Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /     /   Hồn xưa giữa mùa hội mới
Hồn xưa giữa mùa hội mới

ĐÌNH GIANG

Hồn xưa giữa mùa hội mới
Kỳ 1: Bản làng lên Tour!

Bút ký dự thi

Tôi đã đi một mạch qua những bản làng du lịch sáng quắc ánh đèn ở miền rừng xứ Thanh, để tìm lại một chút của hồi ức đã qua, một bóng hình người con gái Thái trong bộ quần áo xưa, cứ trở đi trở lại trong tâm thức. Không phải lần đầu, nhưng mỗi lần trở lại, cảm xúc với tôi về miền đất Thái cổ đều mới. Như thể núi đồi vẫn đó, bản làng vẫn đó, mà lòng tôi cứ nao nao với từng đổi thay, từng hơi thở mới len lỏi qua nếp cũ, giữa những khoảng lặng văn hóa vừa được đánh thức, vừa như đang bị đánh đổi…
Chuyến đi đến bản Hiêu, xã Cổ Lũng, một “thủ phủ homestay” của miền rừng Pù Luông. Những nếp nhà sàn truyền thống nằm rải rác bên sườn núi, với thửa ruộng bậc thang xanh mướt uốn lượn như dải lụa năm nào, nay chỉ còn sót lại trên đầu ngón tay, hoặc đã bị cách tân. Trên con đường lát đá sỏi, từng tốp du khách bước chầm chậm, ngắm nhìn thật kỹ để không bỏ sót cảnh sắc kỳ vĩ nào của thiên nhiên. Đa phần trong số các đoàn du khách đi cùng chuyến với chúng tôi đều là người miền xuôi, thị thành. Những người quanh năm không thấy núi, không được nghe tiếng róc rách của suối rừng, sống nơi phố thị nhộn nhịp với mùi xăng khói khét lẹt… Vi Văn Dế, người ở bản, một tri kỷ cùng tuổi với tôi, quen nhau qua những lần ngược núi, lý giải: “Cũng bởi cái lạ lẫm miền rừng mà họ mới lên! Cũng có những người họ lên để trải nghiệm nét văn hóa của đồng bào. Được ăn, được ngủ, được lên đồi hái măng, lên nương gặt lúa... Cũng có người lên để nghỉ ngơi, thay đổi nhịp sống thường ngày áp lực”. 
Lựa cho mình một mom đá mồ côi lớn, Dế quẩn quanh lôi trong tay nải một đỏn cơm lam, một đùm lá chuối đựng muối vừng đã giã, xếp đặt, bày biện trên một tờ báo cũ. Với những động tác thuần thục, thanh cơm lam nhanh chóng được Dế tách ra để lộ phần nõn với lớp màng lụa trắng của thanh vầu. Mùi thơm tỏa ra, thanh cơm uốn cong nhưng không gãy. Dế hí hửng, khoe: “Gạo nương cho cơm dẻo và thơm nhà báo ạ! Khi cái bụng réo chuông mà có món này thì hết nước chấm. Bà con ăn miết mà vẫn ngon, chứ nói gì khách dưới xuôi lên, leo được vài vòng đồi, chân mỏi, người dã ra vì đói, họ ăn có khác gì sơn hào hải vị của vua chúa đâu!”. Nói rồi lão cười khè khè, bẻ cho tôi một phần cơm lam, bảo chấm muối vừng. 
Phía mạn phải con đường dẫn vào chòm bản, một đoàn du khách từ đâu đã lao nhao với tiếng máy ảnh “tách tách”, tiếng cười của người Kinh, có lẫn khách Tây nhộn nhịp. Thời điểm này, dịp cuối tuần nên các đoàn khách đi đông, gần như homestay nào cũng “cháy” phòng. Dĩ nhiên đó là với các đoàn du khách khác, chứ với chúng tôi, dịp nào cũng vậy, trước khi lên đã book trước phòng của nhà Dế. Lần này, may mắn khi ý nguyện được tiếp cụ thân sinh ra Dế có nhà. Lần trước, trước nữa, đều nhỡ nhịp. Khi thì cụ vào Nam với anh con út; khi cụ lại ra Hà Nội với cô con gái. Chỉ có ngồi với cụ, tôi mới có cơ hội để tìm được chất xưa của người Thái cổ, từ văn hóa cho đến chữ viết. 
