽ cổ và khảo cổ học để đảm bảo tính chân xác, linh thiêng. Dự án lên đến cả ngàn tỷ đồng với nguồn vốn đầu tư đa dạng. Dự án hoàn thành Thanh Hóa sẽ có thêm điểm nhấn trọng điểm, cùng với Lam Kinh, Phủ Trịnh sẽ là địa chỉ văn hóa - lịch sử thiêng liêng với sức hấp dẫn to lớn, đa dạng, phong phú về ý nghĩa. Du khách đến đây để bộc lộ niềm kính ngưỡng tâm linh, cũng để chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc tinh xảo chỉ còn thấy ở các công trình lớn tầm quốc gia, quốc tế. Những tour du lịch văn hóa về nguồn còn mang tính giáo dục sâu sắc. Nếu những hướng dẫn viên du lịch được đào tạo kỹ lưỡng và biết tự đào tạo, sẽ giúp du khách có được những bữa tiệc văn hóa - lịch sử thú vị và bổ ích.
Tháng 7-2026
T.H.M
1. Thành ngữ Thanh Hóa. Biến thể khác: Voi ngựa về Bồng Báo.
2. Lưu Công Đạo, Thanh Hóa tỉnh, Vĩnh Lộc chí (2010), NXB Thanh Hóa, tr 38.
3. SĐĐ, tr 39.
4. Truyền thuyết kể rằng khi nghĩa quân Lê Lợi bị quân Minh truy đuổi phải lánh vào rừng sâu, hết sạch lương thảo, trong tình thế nguy cấp bỗng thấy con vẹt ngậm một thứ quả nâu thẫm bay qua. Quân lính nghĩ rằng chim ăn được thì người ăn được, bèn theo dấu vẹt tìm đến thứ quả rừng khi chín có màu tím. Đó chính là quả bồ quân. Vì vẹt cứu cả đoàn quân khỏi chết đói, sau khi đất nước thái bình, vua Lê Lợi bình công trạng không quên "ân nhân Vẹt", nhà vua đã đưa vẹt vào không gian thờ tự linh thiêng, biểu tượng cho điềm lành, trung nghĩa.