Gandhi ở Ấn Độ
PRASENJIT DUARA
Tôi cho rằng, Gandhi có lẽ là một trong những nhân vật chính trị phức tạp nhất khi đặt vào hệ hình diễn ngôn hiện đại. Đối với Gandhi, cái nhìn tôn giáo - đạo đức thuyết phục đến mức nó không thể chấp nhận sự tách biệt giữa chính trị và văn hóa - một sự phân định mà những người tin tưởng sâu sắc vào nó - dù là Gandhi hay những người theo chủ nghĩa tôn giáo chính thống trên thế giới ngày nay - đều cho rằng đây là một sự áp đặt riêng của chủ nghĩa hiện đại. Trong cuốn “Hind Swaraj”, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1909, Gandhi đã phủ nhận toàn diện nền văn minh hiện đại vốn đã phát triển ở phương Tây và sau đó được du nhập vào Ấn Độ. Gandhi đã đưa ra những lập luận có thể được tìm thấy trong truyền thống lãng mạn phương Tây cũng như trong một số văn bản Ấn Độ giáo và Phật giáo. Tuy nhiên, lập luận của ông không dựa trên truyền thống văn bản hay kinh điển mà dựa trên triết lý đạo đức phổ quát. Theo Gandhi, tổ chức xã hội hiện đại, được thiết kế để giải phóng tiềm năng sản xuất của nó cũng như tạo ra sự giàu có và tiện nghi cho tất cả mọi người, rốt cuộc lại tự hủy diệt. Nền văn minh hiện đại thực chất đã biến cá nhân trở thành tù nhân của sự thèm muốn xa hoa và tự nuông chiều bản thân họ, tạo ra sự cạnh tranh mang tính hủy diệt và dẫn đến nghèo đói, bất bình đẳng và bạo lực trên diện rộng.
Không giống những người theo chủ nghĩa Marx, những người phê phán chủ nghĩa thực dân vì bản chất giai cấp của nó nhưng lại ca ngợi việc nó đã giải phóng các lực lượng sản xuất và công nghệ mới trong “các xã hội phong kiến trì trệ”, Gandhi phê phán chính những lực lượng sản xuất này. Máy móc hiện đại chỉ có thể tạo ra ham muốn về nhiều hàng hóa hơn, chứ không thể thỏa mãn ham muốn đó. Tệ hơn nữa, chủ nghĩa công nghiệp đem đến sự hủy diệt, bóc lột và bệnh tật cho xã hội, đồng thời tạo ra mối quan hệ mang tính bóc lột giữa thành thị và nông thôn. Chủ nghĩa công nghiệp hiện đại không thể tìm được chỗ đứng trong tầm nhìn đạo đức - tôn giáo của Gandhi về xã hội; và nhà nước hiện đại cũng vậy. Đối với Gandhi, người có chủ nghĩa vô chính phủ chịu ảnh hưởng của Tolstoy - sự phê phán nhà nước hiện đại bắt nguồn từ quan điểm của ông về chủ nghĩa công nghiệp. Nhà nước hiện đại chỉ trở nên cần thiết vì nhu cầu tìm kiếm chủ nghĩa công nghiệp và sự phối hợp của các tổ chức quy mô lớn. Hệ thống nghị viện không cải thiện hình ảnh của Gandhi về nhà nước vì chính trị đại diện dựa trên chủ nghĩa cá nhân cạnh tranh. Trong Ấn Độ độc lập mới, nhà nước không bao giờ có thể là công cụ thích hợp để trẻ hóa xã hội và nền kinh tế làng xã. Quan trọng hơn, nhà nước với tư cách là một cơ quan cưỡng chế không thể tự tuyên bố có quyền lực bất khả xâm phạm, vì quyền lực đó nằm trong giới luật của giáo pháp - nghĩa vụ đạo đức nằm ngoài nhà nước. Chỉ có tôn giáo mới sở hữu thẩm quyền siêu việt ấy, qua đó, thể chế hiện hữu có thể bị thách thức.