Hàn huyên với người đàn ông nhỏ thó, nhưng thân mình thì rắn rỏi như cây lim rừng. Dế kể cho tôi nghe, một thời khi mà bản làng Pù Luông hãy còn chìm trong tăm tối vì thiếu cái điện, du lịch còn chưa phát triển, Dế đã phải vào Nam, ra Bắc để làm phụ hồ, bốc vác. Thậm chí khi lấy vợ, có con nhỏ rồi, hai vợ chồng vẫn phải đóng cửa, gửi con “ly hương” vào Nam đi làm thuê. Đằng đẵng nhiều năm, khi bản làng có điện lưới, du lịch được hình thành, hai vợ chồng mới khăn gói trở về bản, tự xây cho mình một khu homestay như hiện tại. 
“Cũng thuận lợi nhà báo ạ! Lúc trước hai vợ chồng Dế sau nhiều năm phụ hồ, xây dựng cũng học mót được chút ít cái nghề. Về nhà, biết bỏ hồ, bỏ gạch để xây tường, xây vách, lát nền,… Bà con ai cũng khen vợ chồng khéo tay. Với khách, nhiều người họ góp ý thiết kế không gian, kiến trúc. Từ chỗ chỉ tiếp đón được 1 gia đình với 5 thành viên, thì nay khu homestay của Dế có thể đón 1 đoàn du khách từ 15 đến 20 người”.      
Trời cũng dần nhá nhem. Bản đã lên đèn sáng trưng. Các đoàn du khách lại vang lên bên những mâm cơm rượu với tiếng chúc, tiếng dô hò... Đoàn chúng tôi trở về homestay của Dế. Điện đã được thắp sáng từ đầu ngõ. Vốn là người Thái bản địa, nên trong căn nhà sàn được đầu tư khang trang, sơn bóng, là ánh đèn vàng hoàng hôn hắt lên những bức tường gạch thô, không chát, lãng mạn. Một số vật dụng nông nghiệp được truyền lại từ đời trước Dế đều rất trân trọng, bài trí đầy tính nghệ thuật. Từ khung cửi, đến những tấm vải thổ cẩm được dệt bằng tay, Dế bố trí đặt ở góc phải căn nhà sàn, tạo thành khu trưng bày cho du khách chụp ảnh, check in. Nhiều khách thích, hỏi có thể mua khung cửi, nhưng Dế bảo không bán, cái này là “hồn nhà”, không có giá.
Cụ Ểu thân sinh của Dế, năm nay cũng đã gần 90, thế nhưng, ngoài khó khăn trong đi lại, cụ vẫn rất minh mẫn, tinh anh khi nói chuyện với chúng tôi. Hỏi về người Thái cổ, cụ bảo người Thái ở xứ ta có hai nhóm chính, là Thái đen và Thái trắng. Một trong những điểm để phân biệt nằm ở trang phục. Như, Thái trắng áo cánh ngắn màu sáng, cổ hình chữ V, váy đen nhẵn, ít hoa văn. Còn người Thái đen thì áo cổ tròn tối màu, cài khuy bạc ở vai, chân váy thêu họa tiết đa tầng hài hòa. Người phụ nữ Thái chưa cưới thường búi tóc sau gáy, khi có chồng rồi thì búi ngay đỉnh đầu… Nói vậy chứ bây chừ “Kinh hóa” hết rồi, chỉ có dịp lễ, hoặc các homestay họ tổ chức cho du khách xem những điệu múa xưa thì mới có người mặc trang phục dân tộc. Nói đến đây, cụ Ểu lặng đi, buông tiếng thở dài: “Nhiều homestay không nắm được cái hồn cốt về trang phục, nên có sự cách tân đi nhiều. Rồi tiếng khèn bè, nhịp khua luống, múa sạp… tất cả đều bị thương mại hóa bằng loa đài, ánh sáng rối ren, không còn thực chất. Tôi nói với Dế, làm du lịch cộng đồng, lấy nét văn hóa bản làng làm căn cốt thì phải làm sao giữ được cái chất xưa của người Thái cổ, tránh sự biến tướng vì lợi nhuận, như vậy là có tội với tổ tiên”. 
Giữa không gian nhà sàn nghi ngút khói bếp, đoàn du khách chúng tôi ngồi quây tròn bên mâm cơm đặt thấp, chạm tay là tới những mẹt đồ ăn được bày biện khéo léo trên lá chuối xanh non. Điểm nổi bật của mâm ẩm thực là món cá suối nướng thơm lừng, cơm lam mềm dẻo, muối mắc khén cay nồng, miếng thịt trâu gác bếp khô còn đậm đà mùi của khói… Tôi nhắm mắt lại thật lâu, như muốn giữ lại cái dư vị hiếm hoi mà có lẽ chỉ ở những homestay mang tính chất gia đình như nhà Dế còn giữ được. Mỗi món ăn không chỉ ngon, mà còn mang theo hồn đất, hơi rừng, sự chân thành mộc mạc của người Thái, thứ khiến bước chân kẻ lữ khách như chúng tôi mãi không quên.
Tôi trăn trở trước những tâm sự của Dế: “Rằng sự phát triển nào cũng cần đánh đổi. Nhưng nỗi lo là, khi cái “hồn” văn hóa bản địa bị gọt giũa để phục vụ thị hiếu, thì nó cũng có thể dần phai nhạt. Đâu đó trong những tour du lịch được thiết kế sẵn, người ta nhìn thấy bản làng mà không thấy bản sắc. Muốn du khách quay lại, không thể chỉ là phong cảnh đẹp, mà phải có chất văn hóa đậm đà và thật sự của người bản địa”. Nỗi lo của Dế như một lời cam kết âm thầm với cụ Ểu, với bản làng. Và tôi tin, trong những người trẻ như Dế, vẫn có những lớp người trẻ khác cũng đang giữ lửa cho văn hóa quê hương.
Trăng muộn treo lưng chừng trên dãy Pù Luông. Ánh bạc mỏng đổ xuống những mái nhà sàn ẩn trong sương và lấp loáng trên mặt ruộng bậc thang mùa lúa chín. Đêm thứ hai ở bản Đôn, tôi cùng nhóm bạn vẫn miệt mài với hành trình đi tìm những giá trị văn hóa cốt lõi nơi đây. Hành trình ấy không còn thấy mình là một kẻ lữ hành xa lạ. Không gian nơi đây đã trở nên thân quen hơn, từ tiếng nói cười của lũ trẻ, sự đon đả của những chủ homestay, đến hơi ấm lặng lẽ được nghe các già làng kể chuyện bên bếp lửa, giữa căn nhà sàn. Khựng lại, khi thấy một nhóm du khách người nước ngoài đang chăm chú theo dõi một trích đoạn lễ hội Kin Chiêng Boọc Mạy. Mấy cô gái Thái trẻ mặc váy đen, áo cóm, đi vòng quanh đống lửa. Không sân khấu, không phông màn, chỉ có ánh lửa bập bùng, tiếng khèn và ánh mắt người xem như chạm vào một miền ký ức còn sống. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy rõ hơn bao giờ hết, văn hóa không chỉ được trình diễn, nó được thở, được sống và được trao truyền đúng nghĩa.
Cách đây gần 10 năm, bản Đôn còn là một làng nhỏ heo hút giữa thung lũng. Người dân sống chủ yếu nhờ nương rẫy. Nhưng từ năm 2016, Pù Luông bắt đầu hiện diện dày đặc trên bản đồ du lịch sinh thái. Theo thống kê gần đây cho thấy, khu du lịch Pù Luông đã đón hơn 130.000 lượt khách, trong đó có khoảng 25.000 lượt khách quốc tế. Bản Đôn là “điểm sáng” với hơn 30 cơ sở lưu trú hoạt động ổn định. 
Qua giới thiệu, tôi ghé thăm mô hình homestay của Hà Văn Thược, một trong những người đầu tiên làm du lịch của bản. Ngồi bên bậu cửa căn nhà sàn giờ đã thành điểm dừng chân nổi tiếng, Thược nói: “Du khách đến đây không chỉ để ngủ ngon, ăn sạch. Họ muốn được nghe, được chạm vào đời sống văn hóa đồng bào. Nếu mình không giữ được tiếng nói riêng của văn hóa bản địa, thì làm du lịch chỉ là bán vỏ không hồn”. Nói rồi chỉ về góc nhà sàn, nơi bà nội anh đang se bông, nhuộm chàm, những thao tác tưởng như đã lùi vào dĩ vãng. Tôi chợt hiểu, du lịch nơi đây không phải là sự “bán đi” văn hóa, mà là cách để gọi lại những gì từng bị lãng quên. Tại homestay Hà Văn Kiên, một người bỏ phố về làng, có treo một tấm bảng ghi tay “Mỗi vị khách là một người nghe kể chuyện. Và ta là người kể cho quê mình!”. Tôi nhìn dòng chữ, thấy mình cũng đang được kể, không bằng ngôn từ, mà bằng cách người bản Thái mời cơm, rót rượu, mỉm cười. Ở một góc bản khác, nhóm Puluong Cuisine đang chuẩn bị bữa tối cho đoàn du khách đến từ Hà Nội. Không chỉ chế biến, họ kể về từng món ăn: Pa pỉnh tộp, canh uôi, khẩu cọp, xôi ngũ sắc. Vi Thị Lan, một bạn trẻ nơi đây, kể: “Hồi học đại học, em ngại khi nhắc về quê với các bạn, ngại cả việc kể về văn hóa và những món ăn đồng bào. Nhưng giờ làm du lịch mới thấy, đó là giá trị, là sự tự hào mà cá nhân em cũng như nhóm du khách nước ngoài mê mẩn. Họ muốn biết, vì sao đồ ăn phải gói bằng lá dong? Nấu rượu thì nấu bằng men gì?  Quả thực, văn hóa không ở trên sách, nó ở ngay chính trong căn bếp, trong cách sống của chúng ta”. 
Rồi thì, câu chuyện cùng già làng Lương Văn Bình bên bếp lửa. Ông vui vẻ khi nói chuyện, ngày xưa bọn trẻ lên phố, nói tiếng Thái thì xấu hổ. Giờ tụi nó về, mới thấy tổ tiên để lại cho mình nhiều lắm! Nhưng phải biết giữ. Phải kể lại cho đúng. Ông Bình rót chén trà nóng rồi trầm ngâm: “Làm du lịch không phải cứ có khách là mừng. Cái chính là giữ được cái mình có. Không khéo, chưa kể xong đã mất luôn câu chuyện”. Tôi hiểu lời ông nói, đó không phải một câu triết lý, đó là nỗi lo rất thực. Bởi không phải câu chuyện nào cũng đẹp. Ở một góc độ  khác, Pù Luông hôm nay đang phát triển “nóng”. Nhiều homestay với ông chủ, bà chủ là người thị thành không hiểu về văn hóa, xây dựng, phát triển không theo quy hoạch, với những căn nhà được bê tông hóa, mái tôn, kính cường lực mọc lên giữa những nhà sàn cũ kỹ. Một vài tour sân khấu hóa bản sắc theo kiểu mô phỏng nửa vời, thiếu chọn lọc, thậm chí có phần kệch cỡm.
Pù Luông đang đứng trước ngưỡng phát triển mới. Nếu không kiểm soát tốt, văn hóa sẽ bị tiêu dùng. Một lãnh đạo của xã Cổ Lũng từng nói với tôi rằng, chính quyền địa phương đang kiến nghị quy hoạch lại vùng lõi du lịch cộng đồng, siết tiêu chuẩn kiến trúc, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo hướng dẫn viên bản địa. Nói là vậy, song ông cũng thừa nhận, không phải nơi nào cũng có điều kiện như bản Đôn. Lợi ích du lịch chưa được phân bổ đồng đều, dẫn đến chênh lệch phát triển, cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí chèo kéo khách. Tôi tìm đọc Đề án phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Pù Luông đến năm 2045 của tỉnh Thanh Hóa. Trong đề án nói rõ mục tiêu, đến năm này, vùng bảo tồn sẽ đón 15.800 lượt khách/năm, doanh thu 12 tỷ đồng; đến 2045, kỳ vọng đạt 50.000 lượt khách/năm, doanh thu khoảng 85 tỷ đồng. Tỉnh đang thúc đẩy xây dựng bộ quy tắc ứng xử, phát triển sản phẩm OCOP, bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể qua lớp truyền dạy và nghệ nhân… Mục tiêu đạt được thì du lịch Pù Luông trở thành điểm sáng trên bản đồ du lịch xứ Thanh; người dân vùng du lịch sẽ khởi sắc, ấm no. Song, tôi chỉ băn khoăn, những số liệu có nói hết được hành trình bảo tồn văn hóa giữa guồng quay của thị trường, nếu như phát triển mà không gắn với bảo tồn và phát huy đúng hướng?!
Rời những bản du lịch sáng bừng ánh điện, sau những ngày nghỉ ngơi ngắn ngủi và mục tiêu tìm kiếm cho mình những giá trị văn hóa cốt lõi vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây, tôi tin rằng, văn hóa sẽ không chết nếu người trong cuộc có cái tâm giữ gìn. Đúng như tinh thần, định hướng của tỉnh về mục tiêu lấy du lịch là “điểm tựa” để níu giữ, phát huy những giá trị văn hóa. 
                                    Đ.G


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 199
 Hôm nay: 1473
 Tổng số truy cập: 15878551
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa