Hồn xưa giữa mùa hội mới Kỳ cuối: Người “giữ lửa”… (Bút ký dự thi)
ĐÌNH GIANG
Hồn xưa giữa mùa hội mới
Kỳ cuối: Người “giữ lửa”…
Bút ký dự thi
Giữa nhịp chuyển mình của những bản làng vùng cao xứ Thanh, khi du lịch đang dần mở ra nhiều cơ hội phát triển, câu chuyện giữ gìn bản sắc văn hóa lại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Những nếp nhà sàn, những lễ hội, tiếng cồng chiêng, câu hát… không chỉ là ký ức của cộng đồng, mà còn là nền tảng tinh thần, là cội rễ để mỗi vùng đất định vị mình trong dòng chảy hiện đại. Tuy nhiên, trong sự vận động ấy, nếu thiếu đi sự gìn giữ, những giá trị truyền thống rất dễ bị bào mòn, thậm chí biến dạng trước sức ép của phát triển và nhu cầu thị trường. Khi ấy, những người “giữ lửa” là các già làng, người uy tín của bản với vai trò bền bỉ và lặng lẽ, không chỉ góp phần lưu giữ ký ức, mà còn phục dựng và trao truyền các giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một.
Ông Hà Nam Ninh - Pho ký ức sống của bản Thái
Tôi gặp ông vào một sáng se lạnh ở khu du lịch Pù Luông, một trong những địa danh nổi tiếng của xứ Thanh. Bên cạnh những resort nguy nga, nơi tôi và ông ngồi là bếp lửa xưa với căn nhà sàn cũ của một hộ dân trong bản. Từ đi rừng, làm nương rẫy, rồi khi bản làng làm du lịch, chủ hộ là vợ chồng anh Hoanh, chị Tương cũng bắt chước làm theo. Do kinh tế khó khăn nên việc đầu tư của hai vợ chồng còn hạn chế. Mỗi năm một ít, đến nay cũng mươi năm mới có một chỉnh thể tươm tất để đón khách. Dẫu vậy, như lời hai vợ chồng nói thì nơi lưu trú cũng được tận dụng từ chính căn nhà mà bố mẹ anh Hoanh để lại. Hai vợ chồng chỉ đầu tư thêm công trình phụ, vật dụng phục vụ nghỉ dưỡng. Khách hôm ấy có tôi, ông Ninh và một cặp vợ chồng từ Hà Nội về lưu trú. Nhìn về phía những Homestay được các ông chủ, bà chủ từ tỉnh thành khác có tiềm lực về kinh tế đầu tư bài bản, ông Ninh chậm rãi nói: “À thì vẫn có những khách họ thích cái xưa cũ, cái chất mộc của người Thái như tôi, như anh vậy. Chả phải biện hộ, ở đây cũng chẳng thiếu cái gì, đủ đầy cả, mà giá cả thì phải chăng”.
Ông Hà Nam Ninh sinh năm 1949, người dân tộc Thái, dáng ông dỏng cao, đôi vai gầy chùng xuống theo năm tháng. Khuôn mặt hằn những nếp nhăn, đáy mắt sâu với những dấu tích của thời gian như in hằn lên một thân cây đại thụ. Bên bếp lửa, ông xoa nhẹ đôi bàn tay, cẩn trọng trong từng cử động, tỉ mẩn pha tích trà, thứ nước uống từ lá rừng mà người Thái vẫn dùng bao đời. Trà có vị đắng khi uống nhưng rồi ngọt hậu nơi cuống họng, uống vào thấy nhẹ người, thanh nhiệt. Chính ông là người đã gợi ý để chủ nhà giữ lại một không gian nhỏ với bếp lửa cho những du khách có nếp sống cũ như ông. Hà Nam Ninh là người Thái, nhà nghiên cứu thổ ngữ, là ông giáo truyền dạy cho học sinh, cho bà con bản địa. Ở nơi thâm sơn này, cái tên ông Hà Nam Ninh không phải là một danh xưng, mà là một sự tin cậy. Dẫu nay ông đã chuyển về ở khu vực trung tâm, thuộc xã Bá Thước theo địa giới hành chính mới, nhưng ông vẫn thường xuyên ngược Pù Luông, như một thói quen khó bỏ. Ông bảo, ở đó ông được thở, được sống giữa những nếp nhà sàn xưa; được nhìn ruộng bậc thang đổi màu theo mùa; được nghe tiếng cồng chiêng vọng lại từ đâu đó trong bản. Còn với nhiều người Thái nơi đây, ông giống như một pho sách sống hiếm hoi còn lại, mang trong mình ký ức của cả một vùng văn hóa.
Ông kể chuyện không cần tra cứu, không cần lật giở tài liệu, cứ thế chảy ra, tự nhiên như hơi thở, suối nguồn. Trong câu chuyện ấy là lễ hội mừng lúa mới, là Mường Ca Da, là lễ cúng vía, Chá Mùn… là cái thời mà chưa ai biết đến “tour” du lịch là gì. Khi ông nói, ánh mắt ông không nhìn thẳng vào tôi, mà thường nhìn ra phía khoảng không trước mặt, như đang dõi theo một điều gì đó xa xăm. Giọng ông trầm ấm, đủ để người nghe như tôi bị cuốn theo. “Không có người nghe thì cồng chiêng cũng hóa câm. Không có lớp trẻ học, thì người già giữ lại cũng để làm gì” - ông nói, rồi khẽ cười, nụ cười hiền, nhưng ánh mắt lại thoáng đượm buồn.
Hơn 40 năm, ông vẫn bền bỉ với công việc gìn giữ và truyền dạy văn hóa. Ông dạy những điệu khặp cổ cho đội văn nghệ ở bản Đôn, chỉ từng nhịp phách, từng cách lấy hơi, cách ngân dài hay ngắt quãng sao cho đúng hồn. Ông mở lớp dạy chữ Thái, từ vài người ban đầu, rồi lan dần ra nhiều nơi. Học viên của ông đủ mọi lứa tuổi, có người là học sinh, có người là cán bộ xã, có cả những cụ già đã ngoài bảy mươi, tám mươi tuổi vẫn tìm đến học, vì sợ rằng nếu không học thì sẽ không còn cơ hội hiểu hết tiếng nói của chính dân tộc mình. “Bảo tồn không phải là giữ nguyên như cũ, mà là thắp lại cái hồn trong mỗi người trẻ” - ông Ninh nói.
Khi tôi hỏi về vai trò của du lịch, lấy văn hóa, cảnh quan bản địa làm nền, là tư liệu để phát triển, nhìn vào đôi mắt ông tôi thấy rõ sự trăn trở. Ông cho rằng, du lịch mang lại cơ hội để níu giữ giá trị văn hóa, là mảnh đất để những giá trị xưa phát huy, nhưng nếu không biết cách tiết chế phù hợp sẽ tạo ra những va đập nhất định. Ông kể về trường hợp, vì chạy theo nhu cầu du khách mà đánh mất không gian văn hóa, nơi những điệu múa trở thành tiết mục nhanh, lễ hội thành trò diễn. Có lần, một nhóm khách yêu cầu diễn khua luống giữa trưa, khi người dân đang nghỉ, chủ nhà vì chiều khách đã gọi người ra diễn, nhịp điệu không còn đúng, cái hồn cũng vơi đi. Khi kể đến đó, ông dừng lại một chút, tay vô thức xoay chén trà, mắt nhìn xuống bếp lửa đang lụi dần. “Làm nhiều quá, người múa chán, khách xem cũng không còn thấy hay” - ông nói, giọng chậm đi.
Ở đại ngàn này, những người như ông Ninh không còn nhiều. Mỗi khi nhắc đến lớp người cũ, những người đang giữ lửa, nỗ lực trao truyền giá trị văn hóa Thái, ông lại lặng đi vài phút, không nói vội, nói nhanh, như cần một khoảng trống để sắp xếp lại cảm xúc. Nhưng rồi, chính ông lại mở ra một cách nhìn khác: “Giữ lửa không chỉ ở lớp người già am hiểu văn hóa…” - câu nói bỏ lửng khiến cho hành trình của những ngày nghỉ cuối tuần ấy, tôi đã đi tìm điều ông nói, gặp những con người bình dị, không đứng trên sân khấu, không được gọi tên, nhưng vẫn lặng lẽ giữ nếp sống, nếp văn hóa người Thái trong từng bữa ăn, từng câu nói, từng cách tiếp khách. Đó là chị Hà Thị Chanh, người phụ nữ quanh năm đứng bếp, nhưng khi có khách nước ngoài, chị có thể giới thiệu rành rọt từng món ăn của người Thái, từ pa pỉnh tộp, canh uôi đến cơm lam… bằng tiếng Anh mộc mạc mà chân thành. Là anh Vi Văn Dế, con cụ Ểu không ồn ào, không phô trương, nhưng lặng lẽ tiếp thu từng lời cha dạy, giữ lấy nếp sống, nếp nghĩ của người Thái bản địa trong từng sinh hoạt thường ngày. Họ không gọi mình là người giữ lửa, cũng không đứng trên sân khấu, nhưng chính họ lại là những mạch ngầm âm thầm nuôi dưỡng văn hóa quê hương. Nhắc tới họ, ông Ninh vui hẳn, ánh mắt như giãn ra, sáng hơn.
Ông kể, bản thân đã từng không hài lòng với cách một nhóm bạn trẻ trong bản tổ chức đón khách. Hôm ấy, một đoàn khách về đông, chủ nhà sắp xếp cho đội văn nghệ biểu diễn vào buổi chiều, khi nắng còn chưa tắt hẳn, người trong bản vừa đi nương về chưa kịp nghỉ. Những điệu múa, nhịp khua luống vốn dĩ chỉ thực sự có hồn vào buổi tối, bên đống lửa bập bùng, lại được đưa ra trình diễn như một tiết mục “chạy xô” cho đủ chương trình. Ông đứng nhìn một lúc, rồi lặng lẽ gọi riêng mấy người trẻ lại, nói thẳng: làm như thế là đứt nhịp, là làm sai cái cách mà cha ông vẫn làm, rồi sẽ thành quen, thành lệch. Lúc ấy, các bạn trẻ chỉ im lặng nghe, không cãi, nhưng cũng không tỏ rõ sự đồng tình. Ông bảo, khi đó ông thấy buồn, nghĩ rằng lớp trẻ đang dần xa rời những gì thuộc về cội nguồn. Nhưng rồi vài ngày sau, cũng chính những người trẻ ấy tìm đến ông, mang theo một bản kế hoạch. Họ nói, họ hiểu điều ông nói, nhưng cũng chia sẻ rằng khách không phải ai cũng ở lại buổi tối, họ tha thiết muốn xem, nghe để không nuối tiếc chuyến đi. Họ đề nghị giữ lại phần biểu diễn buổi tối đúng lệ và trả thêm chi phí cho đội diễn, còn trước khi rời đi, họ chỉ xin biểu diễn ngắn, quy mô nhỏ vừa đủ để họ cảm nhận nét văn hóa Thái, điều mà họ mong chờ ở chuyến đi. Khi nghe đến đó, ông không nói gì thêm. Ông ngồi im một lúc, rồi gật đầu. Không phải vì ông thay đổi hoàn toàn suy nghĩ, mà vì ông nhận ra, cái cách giữ gìn không thể dập khuôn máy móc. Lửa không nhất thiết phải được giữ nguyên trong bếp cũ, mà có thể được nhóm lên ở nhiều nơi khác, miễn còn người hiểu nó là lửa gì. Sau này, mỗi lần nhắc lại, ông chỉ cười: “Giữ cái hồn, chứ không phải giữ nguyên cái cách”.
Sinh ra ở Mường Khoòng, một Mường lớn của người Thái xưa, nay thuộc xã Bá Thước, lớn lên trong không gian văn hóa dân tộc mình, nhưng khi trưởng thành, đi học, trở thành giáo viên, ông lại không biết chữ Thái. Ông kể, năm 1985, trong một lần đi họp dưới tỉnh, ông gặp cụ Hà Văn Ban, một người rất giỏi tiếng Thái. Khi biết ông là người Thái mà không biết chữ, cụ đã thẳng thắn nhắc nhở, một câu nói khiến ông nhớ suốt đời. Chính từ đó, ông bắt đầu tự học, tự tìm thầy, miệt mài gần mười năm để thông thạo. Nhưng điều đáng nói không phải là ông học được, mà là sau khi học được, ông nghĩ đến việc làm sao để chữ Thái không chỉ nằm trong sách vở, mà sống lại trong cộng đồng. Ông bắt đầu biên soạn tài liệu, xây dựng bộ chữ Thái cổ, tài liệu dạy tiếng Thái; chuẩn hóa cách học, cách viết, đồng thời lặn lội đến các bản làng xa xôi để sưu tầm dị bản chữ viết, phương ngữ, văn học dân gian. “Mỗi con chữ không chỉ là ký hiệu, mà là ký ức của tổ tiên” - ông nói, ánh mắt ông sáng lên như chạm vào một điều gì đó rất thiêng liêng.
Gần 40 năm “bén duyên” với chữ Thái, ông đã thu thập được hàng trăm tư liệu quý, từ các lễ hội cổ truyền, đến những bản thảo chữ Thái cổ cả trăm năm tuổi, như “Truyện kể đường lên thiên đàng”, “Khăm Panh”, “Khun Lú - Nàng Ủa”… những mảnh ghép phản ánh đời sống văn hóa, tinh thần của người Thái qua nhiều thế hệ. Năm 2004, khi nghỉ hưu, ông bắt đầu mở lớp dạy chữ Thái, từ những học viên ban đầu lan rộng ra nhiều nơi. Ông không ngại vượt đèo, lội suối, chỉ mong thổ ngữ của dân tộc mình còn được thế hệ sau gìn giữ. Với những đóng góp bền bỉ ấy, năm 2015, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú. Khi nhắc đến điều này, ông nói điều quan trọng hơn vẫn là việc mỗi ngày còn có người tìm đến học chữ, còn có người lắng nghe ông nói.
Tối hôm ấy, giữa tiếng khèn bè và ánh lửa bập bùng ở Pù Luông, ông ngồi lặng khá lâu, không còn kể chuyện, không còn giảng giải, chỉ dõi theo đám trẻ hát múa. Những vòng tay nối nhau, những bước chân nhịp nhàng quanh đống lửa, không sân khấu, không ánh đèn, nhưng vẫn đủ sức níu giữ người xem. Trong ánh lửa chập chờn, khuôn mặt ông lúc sáng, lúc tối, những nếp nhăn như sâu hơn, nhưng ánh mắt ông vui tươi hơn. Có lẽ, đó chính là câu trả lời giản dị nhất cho những trăn trở của ông suốt một đời. Khi lớp trẻ còn tiếp bước, thì ngọn lửa văn hóa vẫn còn đó, không rực rỡ, không ồn ào, nhưng âm ỉ và bền bỉ, như cách ông vẫn lặng lẽ giữ lấy hồn cốt bản làng.
Người “gom lửa” phục dựng Chá Mùn
Người tôi muốn nhắc đến nữa là nghệ nhân Lò Viết Lâm, ở bản Ngàm Pốc, xã Yên Thắng. Cái tên ấy không cần giới thiệu nhiều, chỉ cần nhắc khẽ, người trong bản đã gọi ông bằng một cách thân tình “Già làng uy tín của Ngàm Pốc”. Ông đã dành nhiều năm đi khắp các triền núi, nếp nhà, nhặt lại từng mảnh ký ức của nghi lễ Chá Mùn để rồi kiên trì ghép nối chúng thành một chỉnh thể như hôm nay. Dĩ nhiên, hành trình ấy không chỉ riêng ông, nhưng ở đó, ông đại diện cho lớp người mang ý chí của bản làng, quê hương. Căn nhà nghệ nhân không khó tìm giữa núi rừng Yên Thắng như tôi nghĩ. Là nếp nhà sàn truyền thống của người Thái đã cũ, được trao truyền qua nhiều thế hệ. Khi tôi bước lên bậc cầu thang gỗ, cánh cửa không đóng. Bên trong, ánh điện từ góc nhà hắt lên bức vách một màu vàng ấm. Ở đó, hình ảnh ông đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ, chăm chú với cuốn sổ ghi chép cũ trước mặt. Một tay giữ trang giấy, một tay lần theo từng dòng chữ đọc chậm.
Tôi đứng đó, không lên tiếng, không muốn cắt đi giây phút tập trung của ông. Khoảnh khắc ấy không dài cho đến khi ông nhận ra mình có khách. Ông bảo, hôm nay cuối tuần có thêm buổi ngoại khóa trao đổi với các cháu học sinh Trường Trung học cơ sở xã Yên Thắng nên xem lại tư liệu, phần phiên âm, dịch nghĩa của nghi lễ, để nói cho chuẩn trong buổi trò chuyện. Tôi ngồi đối diện ông, cuốn sổ được đặt ở giữa. Mép giấy đã sờn, nhiều trang ngả màu, những dòng chữ chen chúc, mực mới, mực cũ. Có chỗ viết đè lên nhau, có chỗ gạch xóa… Nhìn lâu, tôi có cảm giác đó không chỉ là một cuốn sổ, mà là một nơi cất giữ những điều ông ghi chép lại trong quá trình sưu tầm. Ông thấy tôi chăm chú, giọng ông chậm rãi: “Ghi lại thôi. Không ghi thì quên mất”.
Ông rót trà, đẩy chén về phía tôi, bảo tôi uống đi, trà rừng đấy. Tôi cầm chén, hơi ấm lan ra lòng bàn tay. Ngoài kia, bản làng bắt đầu thức dậy rõ ràng hơn. Tiếng bà con gọi nhau lên nương, đi rẫy; tiếng lốc chốc của đàn bò theo sau là những đứa trẻ nhỏ. Bản làng nhìn xa hơn là làn khói bếp bay lên quyện vào sương núi. Một ngày mới bắt đầu ở núi rừng Yên Thắng không ồn ào, nhưng đủ để thấy đời sống đang chuyển động. Và với ông, ngày mới ấy lại bắt đầu từ những trang giấy cũ, từ việc nhớ lại những gì có thể đã quên, trước khi tiếp tục đi thêm một chặng đường khác, chặng đường giữ gìn, trao truyền cho thế hệ trẻ.
Rời nhà ông khi nắng vừa chạm tới ruộng bậc thang, tôi theo ông đến nhà văn hóa bản Ngàm Pốc, nơi các hội viên Câu lạc bộ Văn hóa dân gian của bản đã tề tựu đông đủ. Giữa không gian rộng của nhà văn hóa, cồng, chiêng, trống và các đạo cụ được bày biện đầy đủ, sẵn sàng cho buổi tập luyện. Ông Lâm nói, tháng đôi ba lần các hội viên lại tập luyện. Cũng có thời điểm, tập luyện thường xuyên mỗi khi bản, xã có lễ hội. Số hội viên đến không phải lúc nào cũng đông đủ, vì bận công việc. Và việc tập luyện cũng không chờ đủ người mới triển khai.
Giữa bản làng rộng lớn, âm thanh từ cồng, chiêng vang lên, lan ra giữa núi rừng. Ở đó không chỉ có hội viên câu lạc bộ mà người dân, trẻ nhỏ cũng dần dần kéo đến chăm chú lắng, xem. Tôi đứng bên cạnh, nghe ông trao đổi với các thành viên câu lạc bộ, ông không nói dài, chỉ vừa làm vừa nhắc: “Đoạn này chậm lại”, “nhịp chưa đều”, “làm lại đi”… Khi một động tác sai, ông không sửa ngay, mà để họ tự làm lại, rồi mới góp ý. Cái cách ông đứng giữa trung tâm, tay cầm chiêng, mắt dõi theo từng người, khiến tôi có cảm giác ông không chỉ đang dạy, mà đang trao truyền một thứ gì đó đã theo ông từ rất lâu. Tôi hỏi ông một đoạn trong nghi lễ có ý nghĩa gì, ông Lâm nói ngắn: “Đoạn dâng lễ Pó Then”, rồi ông giải thích thêm, chậm rãi: “Trong lễ Chá Mùn, người Thái biết ơn Pó Then, vị thần cai quản Mường Trời, người đã từng giúp dân làng vượt qua bệnh tật”.
Từ sân bản, chúng tôi đi đến trường học. Buổi ngoại khóa diễn ra ngay ở phòng truyền thống của nhà trường. Ông đứng giữa các cháu học sinh trò chuyện. Ông bắt đầu bằng những câu chuyện, những câu hỏi giản dị như: “Các cháu biết nguồn gốc, ý nghĩa của nghi lễ Chá Mùn quê ta?!”. Các em đều nói được cơ bản, nhưng để hiểu sâu từng phần nghi lễ; ý nghĩa của từng nghi thức thì đều mong ông giải thích. Ông cười, rồi chậm rãi kể. Kể về thời bản làng Thái đen nơi đây còn hoang vu, con người còn mông muội, bệnh tật nhiều, tổ tiên người Thái đen phải lên Mường Trời cầu cứu. Kể về việc mo mùn được cử đi, học cách chữa bệnh, rồi cứ mỗi lần cứu được đủ số người, đủ năm hành nghề, lại phải làm lễ tạ ơn. Ông nói đến những mâm lễ, ba mươi mốt mâm, một mâm chính, ba mươi mâm phụ, với xôi, thịt, cá, rượu, những sản vật của núi rừng. Ông nói đến những nghi lễ mời thần linh, gọi vía, đón khách, rồi tiễn thần linh trở về Mường Trời khi lễ kết thúc. Những điều tưởng như xa xưa ấy, qua cách ông kể, trở nên gần gũi với các cháu học sinh. Một em hỏi: “Giờ mình làm lễ để làm gì ạ?”. Ông cười, ánh mắt nheo lại: “Để còn biết tổ tiên mình là ai. Để giữ nguồn cội và đây chính là sản phẩm để người dân chúng ta làm du lịch”. Tôi nhìn quanh, thấy những ánh mắt chăm chú. Có lẽ chính từ những buổi trò chuyện như thế, lễ hội mới thực sự có chỗ đứng trong đời sống hiện tại, trong thế hệ trẻ hôm nay.
Buổi trưa, chúng tôi trở lại nhà ông, rồi tiếp tục một cuộc trò chuyện khác với cán bộ xã. Tôi ngồi nghe họ trao đổi về việc lễ hội đã được phục dựng từ năm 2017, tổ chức quy mô hơn từ năm 2019, và đến tháng 8 năm 2024 được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Người cán bộ xã nói về định hướng phát triển du lịch cộng đồng, về việc gắn lễ hội với những lợi thế cảnh quan thiên nhiên của địa phương, như ruộng bậc thang Ngàm Pốc, những bản làng còn giữ nguyên nếp sống, những phiên chợ đêm ở vùng cao. Ông Lâm nghe nhiều hơn nói. Khi được hỏi, ông trả lời chậm rãi: “Làm thì được, nhưng phải đúng”. Khi nói câu đó, ông hơi nghiêng người về phía trước, giọng không lớn nhưng dứt khoát: “Lễ không phải để diễn”. Tôi nhận ra, giữa những kế hoạch phát triển, điều ông quan tâm nhất vẫn là giữ sao cho được cái hồn cốt của lễ hội, thứ mà nếu mất đi thì mọi giá trị phía sau cũng chỉ còn là hình thức.
Chiều xuống, tôi theo ông đi qua một vài điểm đến có cảnh quan đẹp của bản. Ở mỗi nơi, ông đều dừng lại khá lâu. Không phải cái nhìn của người đi ngắm cảnh, mà là cái nhìn của người đang cân nhắc. “Chỗ này có thể làm du lịch” - ông nói, rồi chậm lại một nhịp: “Nhưng phải giữ được cái cũ, đó là ruộng bậc thang, là nhà sàn truyền thống của người Thái”. Tôi đi bên cạnh, nghe và hiểu rằng, với ông hành trình phục dựng, trao truyền còn rất dài. Từ những ngày đi khắp các bản, hỏi từng câu khấn, từng động tác, đến khi lễ hội được phục dựng lại, rồi được ghi danh, tất cả chỉ là những bước nối tiếp trong một hành trình dài “Phục dựng - bảo tồn - phát huy”. Ông kể, ngày đón nhận bằng di sản, bà con Ngàm Pốc vui như ngày hội. Với ông, Chá Mùn là hồn vía bản mình. Giờ thành di sản thì phải biết giữ gìn. Khi nói câu ấy, ông không cười lớn, chỉ gật nhẹ, nhưng trong ánh mắt có một sự lắng lại rất sâu.
Khi chúng tôi quay về, ánh nắng đã đổ dài trên những thửa ruộng bậc thang. Sân nhà văn hóa bản buổi sáng còn vang tiếng chiêng, giờ trở nên tĩnh lặng. Ông ngồi xuống, lưng hơi tựa vào cột nhà, mắt nhìn ra khoảng không trước mặt. Tôi ngồi bên cạnh, không nói gì, không muốn phá vỡ đi mạch suy nghĩ của ông. Một lúc sau, ông bảo: “Tôi già rồi, không làm được nhiều nữa”. Tôi hỏi ông có lo lễ hội bị mai một?! Ông không trả lời ngay, chỉ nhìn về phía con đường, nơi vài đứa trẻ vừa đi qua, tiếng cười còn vương lại trong không gian chiều. Ông bảo: Lo chứ! Bản thân lễ hội đã từng suýt bị mai một. Nhưng giờ thì ông tin, nếu người dân nỗ lực, cán bộ xã đồng lòng, thì ngoài mục tiêu giữ gìn, việc phát huy gắn với phát triển du lịch sẽ giúp cho đời sống của người dân Yên Thắng no ấm hơn, như chính cuộc sống của bà con ở xã Pù Luông đang từng ngày khởi sắc nhờ du lịch.
Rời những địa danh du lịch, hành trình đi qua những câu chuyện cùng ông Hà Nam Ninh hay nghệ nhân Lò Viết Lâm không dừng lại như lát cắt riêng lẻ, mà nối với nhau thành một mạch ngầm xuyên suốt. Một người lặng lẽ giữ ký ức, một người bền bỉ nhặt lại và thắp lên từ những mảnh ký ức ấy. Họ khác nhau trong cách làm, trong hành trình, nhưng gặp nhau ở một điểm chung: giữ cho bản sắc văn hóa không bị đứt gãy giữa dòng chảy đổi thay. Trong nhịp phát triển hôm nay, khi du lịch mở ra những cơ hội mới cho bản làng, vai trò của những người “giữ lửa” các giá trị văn hóa càng trở nên rõ nét. Họ không chỉ giữ lại những gì thuộc về quá khứ, mà còn góp phần định hình cách mà quá khứ ấy bước vào hiện tại không bị phai nhạt, không bị biến dạng. Từ những lớp học chữ Thái, những buổi tập cồng chiêng, đến lễ hội được phục dựng và lan tỏa, tất cả đều là những cách khác nhau để văn hóa tiếp tục sống, không phải trong hoài niệm, mà trong chính đời sống thường ngày.
Đ.G