Nơi tiếng chuông ngân lên từ những hố bom (Bút ký dự thi)
BÙI HỮU THƯỢC
Nơi tiếng chuông ngân lên từ những hố bom
Bút ký dự thi
Tôi vẫn thường nói với nhà văn Từ Nguyên Tĩnh, nửa đùa nửa thật, rằng ông là một “chiến sĩ hóa thạch sống” của Hàm Rồng. Ông chỉ cười rất nhẹ, như không muốn chạm vào phần ký ức đã lắng xuống quá sâu, không cần lời giải thích. Nhưng tôi hiểu, có những phần đời trong con người ấy không thể hóa thạch. Chúng vẫn âm ỉ như than dưới lớp tro, chỉ cần một cơn gió khẽ cũng có thể bừng lên.
Để ngắm lại trận địa, ngắm núi sông và nguôi ngoai nỗi nhớ của những ngày đã qua, ngày 2-5-2026, chúng tôi trở lại Hàm Rồng. Đồng hành cùng tôi là nhà văn Từ Nguyên Tĩnh, nhà văn Nguyễn Hồng Sơn. Trước lúc lên đường, ông Tĩnh trao cho chúng tôi hai cuốn sách của ông vừa xuất bản. Cầm trên tay, tôi nghĩ đó không đơn thuần là những cuốn sách được viết bằng chữ nghĩa mà còn được viết bằng tuổi trẻ, máu thịt và những năm tháng không mơ lấy lại.
Mười năm ông là pháo thủ khẩu đội số 5, Đại đội 4 pháo cao xạ 57 ly Anh hùng thuộc Trung đoàn 228, bám trụ trên đồi C4 Hàm Rồng. Mười năm giữa hàng vạn tấn bom đạn dội xuống đầu. Mười năm mà khoảng cách giữa sống và chết nhiều khi không đủ một nhịp thở. Chừng ấy thôi cũng đủ để lòng người lặng đi như đá. Một đời người không thể kể hết.
Xe chạy dọc hạ lưu sông Mã. Hai bên bờ xanh mướt như chưa từng đi qua lửa đạn chiến tranh. Những khu đô thị hiện đại nối nhau hiện ra qua cửa kính. Những cây cầu mới rộng mở nối đôi bờ sông Mã như một lớp thời gian khác phủ lên vùng đất từng đỏ lửa. Ba anh em ngồi cạnh nhau, không ai nói gì. Có lẽ mỗi người đều vén màn thời gian đi vào từng lớp ký ức của riêng mình.
Từ xa, dãy núi Hàm Rồng hiện lên như con rồng xanh lớn nghiêng đầu xuống dòng sông Mã. Người xưa gọi thế đất nơi đây là “Long Mã tranh châu”, nơi hội tụ linh khí đất trời. Có phải vì thế đất ôm ấp lòng người nơi đây mà qua bao biến động dữ dội, vùng đất này vẫn đứng vững, vẫn xanh?
Đồi Ba Cây Thông - cao điểm 54 - trận địa đồi C4 hiện ra trước mắt. Rừng thông đứng lặng. Gió đi qua tán lá khẽ vi vu. Nếu chỉ nhìn hôm nay, khó ai tin nơi đây hơn nửa thế kỷ trước từng là tọa độ lửa, nơi mỗi tấc đất bị bom đạn cày lên quật xuống không biết bao nhiêu lần.
Một bà cụ ngồi dưới gốc thông chân đồi C4 bán nước, tươi cười chào mời chúng tôi. Biết chúng tôi về thăm trận địa cũ, bà cẩn thận xếp mấy bông hoa bưởi vào chiếc đĩa nhỏ cùng mấy nén hương và đưa cho chúng tôi cùng chiếc bật lửa. Cụ nói: “Các bác thắp hương cho đồng đội của mình rồi hãy lên đỉnh đồi. Hôm nay chắc các liệt sĩ vui lắm vì được gặp lại những người bạn cùng thời vào sinh ra tử”.
Nghe cụ, tôi giơ hai tay nhận chiếc đĩa nhỏ tỏa hương hoa bưởi thơm dịu mát, không ai nói thêm lời nào.
Chúng tôi đứng lặng dưới chân bia đá ghi tên hai mươi liệt sĩ đã nằm lại trên đỉnh đồi này. Khói hương trắng nhẹ như không chịu tan. Không ai đọc thành tiếng. Mắt ông Tĩnh ướt nhòa. Không chỉ những cái tên trên bia đá mà có lẽ hình bóng từng đồng đội của ông đang hiện về. Ông không dám nhìn lâu, bởi đối diện lòng ông càng đau.
Đầu danh sách là Chuẩn úy Đỗ Hữu Toại hy sinh ngày 14 tháng 7 năm 1966. Rồi ngày 3 tháng 9 năm 1967, mười một pháo thủ Đại đội 4 bảo vệ cầu đã cùng ngã xuống. Có những cuộc đời dừng lại ở tuổi chưa đầy hai mươi.
Đứng giữa đỉnh đồi, chúng tôi nghe tiếng còi hối hả của con tàu dài đang lao nhanh qua cây cầu Hàm Rồng nhẫn nại bắc qua sông. Âm thanh ấy vang lên như một lời chào đón. Con tàu tạo thành một nét cong mềm uyển chuyển như ôm chân đồi Quyết Thắng. Tôi nhận ra Hàm Rồng không chỉ là ký ức chiến tranh. Đó còn là nơi thiên nhiên, lịch sử và văn hóa đan cài vào nhau như số phận.
Bên kia sông, phía Bắc cầu là làng Yên Vực, nơi có hơn bảy chục dũng sĩ được phong tặng trong những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Phía Nam là Nam Ngạn, vùng đất từng ghi dấu những tập thể và cá nhân dân quân anh hùng. Dưới chân núi phía Tây Bắc là làng cổ Đông Sơn, nơi chí khí con người và chiều sâu văn hóa hiện diện trong từng ngõ nhỏ, giếng cổ, mái nhà xưa. Những viên đá kê đường, những bức tường cũ, những hàng cau lặng lẽ… tất cả vẫn còn hiện diện như đang giữ hộ ký ức của đất Hàm Rồng, minh chứng cho cách người xưa gửi đạo lý vào đời sống. Không phải ngẫu nhiên mà nơi sản sinh nền văn hóa Đông Sơn cũng trở thành một trong những vùng đất kiên cường nhất. Trống đồng rồi pháo cao xạ. Làng cổ rồi trận địa. Những lớp thời gian nối nhau như mạch ngầm chưa từng đứt đoạn.
Ngày chiến tranh, những làng quanh Hàm Rồng đã đi qua bom đạn như đi qua một mùa giông lửa kéo dài. Có những người cha chưa được đêm nào có một giấc ngủ yên. Có những cô gái chưa kịp yêu đã đi qua hết nỗi đau của một kiếp người. Và có những đứa trẻ lớn lên quen tiếng máy bay nhiều hơn tiếng ru của mẹ.
Trong dòng hồi tưởng ấy, tôi nhớ lần gặp chị Ngô Thị Tuyển, người con gái anh hùng từng vác hai hòm đạn nặng hơn hai lần trọng lượng cơ thể mình, trong dịp Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trung đoàn pháo cao xạ phòng không Anh hùng 228 (1958-2008), còn gọi là Trung đoàn Hàm Rồng. Chị kể rằng sau một trận bom đạn dữ dội ở Bến Cây Sung, một con tàu hải quân của ta bị đánh trúng. Khi khói tan, chị bơi ra, trèo lên tàu rồi nâng một chiến sĩ đã hy sinh trên hai tay, đứng trên mũi tàu gọi lớn: “Các anh ơi…”.
Đó không còn là tiếng gọi tìm người sống. Đó giống như một nỗ lực giữ lại sự sống đang rời khỏi thế gian. Giữa khói bom và sông nước mênh mang, không ai trả lời. Chỉ còn tiếng gió và sự im lặng kéo dài đến tận hôm nay.
Ông Tĩnh đi chậm trên trận địa cũ. Không phải vì tuổi tác mà như sợ chạm vào phần đất từng quá đau. Ông chỉ từng vị trí đặt pháo, từng căn hầm, nơi bom rơi, chỗ ông và đồng đội từng nằm, rồi có người đã nằm xuống mãi mãi. Có hố bom vẫn còn sâu hoắm. Ông cúi xuống nhặt vài lá thông khô vuốt nhẹ trong tay run run, cẩn thận bỏ vào túi áo.
Đứng trên đỉnh núi Rồng này, tôi chợt nhớ một câu chuyện mà những người cao niên ở Hàm Rồng vẫn truyền nhau. Những năm quân Nhật chiếm đóng Đông Dương, tại chính ngọn núi này, lính Nhật trong mỗi ca trực đều bị cấp trên xích chân vào mâm pháo, buộc phải chiến đấu để mong giữ cây cầu Hàm Rồng này trước các đợt không kích của quân Pháp. Còn ông Tĩnh và đồng đội, suốt mười năm bám trụ giữa mưa bom bão đạn của giặc Mỹ trên đỉnh núi này, không một sợi xích nào giữ họ ngoài lời thề “Thà gục trên mâm pháo, quyết không để cầu gục”. Tôi chợt hiểu: Không có gì bền chặt bằng lòng yêu Tổ quốc. Chính tình yêu ấy và lời thề thiêng liêng của người lính đã thôi thúc họ bám trận địa. Để rồi họ đi qua chiến tranh mà chưa bao giờ thật sự rời khỏi nơi ấy.
Rồi ông dừng lại thật lâu, chỉ xuống hố bom và nói rất nhỏ:
- Nguyễn Bá Chữ… binh nhất… quê Xuân Cẩm… Hiệp Hòa… Hà Bắc… khi bom nổ, thân thể anh không còn nguyên vẹn nhưng hai bàn tay vẫn giữ chặt tay quay, nòng pháo vẫn hướng lên trời.
Chúng tôi lặng đi, không ai dám hỏi thêm điều gì. Chỉ thấy đất dưới chân thêm ấm. Gió rất nhẹ.
Chính nơi đây, trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đã trở thành trọng điểm bị đánh phá ác liệt nhất miền Bắc. Giữ vững cây cầu không chỉ là giữ mạch giao thông chiến lược, mà còn giữ nhịp nối giữa hậu phương lớn với tiền tuyến. Có những ngày, bầu trời Hàm Rồng dường như không còn một khoảng trống. Từng tốp máy bay Mỹ gầm rú lao tới, xé nát mây trời, cuộn sóng cả dòng sông Mã, với tham vọng xóa cây cầu và vùng đất địa linh này khỏi bản đồ.
Nhưng rồi, trong hai ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, quân và dân Hàm Rồng đã làm nên một kỳ tích bất tử. Pháo cao xạ, súng bộ binh và ý chí thép của cả một vùng đất đồng loạt hướng lên bầu trời. Chỉ trong hai ngày lịch sử ấy, bốn mươi bảy máy bay Mỹ, trong đó có nhiều chiếc F-105 “Thần Sấm”, đã bị bắn rơi, gây chấn động dư luận thế giới và khiến đối phương phải kinh hoàng trước ý chí Việt Nam.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại, quân và dân Hàm Rồng đã bắn rơi 117 máy bay Mỹ, nhiều giặc lái bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống. Những chiến công ấy đã đưa Hàm Rồng trở thành biểu tượng của ý chí quật cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Bom đạn không chỉ cày xới mặt cầu, băm nát triền núi, khoét sâu lòng đất, mà còn thử thách đến tận cùng lòng quả cảm của con người nơi đây. Và cũng chính từ trong khói lửa ấy, một Hàm Rồng bất khuất đã bước vào lịch sử, trở thành bản hùng ca không bao giờ tắt trong ký ức dân tộc.
Nhà văn Nguyễn Hồng Sơn đứng cạnh tôi. Nơi ông sinh ra nằm ngay bên kia sông, chỉ cách cầu vài trăm mét - nơi mà năm xưa, chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi đã đâm bổ xuống gần nhà ông. Ông lặng im. Nhưng có lẽ, trong tâm can ông, khói lửa và âm thanh dữ dội của một thời vẫn chưa bao giờ nguôi tắt.
Nhìn về phía Nam, không xa đồi C4 là Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng; phía Tây Nam là Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng; phía bên phải là đồi Quyết Thắng. Tất cả yên tĩnh, trầm mặc trong nắng nhẹ. Chính sự trầm mặc ấy khiến người ta hiểu rằng lời thề: “Thà gục trên mâm pháo, quyết không để cầu gục” do Trung sĩ Từ Nguyên Tĩnh viết trên vách hầm năm ấy đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu của quân và dân Hàm Rồng, được gìn giữ bằng biết bao cuộc đời. Cây cầu vẫn hiên ngang bắc qua sông Mã, nhưng để đổi lấy dáng đứng ấy, hơn một nghìn người đã ngã xuống.
Chúng tôi đến khu tưởng niệm giáo viên và học sinh hy sinh tại công trường đê Nam sông Mã. Sáu mươi tư cái tên khắc trên bia đá không gợi cảm giác chiến công mà gợi cảm giác dang dở. Đó là những lớp học chưa kết thúc, những trang vở chưa viết hết, những cuộc đời còn nguyên phần ước mơ phía trước.
Tôi đứng rất lâu trước những dòng tên. Có người mới mười sáu, mười bảy tuổi. Có lẽ buổi sáng hôm ấy các em vẫn nghĩ chiều về còn kịp ăn cơm cùng mẹ, còn bài tập chưa làm xong. Không ai biết một ngày bình thường như bao ngày khác lại thành ngày cuối cùng của cuộc đời.
Chiều xuống, chúng tôi tiếp tục hành trình lên Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng.
Con đường quanh sườn núi mở ra giữa rừng thông xanh mát dịu. Càng lên cao, dòng sông Mã như càng lùi dần, chảy bao quanh núi Hàm Rồng êm ả như một dải lụa xanh. Khi chúng tôi vừa bước vào sân chùa, một tiếng chuông vang lên. Không quá lớn, không ngân quá dài, nhưng âm thanh ấy lại lan tỏa rất xa.
Đứng giữa nơi này - một quần thể kiến trúc Phật giáo nguy nga, dịu nhẹ dưới tán thông xanh và tiếng chuông ngân - thật khó hình dung dưới chân mình từng là trận địa pháo, từng là nơi bom cày hố chồng lên hố, bao người đã ngã xuống.
Đúng lúc ấy, một tốp học sinh với khăn quàng đỏ đi ngang nói cười ríu rít trên sân chùa. Có em giơ điện thoại chụp lầu chuông, chụp cổng tam quan. Có em ngồi vẽ mái chùa soi bóng xuống dòng sông Mã… Có lẽ đây chính là điều những người lính năm xưa đã giữ lại, không phải là những công trình, mà chính là cuộc sống bình yên để các thế hệ nối tiếp được lớn lên hồn nhiên, dưới bầu trời không còn bom đạn chiến tranh.
Đã từng có nhiều ý kiến khác nhau khi xây dựng Thiền viện Trúc Lâm trên vùng đất Hàm Rồng đặc biệt này, chẳng hạn như đây là khu di tích lịch sử quốc phòng đặc biệt, nơi tâm linh, huyệt đạo quốc gia… Nhưng cuối cùng, ngôi chùa vẫn hiện diện. Không phải để thay thế ký ức mà để đứng cạnh ký ức. Không phải để quên đi những gì đã mất mà để nhắc rằng sau đau thương, con người vẫn luôn đi tìm cuộc sống an yên.
Ba anh em chúng tôi dâng hương trước Đức Phật. Đôi bàn tay ông Tĩnh, ông Sơn hơi run run khi cắm nén hương vào lư. Tôi không biết hai ông đang nghĩ gì. Chỉ thấy khi tiếng chuông chùa ngân lên, hai ông đứng lặng. Gương mặt họ thanh thản hơn khi mới đặt chân lên đồi C4.
Khi bước ra khỏi chính điện, ông Tĩnh nói nhỏ: “Từ lúc nghe tiếng chuông, ta cứ thấy nhẹ lòng… Đồng đội của ta nằm đó chắc cũng đỡ hiu quạnh”. Rồi môi ông mím chặt.
Tôi còn nhớ lời sư thầy Thích Kiến Nguyệt, người đầu tiên tìm về dựng chùa ở đây, đã từng nói: “Hàm Rồng - Thanh Hóa là vùng đất địa linh, sông núi hữu tình, từng là nơi đau nhất nên cũng là nơi cần bình yên nhất”.
Có lẽ, con người không thật sự chữa lành bằng cách phủ lấp quá khứ. Điều làm chúng ta tiếp tục bước đi là học cách sống cùng ký ức, để những mất mát đã qua không còn chỉ là nỗi đau, mà trở thành một phần lặng lẽ nâng đỡ hiện tại.
Chiều muộn, chúng tôi rời Hàm Rồng. Đô thị Thanh Hóa đang vươn mình mở rộng. Khu Hàm Rồng hôm nay là quần thể danh thắng văn hóa, tâm linh và di tích lịch sử nằm bên bờ sông Mã, nơi quá khứ và hiện tại hòa vào nhau trong nhịp sống của một đô thị đang phát triển từng ngày. Những khu phố mới sáng đèn. Quảng trường rộng thênh thang. Những cây cầu mới Hoàng Long, Nguyệt Viên rộng mở nối đôi bờ sông. Nhưng cầu Hàm Rồng vẫn ung dung đứng đó, lặng lẽ sáng đèn như một người đã đi qua quá nhiều biến cố mà không cần nói gì về mình nữa.
Xe đi xa dần. Rừng thông như chiếc áo khoác trên lưng rồng ngả sang màu tím biếc. Sông Mã phản chiếu ánh điện như còn rớt nắng chiều. Làng cổ Đông Sơn nép dưới chân núi như một phần ký ức còn nguyên hình dạng. Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng thấp thoáng mái đỏ cong như những bông hoa nhỏ trên lưng rồng, và từ đó tiếng chuông chiều lại ngân chậm mà vang xa.
Ông Tĩnh và ông Sơn vẫn im lặng. Chiếc xe bon nhẹ trên đường. Tôi biết ký ức về những năm tháng chiến tranh chưa bao giờ thật sự rời khỏi họ. Nhưng ký ức ấy không níu con người ở lại với quá khứ. Từ người cầm súng trở thành người cầm bút, các ông đã gửi những năm tháng ấy vào trang viết như một lời tri ân dành cho đồng đội và cho quê hương. Những trang sách lặng lẽ đi đến với người đọc, nằm trên trang sách học trò, gieo vào lòng các thế hệ sau sự biết ơn và tình yêu đối với mảnh đất này. Và rồi thêm tiếng chuông hòa cùng ánh sáng ký ức ấy, âm thầm không chói lòa nhưng bền bỉ, càng soi sáng con đường hôm nay.
Hàm Rồng không chỉ là một địa danh. Đó là nơi nhiều lớp thời gian cùng tồn tại. Có chiến tranh và hòa bình. Có những người đã nằm xuống, có những người ở lại gìn giữ ký ức, và có cả một thế hệ trẻ hôm nay đang tiếp nối, dựng xây cuộc sống hồi sinh mạnh mẽ trên vùng đất lửa năm xưa.
Nếu một ngày bạn đi qua xứ Thanh, xin đừng vội. Hãy dành thời gian rẽ vào Hàm Rồng, đi chậm lại một chút, đứng giữa núi, giữa cầu, giữa bến sông, giữa những gì đã mất và những gì vẫn còn để nhận ra rằng có những vùng đất không thể chỉ cảm nhận bằng tai, bằng mắt mà phải hiểu bằng lịch sử và chiều sâu tâm thức.
Hàm Rồng hôm nay là nơi hội tụ giữa lịch sử và hiện tại, một khu danh thắng mang vẻ đẹp vừa trầm mặc vừa sống động. Làng cổ vẫn phủ màu rêu phong, những người đã nằm xuống vẫn tiếp tục sống trong ký ức của những người ở lại. Giữa không gian thanh tịnh của quần thể Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng, tiếng chuông chùa ngân vang trên phần đất từng là trận địa khốc liệt của bom đạn, đưa lòng người trở về với một miền an nhiên, nơi quá khứ và hiện tại giao hòa trong sự tri ân và tĩnh lặng.
Dòng sông Mã vẫn chảy qua Hàm Rồng, trong xanh và hiền hòa hơn, như đã gạn lọc đi phần dữ dội và tăm tối nhất của ký ức. Thông Hàm Rồng thêm xanh. Những công trình mới tiếp tục mọc lên, ánh sáng đời sống hôm nay phủ lên lớp dấu tích cũ. Và Hàm Rồng luôn dang rộng cánh tay đón bè bạn trong tiếng chuông ngân vang, trong điệu hò sông Mã, không phải vì đất đã quên đau, mà vì mảnh đất này đã chịu đau đủ lâu để biết cách hồi sinh và hòa mình vào nhịp sống mới.
7-2026
B.H.T