Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /     /   Sông Mã hồn tôi (Ký dự thi)
Sông Mã hồn tôi (Ký dự thi)

NGUYỄN MINH KHIÊM

Sông Mã hồn tôi

Ký dự thi

Không nhớ hết tôi đã viết bao nhiêu truyện, bao nhiêu bài thơ về dòng sông mang tên sông Mã. Có thể kể Huyền thoại sông Mã - một truyện vừa dành cho thiếu nhi, Trường ca Bầu trời màu hoa gạo, Trường ca Ký ức phù sa cổ. Rồi một loạt bài thơ: Sông Mã, Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta, Khi nào buồn ta lại ra sông, Bức tranh, Tự phá ra để chảy, Người đàn bà vùng sông Mã hát, Tảng đá có một nhành phong lan buông xuống, Vô đền Sòng nghe hò sông Mã, Một góc phù sa, Cỏ Non, Đò dọc, Chiều nay nghe sông, Sông Mã hồn tôi, Cửa sông… Về bút ký có: Sông cháy, Một phía hoàn lưu bão, Ngã Ba Bông - Không gian mở một vùng văn hóa… Gần đây nhất là Trường ca “Mạch đất hồn trống đồng” - đó là những bài thơ, bài ký, trường ca viết trực tiếp về sông Mã. Còn những bài mang âm hưởng sông Mã, hoặc được lấy cảm hứng từ sông Mã thì không tính hết.
Quê tôi nằm ngay bên bờ sông Mã huyền thoại. Cái mênh mang của sông, cái dào dạt của sông, cái dữ dội của sông, cái mãnh liệt của sông, cái thơ mộng của sông, cái hùng vĩ, huyền bí của sông thấm đẫm vào hồn người quê tôi. Phù sa và nước mắt. Phù sa và máu. Làng quê và đất nước. Văn hóa và văn hiến. Truyền thuyết và lịch sử. Hào hùng và bi tráng. Dân ca và anh hùng ca. Tất cả thành âm vang ngọn sóng vỗ vào lòng tôi. Không biết ai mang hồn quê ra bể. Không biết ai mang khát vọng lên nguồn. Tôi là đứa trẻ sơ sinh trước dòng sông hàng nghìn năm tuổi. Ba mươi sáu bến thương, mười hai bến nhớ là đâu? Khúc nào chèo mở lái ra? Khúc nào quay mũi? Khúc nào mắc cạn? Khúc nào buông neo? Khúc nào trăng lên thỏa lòng trai gái? Khúc nào hợp lưu? Khúc nào giã bạn? Tất cả ngân lên từ dấu con sào. Thấm vào lòng người cái tên Hồi Xuân, Cửa Hà, Bến Đá, cái tên Ngã Ba Bông, cái tên Cửa Hới - Lạch Hới, Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Lèn. Chạm vào cói Nga Sơn. Chạm vào chum vại làng Hương, làng Hạc. 
Ta buông neo vào cái thuở trăm năm, nghìn năm. Trăng lả vào dải yếm người con gái vo gạo bến sông quê. Yếm lả vào đò dọc. Đò dọc xuôi Nam ngược Bắc. Bà Triệu Thị Trinh chỉ gươm lên trời biếc đọc lời thề: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”. Bà, một nữ tướng người Quan Yên, ngay bên bờ sông Mã xứ Thanh làm cho bọn giặc Tôn Quyền nước Ngô, thời Tam Quốc phải thốt lên: “Hoành qua đương hổ dị/ Đối diện Bà vương nan”. Dịch: “Vung tay đánh cọp xem còn dễ/ Đối diện Bà Vương mới khó sao”. Hồ Quý Ly chỉ gươm lên trời biếc đọc thơ đáp bắc nhân vấn An Nam phong tục: “Dục vấn An Nam sự/ An Nam phong tục thuần/ Y quan Đường chế độ/ Lễ nhạc Hán quân thần/ Ngọc ủng khai tân tửu/ Kim đao chước tế lân/ Niên niên nhị tam nguyệt/ Đào lý nhất ban xuân” - (Bản dịch của Tuấn Nghi: “An Nam, muốn hỏi rõ?/ Phong tục vốn thuần lương/ Lễ nhạc như Tiền Hán/ Y quan giống Thịnh Đường/ Dao vàng, cá nhỏ vảy/ Bình ngọc, rượu lừng hương/ Mỗi độ mùa xuân tới/ Mận, đào nở chật vườn”. Bài thơ thứ nhất được khắc trên vách đá Pú Huổi Chỏ, có tên là “Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn” (Tự mình đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lễ), viết bằng chữ Hán theo thể ngũ ngôn bát cú. Bài thơ được tạc trong khuôn khổ hình chữ nhật có kích thước 1,2m x 0,8m, viết theo chữ khải chân gồm 132 chữ, đã được Lê Quý Đôn chép vào sách “Toàn Việt thi lục” và cũng được chép trong “Đại Nam nhất thống chí” của triều Nguyễn. Nguyên văn bài thơ gồm cả phần phi lộ như sau: “Cuồng tặc cảm bô tru/ Biên dân cửu hệ tô/ Bạn thần tòng cổ hữu/ Hiểm địa tự kim vô/ Thảo mộc kinh phong hạc/ Sơn xuyên nhập bản đồ/ Đề thi khắc nham thạch/ Trấn ngã Việt Tây ngung” - Dịch nghĩa: “Bọn quân điên cuồng sao dám tránh sự trừng phạt/ Dân biên thùy đã từ lâu đợi ta đến cứu sống/ Kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có/ Đất đai hiểm trở từ nay không còn/ Tiếng gió thổi hạc kêu làm cho quân giặc run sợ/ Sông núi từ nay nhập vào bản đồ/ Đề thơ khắc vào núi đá/ Trấn giữ phía Tây nước Việt ta” (Ngày lành tháng 12 năm Tân Hợi [1431], Ngọc Hoa động chủ đề). Chúa Trịnh Sâm chỉ gươm lên trời biếc đọc thơ “Đề Hồ Công động”: “Tằng tằng nham kính chuyển bàn vu/ Cao xứ hàm ha ngọc nhất hồ/ Thạch hóa cựu thiềm châu ảnh tát/ Đan dư chân tượng tuyết nhan cù/ Vân tung phiêu hốt hành tiên tích/ Nhật khuất an bài đại tạo lô/ Phúc địa cổ lai đa thắng tích/ Hà lao điểm xuyết “Võng Xuyên đồ”! (Bản dịch của Hồng Phi: “Trập trùng nẻo đá lượn quanh co/ Đỉnh núi cao nhô một ngọc hồ/ Đá hóa cóc già châu tỏa sáng/ Son phai tượng cũ tuyết loang mờ/ Bóng mây chấp chới hình tiên bước/ Hang nắng lung linh dáng hỏa lò/ Đất phúc xưa nay bao thắng tích/ Nhọc chi tô điểm “Võng Xuyên đồ”!”. Các Chúa Nguyễn từ Kinh thành xứ Huế về Gia Miêu tế Tổ chỉ gươm lên trời biếc đọc thơ.
Mấy chục điệu hò sông Mã dội vào tuổi thơ tôi. Dội vào giấc mơ tôi, dội vào trí tưởng tượng của tôi từ ký ức ông bà. Dưới ánh trăng làng, dưới nắng làng, dưới lũy tre cánh cò vỗ một nắng hai sương, những điệu dân ca Đông Anh: “Lên chùa bẻ một cành sen; Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng” thơm vào giọt sữa mẹ tôi. Những chuyện Bà Triệu, Lê Hoàn, những chuyện hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, chuyện Mai An Tiêm gửi dưa từ hoang đảo, chuyện Lý Nhân Tông về bái đền Đồng Cổ, hồn vua Hùng về ngắm bến Trường Châu… chảy vào ký ức tôi. Nhìn hạt phù sa thấy Lang Cun Khương, Lang Cun Cần đi chặt cây Chu Đá Lá Chu Đồng dựng nhà trăm gian mở Mường Trời, Mường Đất; thấy ông Bùng gánh đồi gánh núi; thấy Thần Độc Cước phân thân; thấy Hồ Quý Ly xây thành; thấy Trần Khát Trân bị chặt đầu không chết. Rồi phương ngôn, phương ngữ đồng dao cà Giáng, dưa Lê, chè lam Phủ Quảng, cam Giàng, vịt Trạc Nhật, mía Kim Tân... thấm mãi vào tôi.
Hồn tôi là hồn sông Mã, hồn con Ngựa Thần hý vang từ thời tiền sử. Tôi không biết chính xác sông Mã bắt nguồn từ đâu, dấu chân đầu tiên con Ngựa Thần xuất phát từ đâu. Nhưng tôi biết chắc chắn nó chảy vào hồn tôi, thấm vào hồn tôi, vang vọng trong ký ức tôi bắt đầu từ ca dao, tục ngữ, bắt đầu từ giai thoại, thần thoại, cổ tích, huyền tích, huyền thoại, huyền sử, dã sử và lịch sử. Tôi có một niềm tự hào về cái lý lịch trích ngang của mình: “Nắm nhau tôi chôn góc phù sa sông Mã/ Trăm thác nghìn ghềnh cuộn xoáy vào tơ/ Làng cong xuống dáng tre già trước tuổi/ Tiếng gọi đò khuya sạt cả đôi bờ”. Không đâu, không nơi nào trên cái dải đất ken dày các di tích lịch sử được xếp hạng cấp tỉnh, cấp quốc gia, có di tích được công nhận là Di sản Văn hóa lịch sử thế giới lại cho ta hiểu sâu sắc bản lĩnh anh hùng quật cường bất khuất, sức sống mãnh liệt, ý chí sắt đá, truyền thống vẻ vang của người xứ Thanh bằng sông Mã. Nâng hạt phù sa “Ta nghe trong màu xanh biếc của lá dâu/ Có tiếng nói của ông cha ta bốn nghìn năm vọng lại/ Ta nghe từng hạt cát vàng trên bãi/ Có tiếng gươm khua thuở trước chống ngoại xâm/ Nghe nước đi trong mạch đất âm thầm/ Có cả tiếng voi gầm và ngựa hí”. Nhưng cũng không đâu cho ta hiểu cái gian lao, vất vả đến khốc liệt đối với con người xứ Thanh bằng sông Mã: “Con hến con trai một đời nằm lệch/ Lấm láp đất bùn đứng thẳng cũng nghiêng!”; Khốc liệt đến mức: “Chiếc liềm nhỏ không còn nơi cắt chấu/ Gặt hái xong rồi rơm rạ bó nhau”. 
Đối với người ở một nơi khác nghe điệu hò sông Mã đơn giản chỉ là tiếng dô khoan dô huầy. Chỉ là tiếng dô tả dô tà. Nhưng ai là người quê Thanh đều thấm đến xương đến tủy. Câu hát mở ra đẫm hai phần mồ hôi nước mắt, còn một phần là xương máu ông cha: “Đất điểm chỉ dấu chân khuyềnh đạp sóng/ Dô tả dô tà xô vẹo sườn đê/ Gỡ huyền thoại nghìn năm trong mắt lưới/ Tục ngữ ca dao lột mưa nắng hiện về”. “Mẹ ru con bằng ca dao nghìn tuổi/ Con tắm nước sông rực lửa hoa soi/ Màu lửa làng Đông Sơn đúc trống đồng các vua Hùng dựng nước/ Núi Quan Yên Bà Triệu rèn giáo diệt giặc Ngô/ Đền Đồng Cổ Lý Nhân Tông khai hội/ Làng Chè quê ta đúc tượng Bác Hồ/ Soi giọt mồ hôi sinh điệu hò ghềnh thác/ Soi sân đình truyền cháu con câu hát/ Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng/ Soi biển khơi Thần Độc Cước phân thân/ Soi chài lưới thần sông dâng kiếm/ Soi đất đai nghìn năm văn hiến/ Bia Vĩnh Lăng, núi Ngọc, núi Rồng”. 
Mạch đất này là mạch đất hồn trống đồng. Mạch đất này là mạch đất khí thiêng sông núi. Nó được kết tinh, được sinh ra từ mồ hôi, nước mắt và máu: “Không có máu thì các thầy địa lý không có cách nào tìm ra thế núi hình sông rồng cuộn hổ ngồi/ Không có máu thì không có cách nào tìm ra huyệt đất phát vương phát tướng”. “Máu đầm đìa chảy trong lời mẹ ru/ Máu đầm đìa mỗi giấc mơ/ Máu đầm đìa. Máu đầm sân nhỏ con chơi mỗi vần thơ tháng ngày/ Máu đầm trong lá trong cây/ Máu đầm đìa mảnh đất này nghìn năm! Máu chưa tan lại tím bầm/ Súng gươm chưa bỏ lại cầm chắc thêm”. 
Sông Mã là danh lam thắng cảnh xứ Thanh. Nét thơ mộng đẹp nhất xứ Thanh. Nó là nguồn sống, nguồn thơ của người xứ Thanh. Sông Mã tạo nên bản anh hùng ca xứ Thanh. Sông Mã tạo nên hào khí xứ Thanh. Dòng sông là biểu tượng cao đẹp của sự chịu đựng hy sinh, sự kiên trì, nhẫn nại vô tận của người xứ Thanh. Nó cũng là biểu tượng của sức bền, sức bật, sức chiến đấu, sức sáng tạo không ngừng, không nghỉ suốt hàng năm của người xứ Thanh. Khi nhắc đến dòng sông Mã, nhắc đến mạch đất hồn trống đồng, kẻ thù to, kẻ thù nhỏ, kẻ thù phương Bắc, kẻ thù phương Nam, kẻ thù phương Tây, kẻ thù có gươm dài, giáo mạnh, kẻ thù có bom lớn bom bé đều bạt vía kinh hồn. Những câu thơ trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi còn vang vọng: “Ta đây/ Núi Lam Sơn dấy nghĩa/ Chốn hoang dã nương mình/ Ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không cùng sống”. Sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo thiên tài của người anh hùng áo vải Lê Lợi, được hun đúc từ mạch đất hồn trống đồng làm cho giặc Minh kinh hồn bạt vía: “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn/ Voi uống nước, nước sông phải cạn/ Đánh một trận, sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông/ Cơn gió to trút sạch lá khô/ Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ/ Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội/ Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng/ Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường/ Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước” (Bình Ngô Đại cáo - Nguyễn Trãi).
Chính dòng sông Mã đã tạo nên con người xứ Thanh, tính cách người xứ Thanh, khí phách người xứ Thanh, cốt cách người xứ Thanh. Họ dám nghĩ, dám làm, dám đối mặt thách thức và vượt qua thách thức. Không nhiều lời, nhưng khi người xứ Thanh đã yêu thì yêu mãnh liệt như Thủy Tinh; khi bảo vệ hạnh phúc thì quyết liệt như Sơn Tinh. Cứ sau mỗi lần trắng tay, chiếc sào mồ hôi lại cong hơn đẩy con thuyền bốn mảnh Xuân - Hạ - Thu - Đông nặng trĩu lo toan ngược gió, giọng hát như có thần có thánh: “Hồn sông từ hương khói bước ra/ Đàn sáo song loan nhập vào hương khói/ Dô khoan dô huầy!/ Bè tôi qua mười bảy con thác/ Tình tôi đẫm mười hai điệu hò/ Giậm ván giậm thuyền vào nỗi nhớ/…/ Dô khoan dô huầy!/ B52 rải thảm làn ai/ Thần sấm, con ma huỷ diệt sông Chu, sông Mã/ Tình người xứ Thanh vượt bể/ Tình người xứ Thanh lên ngàn/ Dô khoan gạo ra tiền tuyến/ Dô khoan đạn lên nòng/…/ Dô khoan dô huầy!/ Người Thanh Hóa bước xuống từ đá vọng phu/ Người Thanh Hóa bước ra từ hòn Trống Mái/ Thành chim lạc bay trên mặt trống đồng”. Mấy chục điệu hò chưa khô bùn lại bấm sâu vào cốt cách gái trai. Người quê tôi mang số phận mình chắn sóng. Kỳ quan của hạt thóc là những con đê sừng sững. Yêu nhau, thương nhau thành niêu cơm Thạch Sanh trong lũ, trong đau thương trận mạc. “Người thành danh, kẻ lỗi lầm/ Không ai lạc lõng trong tâm hồn làng/ Vườn mình rụng chiếc lá vàng/ Cứ lo giông bão ập sang vườn người”. Người quê tôi không có triết lý gì cao sâu, thâm thúy, to tát. Sống rồi yêu. Sống rồi xả thân vì nhau. Sống rồi thành đồi thành núi: “Rít chung một điếu thuốc lào/ Bao nhiêu dòng họ bện vào thành quê”. Chống rạ rơm lên, dáng người nào cũng mang dáng Sơn Tinh. Nhiều khi làng không có lá lành đùm lá rách. Cả quê Thanh lá rách hóa lá lành. Sức mạnh tiềm ẩn ở đó. Sức mạnh nhân lên ở đó. Sâu rễ bền gốc ở đó.
Lam lũ thấm vào đất. Đau thương thấm vào đất. Hy sinh thấm vào đất. Những cái giá đắt nhất cuộc đời thấm vào đất. Có lẽ vì thế đất chỗ nào cũng có huyệt linh thiêng. “Nhổ cây rau má cổng làng/ Bao nhiêu lọng tía tàn vàng lung lay/ Quần nâu cởi vắt đáp cày/ Thế mà vững chãi thành này lũy kia”.
Nhiều người bạn thơ từ Nha Trang, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Bạc Liêu, Đồng Tháp hỏi: “Thanh Hóa ra răng anh?”. Tôi nói vui: “Cứ về Thanh Hóa một lần/ Thì em mới hiểu người dân Xứ này/ Vì sao hát lại dô huầy/ Vì sao nhiều lúc đò đầy vẫn sang/ Vì sao đi cấy sáng trăng/ Vì sao hạt cát cũng vang trống đồng/ Đâu cũng thần Núi, thần Sông/ Đâu cũng truyền thuyết thêu trong dệt ngoài…”. Em sẽ hiểu được mảnh đất: “Đá mài mực, đá ăn thề/ Yêu nhau mang cả biển về rửa chân”. Đất này lạ lắm: “Tiên phật cũng đánh cù, chọi dế với trẻ con”, “Núi đá cũng sắn quần lên mà hát”.
Sông Mã đã cho tôi giàu có về sức mạnh, tình yêu, nghị lực, lẽ sống, bản lĩnh, truyền thống, văn hóa, tâm thức, tâm linh và tâm hồn. Sông Mã hồn tôi. Có lẽ vì thế, “Khi nào buồn ta lại ra sông/ Thả hồn xuống nghe từng con sóng hát/ Nghe hạt phù sa đầu thai trong mạch đất/ Tượng hình lên chim lạc trống đồng/ Ai đề thơ trên vách đá hang Rồng/ Ai thả nhạc lên đỉnh cao núi Ngọc/ Ta được mở cả nghìn năm ra đọc/ Cuống nhau truyền đời trước nối đời sau” và “Khi nào buồn ta lại ra sông/ Để từng giọt máu được căng buồm lộng gió/ Nghe hồn quê vang điệu hò sông Mã/ Tiếng huầy dô lún cả đôi bờ”. 
Qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử, vật đổi sao dời, qua bao nhiêu bom đạn khốc liệt của kẻ thù dòng sông Mã với sức sống mãnh liệt ngàn năm, triệu năm vẫn là biểu tượng tinh thần, nghị lực, sức mạnh, tâm hồn của người quê tôi. Sông Mã vẫn trong tình yêu, tâm khảm, ký ức, hơi thở, máu thịt của tôi. Lúc nào tôi cũng thấy “Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta/ Sợi dây đàn căng từ thời tiền sử/ Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta/ Chiếc khăn cũ mèm lau mồ hôi hết thế hệ này sang thế hệ khác/ Lau những ánh mắt mệt mỏi vật lộn trong cuộc mưu sinh/ Lau những lưỡi cuốc, lưỡi cày mẻ quằn mòn vẹt tìm về hạt lúa/ Lau những khuôn mặt tàn tro đốt rơm đốt rạ sau mùa/ Làm rạng lên những nụ cười khô cằn lem luốc/…/ Những nỗi đau chưa tan xé vào ruột đất/…/ Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta”. Lịch sử, quá khứ, hiện tại, tương lai, truyền thống, niềm tự hào, kiêu hãnh, sức sống bất khuất… không lúc nào sông Mã không vọng dội trong nhịp tim tôi. Những lúc một mình, trong thẳm sâu tôi thầm gọi, thầm thốt lên: “Ôi dòng sông, dòng sông mênh mông như lòng mẹ/ Giọt phù sa mặn mòi như giọt nước mắt khổ đau/ Ta nghe trong màu xanh biếc của lá dâu/ Có tiếng nói của ông cha ta bốn nghìn năm vọng lại/ ta nghe trong từng hạt cát vàng trên bãi/ có tiếng gươm khua thuở trước chống ngoại xâm/ Nghe nước đi trong mạch đất âm thầm/ Có cả tiếng voi gầm và ngựa hí…”.
Sông Mã kết tinh thành tinh chất hồn tôi. Tinh hoa, tinh chất sông Mã nuôi lớn khát vọng, ý chí, nghị lực hồn tôi. Cái dữ dội, cái mạnh mẽ, cái bạo liệt, cái cuồng phong bão lũ của sông Mã hun đúc thành cốt cách của tôi. Tôi yêu dòng sông này. Chỉ cần chạm tay vào giọt nước dòng sông thì tất cả cuồn cuộn tuôn trào: “Cát cựa mình huyền thoại chảy dưới chân/ Lòng biển mở ra từ vỏ sò vỏ ốc/ Nâng hạt phù sa mở triệu năm ra đọc/ Hồn đất hồn người hiện từ cửa sông lên”. Hơn tất cả, sông Mã đã hình thành mọi phẩm chất tốt đẹp đời tôi, nhân cách đời tôi. Tôi học sự dâng hiến của sông, học sự mãnh liệt của sông, học sự hào sảng của sông, học sự thủy chung, kiên định, hiên ngang, bất khuất của sông, học sự im lặng của sông:
Một đời sinh ra để chảy
Băng qua tất cả mọi thác ghềnh
Một khát vọng mang theo như định mệnh
Một nét trời sinh không cưỡng nổi mình.

Tên tuổi thế nào do thiên hạ đặt
Tầm cỡ ra sao mặc thiên hạ luận bàn
Mình một lối mở vào trời đất
Mong tỏa tràn màu mỡ khắp thế gian.

Nhiều lúc chẳng kịp nhận ra những gì đã cuốn theo ngọn sóng
Những gì sông để lại đôi bờ
Có thể đó là xác một cánh buồm gào thét
Có thể đó là lộc biếc một câu thơ.

Đầu nguồn thế 
Cuối nguồn vẫn thế
Vẫn sục sôi khát vọng ban đầu
Nếu không bị biển cả kia chặn lại
Không biết đời sông kết thúc ở đâu?
Thịt da tôi ngân lên tiếng hát. Sông Mã ơi! Sông Mã hồn tôi.

N.M.K


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 200
 Hôm nay: 1475
 Tổng số truy cập: 15878553
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa