Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /     /   Kho Mường, mười năm trở lại… và một con đường (Tùy bút dự thi)
Kho Mường, mười năm trở lại… và một con đường (Tùy bút dự thi)

LÊ NGỌC SƠN

Kho Mường, mười năm trở lại… và một con đường

Tùy bút dự thi

Khoảng cách mười năm đôi khi không chỉ được đo bằng thời gian, mà còn bằng những đổi thay trên một con đường.
Tôi trở lại Pù Luông vào một ngày đầu thu, khi con đường 15C đã được trải nhựa phẳng phiu. Xe chạy êm, không còn xóc nảy như trước. Hai bên đường, rừng xanh nối tiếp rừng xanh, thỉnh thoảng lại hiện ra những dòng thác nhỏ đổ từ vách núi xuống. Có dòng trắng xóa, ào ạt như trút; có dòng lại chỉ róc rách, mảnh như một dải lụa. Mọi thứ dường như trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với ký ức của tôi về chuyến đi cách đây một thập kỷ.
Nhưng chính ở khúc rẽ vào Kho Mường, con đường xấu đi thấy rõ: lớp nhựa đã bong tróc, chỉ còn lại những viên đá nhỏ lổn nhổn. Xe của tôi phải đi chậm lại, rồi dừng hẳn ở một bãi đất phía trên. Muốn vào bản, chúng tôi buộc phải ngồi lên những chiếc xe ôm của người bản địa, bám chặt vào lưng người lái, thậm chí có lúc chỉ còn biết nhắm tịt mắt khi chiếc xe chầm chậm đổ dốc trên con đường nhỏ hẹp, dựng đứng.
Cảm giác ấy, kỳ lạ thay, vẫn y nguyên như mười năm trước.
Và cũng từ con dốc ấy, một câu chuyện cũ trong tôi chợt trở về; câu chuyện về một chuyến đi ngẫu hứng của tuổi trẻ, về người trưởng bản già Hà Văn Nếch, và về một con đường mà đến tận bây giờ vẫn chưa biết khi nào mới trở thành hiện thực.
Tôi đến Kho Mường lần đầu tiên vào năm 2015. Chuyến đi ấy được lên lịch chớp nhoáng và gần như không có kế hoạch. Chỉ một lời rủ rê “lễ này đi đâu đó”, chúng tôi nhanh chóng chốt hai chiếc xe máy đủ “xế” và “ôm”, dò tìm số điện thoại của một homestay trên đó, trao đổi chừng mười phút để đặt một nhà sàn, rồi sáng sớm hôm sau lập tức lên đường. Tôi và người con gái sau này trở thành vợ tôi xuất phát từ Nghi Sơn, gặp nhau ở thành phố Thanh Hóa cùng hai người bạn thân làm chung ở công ty cũ, rồi thẳng tiến lên Pù Luông.
Chúng tôi đi một mạch, chỉ dừng lại ở Cẩm Thủy để nghỉ chân, uống nước, rồi tiếp tục băng qua những cung đường rừng núi. Khi đến thị trấn Cành Nàng của huyện Bá Thước, con đường bắt đầu nhỏ lại, dẫn sâu vào vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Chừng mười sáu cây số sau đó là một hành trình vừa háo hức, vừa hồi hộp. Con đường uốn lượn, lúc ẩn lúc hiện giữa màu xanh của núi rừng, rồi bất ngờ đổ vào một con dốc khá thách thức. Một con dốc gắt, dài và trơn, như thử thách cuối cùng dành cho những kẻ lạ mặt lần đầu tìm đến.
Chúng tôi gần như nín thở khi đổ dốc. Bánh xe nghiến trên mặt đất, tay ga giữ chặt, mắt không dám rời con đường phía trước. Thế nhưng, khi vượt qua được đoạn dốc ấy, không gian bỗng mở ra.
Kho Mường hiện ra trước mắt chúng tôi, một thung lũng xanh mướt, với những mái nhà sàn nép mình dưới chân núi, bốn bề là đồi núi vây bọc. Mọi ồn ã của thế giới bên ngoài dường như bị giữ lại phía sau con dốc. Tôi gặp Kho Mường lần đầu tiên như thế, và đã linh cảm đó sẽ là chốn mình còn quay trở lại.
Và cũng chính trong lần đầu ấy, tôi gặp bác Hà Văn Nếch, chủ của homestay Ông Nếch.
Bác trở về từ chuyến đi rừng sáng sớm khi chúng tôi vừa kịp dựng xe dưới chân nhà sàn. Sau lưng bác là một chiếc gùi lớn, đựng đầy rau dớn, măng trúc, ốc đá và cả một tổ ong non. Tổ ong được bác gói trong lá chuối, đặt lên bếp than hồng nướng chín làm bữa ăn trưa cho chúng tôi. Món ăn ấy lạ miệng, béo bùi, và như chính lời bác nói, vừa ngon, vừa bổ.
Buổi trưa hôm đó, chúng tôi được thưởng thức một bữa cơm đơn giản mà ngon miệng trên chiếc bàn gỗ nhỏ đặt cạnh cửa sổ nhà sàn. Các món ăn đều là cây nhà lá vườn: gà bác tự nuôi, rau hái từ vườn, ong và ốc đá thì lấy từ rừng về. Đặc biệt, tôi thích thú khi được xem bác gái nướng gà ngay trên bếp lửa. Bếp của người Mường nằm ngay trên sàn, và lửa gần như không bao giờ tắt. Lúc nào cũng có một ấm nước liu riu sôi. Khói lam bảng lảng, quấn quanh những thanh xà gỗ, giữ hơi ấm cho cả ngôi nhà.
Bác Nếch còn đãi chúng tôi món sóc phơi khô nướng. Ban đầu, cả bọn còn e dè, nhìn nhau ái ngại. Chỉ đến khi bác nhiệt tình mời: “Sóc này bác đặt bẫy trên đồi đấy, ăn đi, ngon lắm”, chúng tôi mới dám thử. Và hóa ra, cái vị thơm đậm, lạ miệng ấy lại trở thành một trong những ký ức khó quên nhất của chuyến đi.
Dưới chân nhà sàn, nơi bộ bàn ghế gỗ nhìn ra cánh đồng xanh mướt đang mùa lúa trổ đòng, bác Nếch rót chén nước chè vối rồi trả lời những câu hỏi tò mò của những vị khách trẻ từ xa tới. Bác nói, trước đây bác chưa từng nghĩ Kho Mường có thể làm du lịch. Đường đi khó khăn, xa xôi, khách làm sao mà vào được. Nhưng rồi một lần, cán bộ của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông gọi điện nhờ bác đón một đoàn khách đến ăn cơm, tìm hiểu cuộc sống trong bản. Khi ấy bác đang là trưởng bản nên nhận lời. Không ngờ, chính những vị khách đầu tiên ấy lại thường xuyên liên lạc qua điện thoại, giới thiệu Kho Mường lên mạng xã hội, người nọ giới thiệu người kia, rồi dần dần có thêm nhiều đoàn khách khác tìm đến. Du lịch cộng đồng ở Kho Mường, bác bảo, bắt đầu từ đó.
Bác Nếch tươi cười cho biết: “Ngôi nhà sàn ba gian, bốn chái của gia đình tôi được dựng đã mấy chục năm, nay vừa là nơi sinh hoạt, vừa là nơi đón khách du lịch đến tham quan, ngủ lại”.
Theo chân bác, tôi bước lên nhà sàn bằng chín bậc cầu thang gỗ và thấy một mặt sàn rất rộng, đủ chỗ cho hơn hai mươi người nằm. Ở cây cột trụ chính, tôi thấy treo rất nhiều ảnh gia đình cùng các huân, huy chương và bằng khen của bác. Để làm du lịch, bác Nếch đã được huyện tạo điều kiện đi tham quan, tập huấn các mô hình du lịch, học ngoại ngữ, học nấu ăn, học cách ứng xử, giao tiếp… Bác cũng mua sắm thêm chăn, màn, làm nhà vệ sinh công cộng và bổ sung một số vật dụng khác để phục vụ khách.
Buổi chiều, chúng tôi đi dạo quanh bản, theo con đường dẫn tới hang Dơi. Con đường ấy có lẽ là một trong những điều đáng nhớ nhất ở Kho Mường. Một bên là dòng suối trong vắt, nhìn rõ từng viên sỏi dưới đáy; một bên là ruộng lúa xanh rì; xa xa là những dãy núi bao quanh thung lũng. Từ phía xa, những đàn chim bay qua bay lại, tưởng chừng không thể vượt qua dãy núi cao, rồi lại quay đầu trở về. Khi đến gần hang Dơi, chúng tôi thấy bầy dơi tụ tập trước vách đá trắng dựng đứng, như đang dự một sự kiện quan trọng. Rồi bất chợt, chúng tản đi, tan biến, vài phút sau lại quay trở lại.
Đường vào hang Dơi không quá khó đi, nhưng cũng khiến người leo thở dốc đôi chút. Càng lên cao, không gian càng mở rộng. Và rồi, khi vượt qua một khúc cua, miệng hang bất ngờ hiện ra trước mắt. Một khoảng không khổng lồ mở toang giữa vách đá vôi. Vòm hang cao vút, cong như một mái vòm tự nhiên được tạc thẳng vào lòng núi. Ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào khiến không gian bên trong vừa sáng vừa tối, vừa rõ ràng lại vừa huyền ảo.
Dưới nền hang là những mảng cây xanh mọc chen giữa đá, một vài khối đá nhô cao; còn phía trên, những đàn dơi treo mình lặng lẽ như những chấm đen nhỏ bám vào trần hang. Từ trên cao nhìn xuống, hang Dơi trông như một “tiểu Sơn Đoòng”. Tôi men theo vách đá, chậm rãi bước xuống phía dưới. Mỗi bước đi là một cảm giác vừa tò mò, vừa dè chừng. Khi đứng lọt thỏm giữa lòng hang, ngẩng đầu nhìn lên khoảng không rộng lớn phía trên, tôi chợt thấy mình nhỏ bé đến lạ.
Rời Kho Mường, chúng tôi tiếp tục đi qua những bản làng khác của Pù Luông. Những con dốc nối tiếp nhau, những thung lũng mở ra rồi khép lại sau lưng, và ở đâu đó, thiên nhiên vẫn giữ nguyên vẻ hoang sơ. Con dốc lên Son Bá Mười quả thực là một thử thách. Xe phải về số một, ga hết cỡ mới có thể vượt qua. Ở đoạn dốc đứng nhất, xe ì ra, không thể nhích nổi; người bạn đồng hành phải xuống xe, đi bộ phía sau. Lên tới đỉnh dốc, chúng tôi ngồi nghỉ, thở dốc, nhìn lại quãng đường vừa vượt qua mà không khỏi ớn người.
Son Bá Mười của ngày ấy vẫn còn hoang sơ, chỉ lác đác vài nếp nhà đơn sơ. Cuối con đường chính là một rừng trúc nhỏ nhưng duyên dáng. Nơi đây có nét gì đó gợi nhớ Hà Giang, với những cụm đá tai mèo đen rải rác, nhưng chưa có cái cheo leo đủ để gợi ra cảm giác heo hút của miền cao nguyên hoang hoải.
Thác bản Hiêu lại mang đến một trải nghiệm hoàn toàn khác. Chúng tôi men theo dòng suối, nhảy cóc qua từng tảng đá, để mặc làn nước mát lạnh, trong veo ôm lấy đôi chân, rồi cứ thế đi ngược lên tận đầu nguồn. Bản Hiêu khi ấy vẫn còn là một nơi heo hút, hẻo lánh. Dưới các nhà sàn, chủ yếu là những bạn trẻ Tây ba lô tìm tới, mắc võng nằm la liệt.
Trên những cung đường ở Pù Luông, không khó để bắt gặp những ngôi nhà sàn cổ của người Thái, với hàng cau trước nhà cao vút, thẳng tắp vươn lên nền trời. Thỉnh thoảng lại hiện ra những cọn nước cần mẫn quay. Những cọn nước bằng tre lạ mắt đối với người ở đồng bằng như chúng tôi.
Cũng chính trong hành trình ấy, tôi bắt đầu nhận ra những dấu hiệu đầu tiên của một sự chuyển mình. Ở bản Đôn, tôi thấy khu nghỉ dưỡng Pù Luông Retreat, một trong những nơi làm du lịch sớm nhất, mới bắt đầu dựng những căn nhà gỗ, bể bơi còn đang xây dở. Tôi nghĩ rồi sẽ còn nhiều khu resort khác được xây dựng ở đây. Một ngày không xa, Pù Luông rất có thể sẽ trở thành một điểm đến thu hút du khách, như Sa Pa hay Mù Cang Chải đã từng.
Người ta thường gọi Pù Luông là “miền Tây Bắc của xứ Thanh”. Tôi đã đi qua nhiều vùng đất Tây Bắc như Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, và quả thực, khi đứng giữa Pù Luông, tôi vẫn nhận ra đâu đó những điều quen thuộc: sự hoang sơ, hùng vĩ của núi non; những con đường khúc khuỷu ôm sườn núi; mây trời bảng lảng quyện vào nhau; và những thửa ruộng bậc thang nhỏ xinh uốn lượn như sóng, nối nhau mềm mại qua từng triền đồi.
Cách đây hơn mười năm, khi nhắc đến du lịch Thanh Hóa, người ta thường chỉ nghĩ tới tắm biển ở Sầm Sơn, tham quan Thành nhà Hồ, Lam Kinh, đi thuyền trên hồ Sông Mực ở Bến En hay ghé suối cá thần Cẩm Lương… chứ ít ai biết đến Pù Luông. Chiều hôm đó, trên đường quay về nhà sàn của bác Nếch, tôi nhìn những dãy núi đang chìm dần trong ánh hoàng hôn và chợt nghĩ: Rồi sẽ có một ngày, Pù Luông không còn vắng vẻ như bây giờ nữa. Khi ấy, nơi đây mang trong mình một tiềm năng du lịch rất lớn, lại ở vị trí không quá xa xôi, cách trở như vùng Tây Bắc. Một vẻ đẹp riêng mà chỉ Pù Luông mới có.
Thế nhưng, khi ấy tôi cũng băn khoăn: Kho Mường, nơi nằm khuất sau con dốc kia, sẽ thay đổi theo, hay vẫn ở lại phía sau? Kho Mường có cảnh đẹp, có hang Dơi, có dòng suối Hua Mường trong vắt, có ruộng lúa xanh và có những con người như bác Nếch, chú Nam… biết làm du lịch cộng đồng. Tôi nghĩ, chỉ một thời gian ngắn thôi, cuộc sống của người dân nơi đây sẽ đổi khác nhờ du lịch. Kho Mường, cùng với các bản Đôn, bản Hiêu, bản Báng, rồi sẽ có những khu nghỉ dưỡng tận dụng vẻ đẹp thiên nhiên để thu hút du khách.
Mười năm sau, tôi trở lại Pù Luông. Vẫn còn lưu số bác Nếch, nên tôi lại gọi điện đặt phòng ở nhà bác. Lần này không còn là chuyến đi phượt đầy ngẫu hứng của tuổi trẻ, mà tôi đi bằng ô tô cá nhân, cùng vợ và hai con nhỏ.
Pù Luông đã khác xưa. Những khu nghỉ dưỡng mọc lên ngày một dày hơn. Những mái nhà gỗ xếp tầng theo triền núi, những bể bơi vô cực hướng ra thung lũng, những tấm biển chỉ dẫn bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Xe du lịch nối đuôi nhau ra vào. Những nhóm khách quốc tế, khách nội địa, người trẻ, gia đình… đi lại đông đúc trên các cung đường.
Pù Luông không còn là một cái tên xa lạ như mười năm trước nữa. Nó đã trở thành một điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch Việt Nam. Tôi không ngạc nhiên, bởi những gì tôi từng thấy, từng cảm nhận từ chuyến đi năm ấy đều đủ để hiểu rằng nơi này sớm muộn cũng sẽ được đánh thức. Chỉ là, khi sự “đánh thức” ấy thực sự xảy ra, đứng giữa những đổi thay đang hiện hữu, tôi vẫn có cảm giác như mình đang nhìn thấy hai lớp thời gian chồng lên nhau: một Pù Luông của hiện tại, sôi động, đông đúc; và một Pù Luông của ký ức, lặng lẽ, nguyên sơ.
Thế nhưng, trong vùng lõi Pù Luông nhộn nhịp đó, Kho Mường vẫn gần như nguyên vẹn, bởi đến nay vẫn chưa có đường ô tô vào bản. Đường vào bản hẹp và dốc, ô tô không thể đi được, chỉ có thể di chuyển bằng xe máy. 
Tôi gặp lại bác Nếch sau mười năm. Tôi ngạc nhiên khi thấy bác vẫn vậy, nhưng cũng chợt buồn khi Kho Mường dường như cũng vậy, chẳng thay đổi là bao. Có chăng chỉ là con đường xuống dốc và quanh bản đã được đổ bê tông, thay cho đường đất cũ. Bản làng vẫn heo hút, vẫn chỉ là điểm lướt qua của những du khách đi bộ đường dài hay ghé thăm hang Dơi.
Theo lời bác Nếch, Kho Mường nằm trong quy hoạch phát triển du lịch “treo”, nghĩa là có quy hoạch, nhưng chưa được triển khai. Vì thế, suốt nhiều năm qua, hầu như không có công trình mới nào được phép xây dựng. Sự “bỏ quên” ấy, vô tình lại giữ cho Kho Mường gần như nguyên vẹn, nhưng cũng khiến đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn.
Để du lịch cộng đồng thực sự trở thành sản phẩm đặc sắc của Kho Mường, rất cần được đầu tư đường vào thôn bản, giúp người dân đi lại thuận tiện, giao thương hàng hóa và đón khách. UBND tỉnh Thanh Hóa đã có quyết định phê duyệt dự án “Xây dựng mô hình điểm du lịch cộng đồng bản Kho Mường tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”, với mục tiêu phát triển nơi đây trở thành một sản phẩm du lịch cộng đồng có thương hiệu, có giá trị, có sức cạnh tranh cao, một sản phẩm OCOP mang dấu ấn của địa phương.
Dự án bao gồm việc duy tu, nâng cấp đoạn đường chính vào bản Kho Mường; cải tạo, chỉnh trang hệ thống đường nội bộ; nâng cấp nhà văn hóa bản; đầu tư xây dựng các điều kiện cơ sở hạ tầng du lịch; hoàn thiện kiến trúc, cảnh quan để đón khách. Thế nhưng, điều quan trọng nhất vẫn nằm trên giấy. Con đường vào bản vẫn chỉ có thể đi lại bằng những chiếc xe máy gài số một.
Theo chén nước chè, câu chuyện của bác trưởng bản chùng xuống, với nỗi trăn trở về một con đường cho bản mà bao năm nay vẫn chưa được phê duyệt. Bác mong có một tuyến đường nối từ trục chính vào bản Kho Mường để ô tô có thể vào được. Nhưng rồi, chính bác cũng hiểu rằng, nếu con đường ấy thành hình, cung trekking nổi tiếng xuyên qua sáu bản làng từ phố Đoàn sẽ không còn nguyên vẹn, và du lịch Pù Luông chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
Vì thế, một con đường ô tô cho Kho Mường đến giờ vẫn là một dấu hỏi lớn, giữa phát triển và gìn giữ, giữa đời sống người dân và vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên. Còn với riêng tôi, tôi cũng tự hỏi: nếu một ngày Kho Mường trở nên nườm nượp du khách, resort mọc lên, ô tô vào tận bản… thì nơi này có còn là điểm đến khiến tôi mong đợi như bây giờ nữa không?
Nhà bác Nếch khá rộng so với các nhà khác trong bản. Ngoài một ngôi nhà sàn dành cho khách ngủ qua đêm, bác còn dựng thêm một ngôi nhà sàn khác ở mé bên cạnh, tựa lưng vào núi. Phía dưới, khu nhà còn kéo dài ra phía bản với các công trình vệ sinh, bếp núc và kho trữ ngô lúa.
Bác bảo, nếu một ngày Kho Mường được phê duyệt phát triển du lịch như bản Đôn, bản Báng, bản Hiêu, thì gia đình bác cũng chẳng có tiền để xây một khu resort sang trọng. Có lẽ rồi cũng giống các bản ấy, nhà nào có đất rộng thì các nhà đầu tư từ Hà Nội, từ các thành phố sẽ đổ về mua lại để xây dựng.
Tôi hỏi bác: “Khi ấy bác định làm gì?”. Bác trầm ngâm, nâng cốc nước chè lên, nhấp một ngụm rồi thở dài: “Sức bác cũng chỉ đến thế thôi. Nay đã già, con trai lại mắc bệnh, có lẽ rồi cũng chỉ còn biết đứng nhìn theo những đổi thay”. Ánh mắt người trưởng bản, từng tràn đầy quyết tâm làm du lịch năm nào, giờ lại vời vợi hướng ra cánh đồng trong ánh chiều dần buông.
Làm du lịch lớn thì phải có vốn. Liệu những gia đình quen làm homestay nhỏ lẻ có thể “đọ” lại được với những khu resort tiện nghi, sang trọng? Hay họ vẫn sẽ tìm được những ngách riêng, những tệp khách riêng? Một con đường mở ra là cả một sự đổi thay lớn đối với cuộc sống của người dân bản Kho Mường. Giữa bảo tồn và phát huy, con đường nào mới thực sự đúng đắn? Có những con đường mở ra để phát triển, nhưng cũng có những con đường mở ra lại khiến một vùng đất vĩnh viễn mất đi chính mình.
Trong lúc tôi trở lên nhà sàn cất đồ đạc, chuẩn bị cho bữa trưa, thì thấy lác đác từng nhóm khách du lịch ghé lại chân nhà sàn của bác Nếch để dừng chân uống nước. Nhà bác đã trở thành điểm dừng quen thuộc của du khách nước ngoài, chủ yếu là người châu Âu, trên những cung trekking qua các bản làng nơi đây. Bác nói tiếng Anh “đủ dùng”, đủ để chào hỏi, chỉ dẫn và kể vài câu chuyện đơn giản. Bác rót nước chè vối từ chiếc ấm tích cũ, rồi bẻ những quả chuối từ buồng chuối dưới chân nhà sàn mời khách. Bên cạnh đó, trong chiếc tủ lạnh nhỏ là đủ loại nước giải khát cho khách lựa chọn. Tất cả chỉ giản dị như thế. Mỗi lượt khách, bác thu một trăm nghìn đồng. Nhiều người thích thú với sự chân chất ấy; sau một chặng đường dài đi bộ, họ sẵn lòng trả thêm như một cách bày tỏ sự quý mến.
Ngồi dưới mái nhà sàn, trên nền cao, nhìn ra thung lũng, tôi chợt thấy lòng mình dịu lại. Tôi chờ một cơn mưa. Không hiểu vì sao, mỗi lần đến Kho Mường, tôi đều mong được gặp mưa. Có lẽ bởi ký ức về những cơn mưa núi rừng, mang theo nỗi nhớ những ngày thơ ấu, cứ đằng đẵng bám theo tôi. Chiều hôm ấy chỉ lất phất vài hạt, nhưng đến đêm, mưa đến thật. Mưa trút xuống ào ạt trên mái nhà sàn, dồn dập, ràn rạt. Tôi bước ra hiên, đứng lặng nhìn màn mưa trắng xóa trong ánh đèn vàng nhợt nhạt. Nước từ mái chảy thành dòng, rơi xuống nền đất thành những âm thanh đều đặn.
Đêm ở Kho Mường mát lạnh. Không có tiếng xe, không có ánh đèn điện chói lòa, chỉ có tiếng mưa và bóng tối bao trùm khắp thung lũng. Nằm trên sàn gỗ, nghe mưa rơi, tôi bỗng thấy một “tôi” rất khác. Những lo toan thường ngày lùi xa, nhường chỗ cho một cảm giác bình yên khó gọi tên. Mưa rơi nhịp nhàng, như thể hòa cùng nhịp thở.
Sáng hôm sau, chúng tôi chào gia đình bác Nếch rồi trở về sớm, kịp ghé chợ phiên Phố Đoàn. Đêm qua mưa lớn, sáng ra trời tạnh ráo. Trên đường về, chúng tôi như ngập chìm trong những dải mây trắng xóa như bông, vắt ngang lưng chừng dãy núi, trải dài theo con đường 15C. Có quá nhiều điểm đẹp để săn mây, đến nỗi chiếc xe cứ đi một đoạn lại dừng để mọi người xuống chụp ảnh. Tôi dang tay, hít một hơi căng đầy lồng ngực thứ không khí trong lành; phía sau là những dãy núi hùng vĩ và một thung lũng sâu ngút ngàn, bồng bềnh mây trắng. Hỏi sao Pù Luông lại gây thương nhớ đến thế.
Trên quãng đường về, tôi vẫn nghĩ đến câu chuyện của bác Nếch. Về con đường còn dang dở đâu đó trên giấy. Về những điều bác nói, nửa mong, nửa lo. Có đường vào bản, việc đi lại sẽ đỡ vất vả hơn, cuộc sống cũng có lẽ dễ thở hơn. Nhưng rồi, nếu con đường ấy thực sự mở ra, Kho Mường có còn được như bây giờ không, chính bác cũng không dám chắc. Nghe thì tưởng chuyện xa xôi, nhưng nghĩ kỹ lại thấy rất gần. Kho Mường lúc này như đang đứng giữa hai ngả đường. Đi theo hướng nào cũng có cái được, cái mất. Không ai nói trước được điều gì.
Xe vẫn đều đều lăn bánh. Mây vẫn trôi qua lưng núi. Núi rừng vẫn vậy, chỉ có lòng người là khác. Tự nhiên tôi thấy lòng mình chùng xuống. Không biết lần quay lại sau này, Kho Mường sẽ ra sao. Chỉ sợ một ngày nào đó, mình trở lại, vẫn là con đường ấy, vẫn là thung lũng ấy… mà cảm giác thì đã khác đi rồi. 

L.N.S


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 199
 Hôm nay: 1473
 Tổng số truy cập: 15878551
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa