NGÔ ĐỨC HÀNH
Bến En xanh và khát vọng
Bút ký dự thi
Tạm biệt làn sóng cuồn cuộn của biển Sầm Sơn lúc 8 giờ 30 phút sáng, chúng tôi ngược về thành phố Thanh Hóa (cũ) nối dài hành trình tìm về Bến En. Nhìn kim đồng hồ vừa nhích tới gần 10 giờ. Tôi chợt nghĩ hóa ra khoảng cách ấy thật gần, một sự gắn kết du lịch nghỉ dưỡng ở Sầm Sơn với du lịch xanh, du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Bến En.
Cuộc sống hiện đại vốn cần những nhịp chuyển mình như thế, để người ta biết tìm về và nâng cao giá trị sống. Chứ nếu đến Sầm Sơn chỉ để ngâm mình trong nước mặn, “tắm mắt” nhìn thiên hạ, ăn vài bữa hải sản rồi về thì du lịch e là cũng “nhạt” lắm.
Ông tài xế vui tính vừa ôm vô lăng vừa thủ thỉ: “Từ Hà Nội vào tới Vườn quốc gia Bến En, có ba sự lựa chọn: dù đi theo Quốc lộ 1A (cũ), đường Hồ Chí Minh hay cao tốc Bắc - Nam, thì chặng đường đều hơn 200 kilomet. Là dân trong ngành giao thông, tôi càng thấm thía câu nói “giao thông phải đi trước một bước”. Ở thời đại số, hạ tầng đánh thức một vùng di sản đâu chỉ có những con đường nhựa thẳng tắp, mà còn là mạng lưới điện, nguồn nước sạch, sóng wifi cho đến hệ thống lưu trú và dịch vụ văn hóa đi kèm để gắn du lịch truyền thống với du lịch số. Nhìn những cung đường đổi thay hôm nay, lòng một người làm nghề như tôi lại dâng lên niềm vui và sự tự hào”.
Chiếc xe của chúng tôi khẽ rẽ lối tại ngã ba Voi - điểm giao cắt giữa Quốc lộ 1A và tuyến đại lộ mới chạy thẳng về phía Sầm Sơn. Con đường mới trị giá 1.500 tỷ đồng này vừa được đưa vào sử dụng từ tháng 4 năm nay. Nhìn đại lộ hiện đại trải dài, tôi thầm nghĩ, nếu không có những nguồn vốn đầu tư lớn như vậy, mọi danh thắng dù tiềm năng đến mấy cũng sẽ mãi “ngủ quên”. Tuy nhiên, thay vì rẽ về phía biển, xe chúng tôi lại rẽ theo hướng ngược lại, rời xa đại lộ để tìm vào Quốc lộ 45 tiến thẳng về phía Vườn quốc gia Bến En.
Đây là lần đầu tiên tôi đến Bến En, dù đã nghe danh từ lâu.
Một vùng non nước thật hữu tình hiện ra trước mắt. Chẳng biết ai là người đầu tiên ví von Vườn quốc gia Bến En là “Hạ Long xứ Thanh”? Hay nói cách khác, ai là người sở hữu “bản quyền” cho tên gọi này? Có lẽ chẳng ai trả lời được. Chỉ biết rằng, cụm từ ấy lâu đã trở thành câu cửa miệng, là ngôn ngữ báo chí và của cả những cuốn cẩm nang du lịch…
Nhưng sau hai giờ đồng hồ được trải nghiệm, thả hồn du ngoạn trên sóng nước, tôi mạo muội “đính chính” lại. Bản chất của cái danh xưng “Hạ Long xứ Thanh” ấy, thực chất chính là lòng hồ Sông Mực. Hồ Sông Mực với hơn 4.000 hecta mặt nước ôm trọn 21 hòn đảo nhấp nhô giữa núi non hùng vĩ của xứ Thanh. Hồ được hình thành do chặn dòng sông Mực - một nhánh thượng nguồn của sông Yên, để làm thủy điện, từ năm 1977. Hiện nay hồ là một phần của Vườn quốc gia Bến En. Nơi đây sở hữu những rừng nguyên sinh ngút ngàn cùng một hệ sinh thái đa dạng của Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung.
Tôi tự chất vấn mình: Có mấy ai đến du lịch ở Vườn quốc gia Bến En hiểu tường tận, được sống tường tận cùng Bến En? Chắc rất ít, nếu không muốn nói là “chỉ đếm trên đầu ngón tay”. Tôi cố hình dung: Phần lớn du khách tham gia tour du lịch cũng chỉ mới kịp du ngoạn bằng thuyền trên lòng hồ phẳng lặng, chụp vài bức ảnh kỷ niệm rồi vội vã rời đi, rất ít đoàn, ít người có thời gian, điều kiện tham gia hành trình trekking, xuyên qua những tán rừng già để nghe tiếng lá rụng, nghe hơi thở của đại ngàn và thực sự tận hưởng hạnh phúc nguyên sơ mà Bến En ban tặng.
Đưa tôi đi vòng quanh hồ là anh Nguyễn Xuân Sáu, gã tài công ca nô sinh năm 1987. Gần 40 tuổi, nước da nhuộm màu sương gió nhưng Sáu vẫn chưa chịu lập gia đình, cứ như anh đã đem lòng chung thủy trao trọn cho non nước nơi đây. Ngồi trên ca nô, phóng tầm mắt ra những vạt xanh ngút đang nghiêng mình soi bóng, tôi khẽ hỏi Sáu:
- Những cánh rừng ngút ngàn xung quanh hồ này có phải là rừng tự nhiên không em?
Xuân Sáu trả lời thẽ thọt:
- Rừng tự nhiên đấy anh. Nhìn từ xa thế này khó thấy cây nào đại thụ, nhưng ẩn sâu trong thảm thực vật kia là bao nhiêu gỗ quý, nhất là lim xanh, có cây tuổi đời đến một nghìn năm, đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Trong trùng điệp rừng trước mặt mình, ngoài lim xanh ra còn nhiều loại quý như sến, táu, dổi…
Lời Xuân Sáu thủ thỉ bên tai khiến lòng tôi trào dâng một niềm tự hào. Đó là những loài cây đặc hữu của Việt Nam, bản tính kiên cường và kiêu hãnh, chẳng thể lẫn lộn với lim Lào hay loài căm xe ở nước ngoài mà những năm gần đây các doanh nghiệp thường nhập khẩu gỗ từ Nam Phi và một số nước về phục vụ nhu cầu trong nước.
Nhắc đến rừng xứ Thanh, ký ức trong tôi chợt ngược về chuyến đi tháng tư vừa rồi. Cũng xuất phát từ thành phố Thanh Hóa, tôi ngược ngàn lên cửa khẩu Na Mèo. Con đường độc đạo xuyên qua những cánh rừng bạt ngàn, cho tôi một nhận thức sâu sắc: miền Tây Thanh Hóa chính là nơi có độ che phủ của rừng tuyệt vời nhất. Và trong một khoảnh khắc đầy kiêu hãnh, tôi chợt nhận ra: Thanh Hóa xứng đáng là điểm sáng đi đầu trong việc gìn giữ và bảo vệ sắc xanh đại ngàn.
Mải mê ngắm rừng và những hòn đảo xanh liên tiếp hiện ra trước mắt đầy mê hoặc, bất giác, một cánh cò trắng bình yên từ đâu bay đến trên đầu chúng tôi và đáp xuống phía xa xa. Tôi lại tò mò hỏi Xuân Sáu:
- Trong những cánh rừng trước mặt chúng ta, chắc nhiều động vật lắm phải không em?
- Dạ. Còn nhiều anh ơi, ngày xưa ở đây còn có cả “Ông ba mươi” nữa cơ mà! - Xuân Sáu cười, ánh mắt lấp lánh niềm tự hào của đứa con đại ngàn.
Cái sự “nhiều” mà Sáu nói, tôi đã kịp đọc trên tờ catalogue của Vườn quốc gia Bến En nhận từ bàn đón tiếp của khu du lịch hồ Sông Mực. Nơi đây thực sự là một khu đa dạng sinh học kiểu mẫu. Nơi đây nuôi dưỡng 1.417 loài thực vật bậc cao. Trong đó có hơn 300 loài cây dược liệu quý như: mã tiền, sa nhân, thu hải đường, hương bài… Động vật cũng phong phú với hơn 1.536 loài. Chiếm số lượng đông đảo nhất có lẽ là chim với 283 loài, chiếm hơn 18%, kế đến là thú, chiếm gần 6,7%; và ngay dưới làn nước trong xanh mà chiếc ca nô rẽ sóng đưa tôi đi là thế giới bí ẩn của các loài cá, động vật nổi, động vật đáy.
Tuy nhiên, đằng sau sự trù phú ấy là một thực tế đáng suy ngẫm. Theo Ban Quản lý Vườn quốc gia Bến En hiện có hơn 500 loài động, thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng. Các loài này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 2014.
Được thành lập từ năm 1964, Danh sách đỏ IUCN là hệ thống tài liệu toàn diện nhất về thực trạng bảo tồn các loài động vật và thực vật trên thế giới. Thông qua việc công bố danh sách này hàng năm, IUCN đưa ra những cảnh báo khẩn cấp về sự suy thoái của môi trường thiên nhiên toàn cầu, cũng như những tác động tiêu cực từ con người lên sự sống của Trái Đất.
Nhìn cánh cò vừa bay khuất, tôi chợt nghĩ về những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, từ Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (gia nhập vào năm 1987), Công ước Ramsar về bảo tồn và sử dụng các vùng đất ngập nước (1989), Công ước về Đa dạng sinh học (1994) hay Công ước CITES về thương mại quốc tế đối với các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (1994)... Tất cả những văn bản pháp lý mang tầm nhân loại ấy, suy cho cùng, cũng chỉ để giữ lại màu xanh cho những góc trời như Bến En, để những người như tôi còn cơ hội ngồi trên ca nô mà thưởng ngoạn một cõi đi về bình yên.
Hành trình đưa tôi đi qua những con suối trong vắt và những hồ nước mênh mông - nơi mà theo lời Xuân Sáu, vẫn là lãnh địa của nhiều loại động vật quý hiếm như: khỉ mặt đỏ tinh khôn hay loài chim phượng hoàng đất... Không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tiềm ẩn của khu rừng, con người ta bỗng thấy mình thật nhỏ bé, được đắm chìm trong bầu không khí trong lành và lắng nghe âm thanh trong trẻo của núi rừng, suối thác để thấy tâm hồn thêm tươi mới, tràn đầy hứng khởi.
Xuân Sáu khéo léo lái ca nô cập vào đảo Thực Vật, hòn đảo có diện tích lớn nhất trong số hai mươi mốt đảo nổi trên hồ Sông Mực, rộng tới 54 hecta. Ở Bến En, các hòn đảo đều được ưu ái đặt cho những cái tên nghe thật mỹ miều như: đảo Tự Do, đảo Hạnh Phúc, đảo Núi Đôi… Trên đảo Thực Vật, tôi bắt gặp một vài dấu tích của cơ sở vật chất từ các dự án bảo tồn năm xưa, có lẽ là từ quỹ VCF (Quỹ Bảo tồn Việt Nam). Những dòng chữ ấy vẫn còn hằn rõ trên vài chiếc ghế đá, bàn đá ngoài trời nằm lặng lẽ dưới bóng cây. Gần đó, mấy chiếc thuyền kayak nằm chỏng chơ giữa mưa nắng. Nhìn cảnh ấy, tôi chợt dâng lên một nỗi băn khoăn. Nếu du khách đến đây ai cũng như tôi, chỉ “cưỡi ngựa xem hoa”, check in rồi vội vã rời đi thì sao nhỉ? Có lẽ những giá trị của hồ Sông Mực sẽ mãi nằm lại phía sau mà chẳng một ai thực sự chạm tới.
Sau một vòng dạo chơi lòng hồ, chiếc ca nô đưa tôi trở lại bến tàu gần đập thủy điện. Chia tay Xuân Sáu, thật may mắn cái duyên thế nào lại cho tôi cơ hội được gặp Hoàng Ngọc Sơn - một cán bộ trẻ tuổi của Hạt Kiểm lâm Như Thanh. Ngọc Sơn dẫn tôi vào thăm phòng trưng bày các tiêu bản động vật của Vườn quốc gia Bến En. Bước vào căn phòng, tôi như lạc vào một thế giới hoang dã thu nhỏ. Trong các tủ kính, đầy đủ các loài như: hổ Đông Dương, báo gấm, gấu ngựa, khỉ mặt đỏ, trăn gấm... Đây đều là những loài nằm trong Sách đỏ. Thậm chí, ở đây còn có hươu, nai, ngựa vằn cùng vô số loài chim, bò sát, lưỡng cư độc đáo khác.
Nhìn những mẫu vật, Ngọc Sơn hào hứng chia sẻ:
- Năm 2025, niềm vui lớn nhất của chúng cháu là cứu hộ thành công một cá thể trăn gấm nặng 10 kilogam và hai chú cu li nhỏ do dân xã Yên Thọ (nay là xã Như Thanh) tự nguyện giao nộp. Họ bắt được khi lên đồi làm rẫy.
Tôi biết, trăn gấm (tên khoa học Malayopython reticulatus) là loài động vật hoang dã thuộc nhóm IIB; Cu li nhỏ (có tên khoa học Nycticebus pygmaeus) thuộc nhóm IB, có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Đây là hai loài động vật được xếp vào danh mục các loài động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Việc người dân tự giác giao nộp chính là quả ngọt từ những tháng ngày bền bỉ gieo ý thức vào lòng bản làng của các chiến sĩ kiểm lâm nơi đây.
Trò chuyện với Ngọc Sơn, tôi mới thấu hiểu sự phức tạp trong quản lý địa bàn của vùng đất này. Trên vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bến En là sự đan xen của nhiều đơn vị, hoạt động với chức năng, nhiệm vụ riêng: Từ Lâm trường Như Thanh; Thủy điện sông Mực; Trung tâm thể dục thể thao, Hạt Kiểm lâm Như Thanh; Công ty TNHH MTV Sông Chu; Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh...
- Thế đơn vị của cháu được giao quản lý bao nhiêu diện tích rừng? - Tôi tò mò hỏi Sơn.
- Thưa chú, đúng bằng toàn bộ diện tích của Vườn quốc gia Bến En đấy ạ.
Cả một đại ngàn mênh mông như thế, vậy mà Hạt Kiểm lâm Như Thanh chỉ vỏn vẹn có 51 biên chế, chia nhau cắm chốt tại 7 trạm kiểm lâm. Công việc của họ cứ thế xoay vần theo những bước chân tuần tra không mỏi mệt: hôm nay lặn lội vào bản tuyên truyền phòng cháy chữa cháy rừng giữa cái nắng hè như thiêu như đốt, ngày mai lại mật phục bắt giữ lâm tặc, rồi cứu hộ động vật hoang dã để trả chúng về với tự nhiên.
- Giữa rừng sâu hiểm trở, đối mặt với lâm tặc liều lĩnh, các cháu có được trang bị vũ khí không? - Tôi hỏi mà lòng thầm lo lắng.
- Có chứ chú. Đơn vị có súng AK và các loại công cụ hỗ trợ.
Tôi cảm nhận hạnh phúc của những người làm công tác bảo vệ rừng, từ khuôn mặt rạng rỡ của Ngọc Sơn. Điều thú vị khi nói chuyện, Ngọc Sơn còn hào hứng khoe với tôi về sự phối hợp nhịp nhàng giữa Hạt Kiểm lâm Như Thanh và Trung tâm phát triển sinh vật và dịch vụ môi trường rừng của Vườn trong việc phát triển các tour du lịch trải nghiệm, tư vấn kỹ thuật trồng rừng và các dự án sinh thái bền vững.
Khi tôi đến Vườn quốc gia Bến En cũng như Thanh Hóa nói chung, đang là thời điểm khai thác du lịch vì học sinh bắt đầu nghỉ hè. Ngọc Sơn cho biết, nhiều trường học trong tỉnh đã tổ chức cho học sinh tới tham quan Vườn, trải nghiệm các giáo cụ trực quan để nâng cao chất lượng giáo dục nhận thức về môi trường.
Trong phạm vi quản lý của Vườn quốc gia Bến En đâu chỉ có lòng hồ Sông Mực. Hang Ngọc và hang Cân chính là những điểm nhấn kỳ thú giữa thiên nhiên hùng vĩ. Đôi mắt Ngọc Sơn sáng lên khi chỉ tay về phía lối mòn Bến Sung - Yên Cát, nơi đi khoảng 5 kilomet sẽ đến được hang Ngọc. Bên trong hang, những dòng thạch nhũ với vô vàn hình thù kỳ lạ, đặc biệt là khối đá hình cầu lớn phát ra ánh sáng mờ ảo, tạo nên khung cảnh huyền bí. Cách đó chưa đầy 1 kilomet là hang Cân. Từ đây leo lên núi để vào hang Cân du khách sẽ phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh non nước hồ Sông Mực và cánh rừng bạt ngàn của Vườn.
Ngọc Sơn say sưa nói, giọng anh hòa quyện cái chân chất của người Kinh và nét mộc mạc của người Mường. Ngọc Sơn vốn gốc Hoằng Hóa nhưng sinh ra và lớn lên tại Như Thanh. Sơn có bố là người Kinh, mẹ là người Mường. Anh nói vui: “Từ lớp 1 đến lớp 9 cháu là người Kinh, giờ cháu là người Mường”. Trên mảnh đất Như Thanh này có ba cộng đồng Kinh, Thái, Mường cùng sinh sống. Vùng đệm và vùng lõi của Vườn quốc gia Bến En đều có dân sinh sống. Sự đan xen ấy mang lại một dòng chảy văn hóa phong phú, nhưng cũng đặt lên vai chính quyền địa phương và những chiến sĩ kiểm lâm như Sơn một trọng trách gìn giữ bình yên nặng nề, vất vả hơn bao giờ hết.
Biết Ngọc Sơn, đam mê du lịch, lại từng nhiều lần dẫn cho khách các tour du lịch, tôi gặng hỏi:
- Cháu thấy đã có tour nào chạm được vào phần hồn của văn hóa bản địa chưa?
- Có chứ chú. Du khách bây giờ thích lắm cái cảm giác được sống cùng bản làng, trải nghiệm nếp sinh hoạt và thưởng thức những món ăn truyền thống độc đáo của người Thái, người Mường. Người dân nơi đây lại nổi tiếng với lòng hiếu khách, thân thiện, bà con vui khi được đón khách du lịch. Rồi còn cắm trại và dã ngoại trong rừng. Bến En có nhiều bãi camping tuyệt đẹp, từ những nơi có sẵn hạ tầng cho đến những góc hoàn toàn hoang dã. Ai muốn trốn phố thị, cứ đến đây dựng lều, chèo thuyền kayak lướt đi trên mặt hồ phẳng lặng, thả hồn mình tan vào thiên nhiên thì quả là tuyệt vời chú à.
Bến En, một vùng non nước hữu tình. Trải qua bao biến thiên của tạo hóa, nơi đây vẫn giữ được vẻ đẹp hùng vĩ, nguyên sơ và nên thơ, như món quà vô giá mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho con người. Hoàng Ngọc Sơn, xem ra không phải “dạng vừa”, anh như một “hướng dẫn viên du lịch” có kinh nghiệm, khi hào hứng giới thiệu với tôi về các hoạt động leo núi, thám hiểm rừng già và câu cá hồ Sông Mực trong hành trình khám phá thiên nhiên tuyệt đẹp của Bến En.
Tôi biết trong những cánh rừng già kia, trong cộng đồng dân cư nơi đây còn có bao huyền tích ly kỳ được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Ngay cái tên hồ Sông Mực, theo người dân địa phương, bắt nguồn từ truyền thuyết về một con mực - con vua Thủy tề, mải mê lên rừng chơi, khi nước cạn không về được nên đã chết tại đây. Lại có truyền thuyết nói rằng, đó là do hồ có các nhánh rẽ giống như tua của con mực. Còn tên gọi “Bến En” bắt nguồn từ việc ngày xưa người dân tụ họp đánh bắt cá rất đông, mỗi khi có thuyền cập bến lại chen lấn nhau. Từ “En” là từ cổ ở địa phương, xuất phát từ “chen lấn”.
Nhưng điều khiến tôi trân quý nhất trong hành trình này chính là nhận ra con đường hồi sinh màu xanh, đa dạng sinh học của Bến En. Người dân nơi đây đã nhận ra bảo vệ rừng chính là bảo vệ sinh kế của chính mình. Bản thân Vườn quốc gia Bến En đã “nhập cuộc” với mô hình chính quyền hai cấp, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số vào trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Qua tìm hiểu, tôi được biết Ban Quản lý Vườn quốc gia Bến En chủ động ứng dụng phần mềm SMART và công nghệ GPS trong quản lý, giám sát tài nguyên rừng; tăng cường nắm bắt thông tin từ cơ sở; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, huy động các tổ đội bảo vệ rừng và cộng đồng dân cư cùng tham gia giữ rừng, bảo vệ an ninh sinh thái.
Tôi thầm ước ao người dân sống trong các làng, bản thuộc vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bến En sẽ ngày càng nâng cao nhận thức về chuỗi giá trị du lịch, tích cực tham gia đầu tư, khai thác ở mức độ phù hợp. Từ đó, tạo ra nhiều “sản phẩm du lịch” độc đáo, giúp cho du lịch sinh thái, du lịch xanh gắn văn hóa bản địa ở Như Thanh ngày càng phát triển bền vững. Dẫu tôi biết, chỉ tính riêng năm 2025, đã có hàng ngàn lượt khách trong và ngoài tỉnh tìm đến Bến En.
Trước khi chia tay Nguyễn Xuân Sáu và Hoàng Ngọc Sơn, tôi đọc cho hai chàng trai nghe câu thơ của nhà thơ Lê Văn Sự: “Đêm buông từng giọt sao rơi/ Trăng lên khoác áo vàng tươi như rằm” (Non nước Bến En). Bến En dù ngày hay đêm, mùa nào cũng có một vẻ đẹp làm say lòng người. Bước lên xe trở về, lòng tôi vẫn cứ thầm thì: Ước chi du khách đến với nơi này không chỉ dừng chân chớp nhoáng, mà chịu ở lại, để cùng thức, cùng ngủ và cùng trải nghiệm một đêm trăng huyền diệu?
Hà Nội, ngày 01-6-2026
N.Đ.H