Gandhi đề xuất một xã hội không tưởng gồm các cộng đồng làng xã tự cung tự cấp được gọi là Ramarajya (hoặc vương quốc của Rama, vị vua hiền triết huyền thoại). Đây là chế độ phụ quyền mà người cai trị, bằng phẩm chất đạo đức mẫu mực của mình, thể hiện ý chí tập thể. Đây cũng là một xã hội không tưởng, nơi tổ chức sản xuất kinh tế được sắp xếp theo hình thức tổ chức “varna” (chế độ đẳng cấp) lý tưởng với một hệ thống tương hỗ hoàn hảo, nhằm đảm bảo rằng sẽ không có sự cạnh tranh và khác biệt về địa vị. Quan niệm lý tưởng của Ramarajya, trên thực tế, bao hàm sự phê phán những điều đáng bị lên án về mặt đạo đức trong tổ chức kinh tế và chính trị của xã hội dân sự. Sự tương đồng giữa quan niệm này với quan niệm của Mencian về xã hội là đáng chú ý, nhưng sự tương đồng của nó với viễn cảnh không tưởng của chủ nghĩa Mao thậm chí còn hấp dẫn hơn.
Thực tế mà nói, Gandhi đã dung hòa với thế lực hiện đại, trong đó có giai cấp tư sản công nghiệp Ấn Độ mới nổi, đặc biệt là gia tộc Birla - hiện tại đây là một trong số những tập đoàn công nghiệp hàng đầu tại đất nước này. Nhưng cho dù các tư tưởng của ông có được thực hành ở Ấn Độ ngày nay hay không, thì chính sự uy tín tương đối mà chúng có cũng là điều đáng để lý giải. Hơn nữa, mặc dù chúng ta thường được nhắc nhở rằng các ý tưởng chính trị và kinh tế của Gandhi chưa từng, và có lẽ cũng không bao giờ có ảnh hưởng ở Ấn Độ, nhưng chúng vẫn tồn tại như một thế lực đối kháng mạnh mẽ phê phán chế độ hiện hành. Các nhóm đối lập lấy cảm hứng từ ý tưởng của Gandhi nhằm phê phán những tác động cực đoan của chủ nghĩa hiện đại và tìm kiếm những cách thức để giảm thiểu những hậu quả tàn phá nhất của nó - dù đó là cái giá xã hội phải trả cho công nghiệp hóa và đô thị hóa quy mô lớn, sự gia tăng không kiểm soát của quyền lực nhà nước nhân danh tiến bộ, hay sự tàn phá môi trường không thể lường trước được. Đặc biệt, phong trào bảo vệ môi trường, nhất là ở Ấn Độ, đã dẫn đến sự hồi sinh mối quan tâm đến phê phán của Gandhi đối với chủ nghĩa hiện đại. Sự phê bình chủ nghĩa hiện đại cuối cùng có thể đã được nội hóa bởi chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ, nhưng nó vẫn chưa biến mất(*).
Gandhi là một trong số rất ít người Ấn Độ ưu tú đã thành công trong việc chống lại hình ảnh thực dân hóa của Ấn Độ. Những nhà cải cách Hindu thuộc đẳng cấp cao có xu hướng phản ứng lại cuộc tấn công tâm lý thực dân bằng sự phòng thủ thiển cận đối với tinh thần Hindu được xây dựng (so với vật chất phương Tây) - vốn cũng một sản phẩm của thực dân. Một phần do hậu quả của sự phòng thủ này, những người Hindu ưu tú đã trở nên gần gũi hơn nhiều với kiểu tự phê bình đặc trưng của giới trí thức thuộc phong trào Ngũ Tứ ở Trung Quốc. Gandhi đã có thể phá vỡ được tính phòng thủ này, một mặt, ông đã chống lại các mối liên hệ gốc rễ của hệ tư tưởng thực dân giữa sự làm chủ tiến bộ ở trung tâm của lịch sử, mặt khác, là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nam tính cực đoan, sự đề cao quá mức tuổi trưởng thành. Học thuyết của ông về sự phản kháng thụ động, bất bạo động nhằm giải phóng chủ nghĩa tích cực và lòng dũng cảm khỏi sự hung tàn, và công nhận rằng chúng hoàn toàn phù hợp với nữ tính. Nhận thức sâu sắc về những hậu quả méo mó mà chủ nghĩa thực dân gây ra cho chính người Anh, Gandhi đã chỉ ra sự từ bỏ các giá trị Kitô giáo đích thực - cái mà ông tin rằng không bao giờ có thể biện minh cho chủ nghĩa thực dân. Do đó, điều kiện đủ cho phép Gandhi phê phán chủ nghĩa hiện đại nằm ở cuộc gặp gỡ với hệ tư tưởng thực dân và khả năng cung cấp giải pháp thay thế có giá trị về mặt tâm lý cho chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là đối với tầng lớp trung lưu đang bị mắc kẹt giữa hai thế giới. Ở Trung Quốc, sự hiện diện của chủ nghĩa đế quốc, tất nhiên, đã bị phản đối rộng rãi, và chủ nghĩa chống đế quốc là trọng tâm của các phong trào chính trị trong nửa đầu thế kỷ XX. Nhưng sự vắng mặt của chủ nghĩa thực dân được thể chế hóa ở hầu hết các khu vực của Trung Quốc cũng có nghĩa là hệ tư tưởng thực dân không được ăn sâu bám rễ trong cả kẻ đô hộ lẫn người bị đô hộ theo cùng một cách như nó đã có ở Ấn Độ và các quốc gia bị đô hộ trực tiếp khác. Sự phản đối chủ nghĩa đế quốc chủ yếu là về mặt chính trị và kinh tế và không thể hiện nhu cầu cấp thiết phải loại bỏ hệ tư tưởng đế quốc trong nhận thức của một dân tộc.
Nghiên cứu Gandhi là một cách tôi đang vật lộn với tình thế tiến thoái lưỡng nan của bản thân như một trí thức hậu thuộc địa, mà việc tự bày tỏ đó đã khiến tôi xa lánh thế giới mà tôi đã từng là một phần thân thuộc của nó. Có lẽ không thể tránh khỏi, với mức độ tàn phá khác nhau, tất cả cách trình bày của chúng ta đều bao hàm các hệ thống phân bậc giá trị, và điều đó có xu hướng gạt ra ngoài lề, đàn áp các dân tộc và các nền văn hóa. Liệu Gandhi có liên quan đến việc giúp chúng ta thấu hiểu làm thế nào và vì sao để giữ cho cuộc đối thoại của chúng ta luôn cởi mở với Kẻ Khác (the Other)?
Câu trả lời của tôi là vừa có và không. Đóng góp của Gandhi là minh chứng cho thấy có thể đưa quần chúng đông đảo bước vào dòng chính trị chính thống mà không cần chuyển hóa bằng bạo lực hoặc tra tấn bản thân như chủ nghĩa đế quốc thế kỷ XIX đã tạo ra trong giới trí thức. Ông đã chỉ ra rằng nguồn gốc của sự tự trao quyền (swaraj) không chỉ nằm trong diễn ngôn bên ngoài hoặc giới tinh hoa mà ở những điều tốt đẹp nhất trong truyền thống bình dân; từ đó thể hiện một hệ tư tưởng cố gắng hạn chế việc công cụ hóa những người mà ông làm việc cùng. Về những phương diện này, ông cũng giống như những nhà cải cách cơ sở ở Trung Quốc như Nghiêm Phục và Lương Thấu Minh, những người mà động lực chuyển hóa được cân bằng bởi nhu cầu bảo tồn địa phương như một giá trị, mặc dù Gandhi được tiếp cận về mặt chính trị hơn nhiều so với họ.
Trong việc bảo tồn các truyền thống tôn giáo địa phương như một giá trị trong mối quan hệ với trung tâm hiện đại hóa, Gandhi đã có thể chuyển nó thành một không gian mà từ đó hệ tư tưởng trọng yếu của nhà nước có thể bị phê phán - một không gian giống với khái niệm xã hội dân sự ở phương Tây. Chúng ta không có xu hướng đánh đồng không gian tôn giáo với xã hội dân sự vì dự án Khai sáng phương Tây từng được xây dựng nhằm chống lại quyền lực của nhà thờ. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể bước ra khỏi lịch sử của châu Âu hiện đại để tìm kiếm quan điểm của mình từ các diễn biến chính trị liên quan đến quá trình dân chủ hóa ở Đông Âu, Mỹ Latinh, Philippine và những nơi khác, thì chúng ta phải thừa nhận rằng sự phê phán nhà nước và hệ tư tưởng nhà nước thường xuất phát từ các quyền lực biểu tượng do tôn giáo cung cấp như Giáo hội Công giáo La Mã (the Roman Catholic Church) hay Thần học Giải phóng (Liberation Theology).
Đồng thời, thành công của Gandhi trong việc chính trị hóa người dân cũng bị hạn chế bởi thực tế chính trị của ông là sự suy ngẫm về phương pháp luận của đạo đức. Chúng ta có thể coi sứ mệnh của ông như là sự sản sinh ra một bản ngã không kiểm soát về mặt nhận thức luận, nhưng tự ý thức về đạo đức và tự kiểm soát. Thật vậy, sự cống hiến của ông cho dự án mang tính kỷ luật này đã trở thành hình thức toàn trị riêng và tự gây ra hậu quả. Tôi thấy sự toàn trị đó được phản ánh trong chủ nghĩa không tưởng (utopianism) của ông, vốn hoàn toàn đối lập đến mức nó tái tạo đặc tính thiết yếu của chủ nghĩa hiện đại - điều mà ông muốn phê phán. Do đó, bằng cách kết hợp chủ nghĩa thực dân với chủ nghĩa hiện đại như một phương thức tồn tại duy nhất, ông đã khách thể hóa nó và không chú ý đến những căng thẳng lịch sử bên trong mà không thể giải quyết được. Gandhi sẽ giải thích như thế nào về các truyền thống hòa bình trong xã hội hiện đại, về sức mạnh của phong trào bảo vệ môi trường, về sự hiện diện ngày càng rõ rệt của chế độ lưỡng tính, hay về “cuộc cách mạng thời đại”? Gandhi đã không nhận ra rằng bất kỳ sự phá bỏ nào của một hệ thống ý tưởng cũng trở thành nạn nhân của hệ thống này. Nói một cách xác quyết, “Đó là vấn đề đặt ra một cách rõ ràng và có hệ thống về địa vị của một diễn ngôn - vốn vay mượn từ di sản các nguồn lực cần thiết để giải cấu trúc chính di sản đó” (Derrida).
Vì không đặt ra vấn đề về mối liên hệ của bản thân với chính cái mà ông phê phán, Gandhi đã không nhận thấy rằng chân lý siêu nghiệm mà quan niệm về quốc gia của ông phải tìm cách thể hiện, lại song song một cách chính xác với ý tưởng về quốc gia như một chủ thể siêu nghiệm của lịch sử, bản chất vẫn tồn tại ngay cả khi tất cả các lịch sử hữu hình đã được viết, phân rã, hoặc lụi tàn. Khi tìm cách thay thế lịch sử như nền tảng của quốc gia, Gandhi đã xóa bỏ chính tính lịch sử và kết thúc bằng một lý tưởng siêu việt, vốn càng khó có thể hiện thực hóa. Nhiệm vụ của chúng ta là xóa bỏ lịch sử, nhưng đồng thời, phải cứu vãn lịch sử. Chúng ta làm như vậy với ý thức rằng quốc gia không thể được bản chất hóa thành một thực tế siêu nghiệm, vượt ra ngoài các chế độ phục vụ bản thân và các nhóm mâu thuẫn về mặt lợi ích. Các quốc gia có đời sống đồng thời như những mối quan hệ quyền lực, như những đại diện của cộng đồng, và như những khát vọng siêu việt. Vì mối quan hệ phức tạp và luôn thay đổi giữa ba thuật ngữ này, quốc gia chỉ có thể được hiểu thấu đáo bằng cách huy động tất cả các nguồn lực mà lịch sử phải cung cấp.
Nguyễn Thị Thùy Linh dịch
Nguyễn Thị Thùy Linh lược dịch từ Chương 7 của cuốn Rescuing History from the Nation: Questioning Narratives of Modern China, University of Chicago Press, 1996.
Prasenjit Duara (Ấn Độ), là nhà sử học Trung Quốc, Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Duke.
(*) Yếu tố Gandhi đặc biệt được phát triển trong “các phong trào xã hội mới” ở Ấn Độ, chẳng hạn như “chủ nghĩa nữ quyền sinh thái” (eco-feminism) và các phong trào nông dân (farmers' movements). Các phong trào này có xu hướng chống nhà nước, quan tâm đến môi trường, có sự tham gia của phụ nữ và hướng đến sự phát triển tập trung vào làng xã, phi tập trung hóa. Trong bối cảnh này, lý thuyết hậu thực dân trong giới trí thức Nam Á có thể được coi, ít nhất một phần, như một biến thể trí thức hóa và phương Tây hóa của một sự phê phán hiện đại, sâu sắc hơn về mặt xã hội - một điều có thể bắt nguồn từ Gandhi.