Tiếng thơ giao cảm với đời trong “Nợ lời yêu” của Hoàng Quốc Cảnh
Tiếng thơ giao cảm với đời trong “Nợ lời yêu” của Hoàng Quốc Cảnh
PHẠM KHANG
Sau các tập thơ “Tự khúc” năm 2011, “Màu nắng” năm 2019, năm 2026 Hoàng Quốc Cảnh xuất bản tập thơ “Nợ lời yêu” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Tập thơ này chỉ tập hợp vỏn vẹn 37 bài, nghĩa là không quá nhiều bài so với nội lực sáng tác của tác giả. Nhan đề của tập thơ giản dị nhưng xem ra lại rất gan ruột, bởi lẽ ở đời ai chẳng một lần vướng vào cái “Nợ lời yêu” ấy.
Bước vào thế giới thơ “Nợ lời yêu” của Hoàng Quốc Cảnh ta như lạc vào một thế giới tâm hồn đa sắc, đa thanh. Phải chăng sự cám dỗ của thơ luôn là một thế giới mở; vừa như dễ dãi vừa như chung tình, vừa như gan ruột và cũng rất đỗi thật thà, say đắm. Cuộc sống diễn ra và tạo nghĩa giữa hai chiều của một mặt phẳng: không gian và thời gian. Giữa hai chiều mặt phẳng ấy “Nợ lời yêu” có duyên thơ đằm sâu, bám rễ, nuôi ý lòng với biên viễn vùng cao, cứ như Hoàng Quốc Cảnh là người miền trên vậy. Các bài thơ như Đêm bản Mạ, Bến En, Cao Sơn tháng mười, Tiên Sơn, Thợ sơn tràng, Lời gái bản, Người gác rừng, Cô gái bên thác Mây là minh chứng cho nhận xét này. Ở đó người đọc được anh truyền tải, lay thức đi tới những rung động về cảnh sắc ấn tượng, kỳ vĩ, hữu tình, những nét chấm phá ghi dấu ấn sáng tạo về ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ của tác giả. Thật sự đó là tiếng thơ lay động, có hồn, không sa vào khiên cưỡng, ép buộc. Một “Đêm bản Mạ” náo nhiệt và chung chiêng tình yêu cuộc sống: “Bản Mạ trời khuya/ trai gái dìu nhau cùng nhảy/ đô… sòn… thúc giục vòng quay/ bên chóe rượu cần nghiêng ngả/... / Cồng chiêng - khúc hồn dân tộc/ ngàn xưa đọng lại đêm nay”. Một Bến En non xanh, thủy tú, nơi hồn đất tình người hòa ca tiếng lòng thiết tha yêu mến, náo nức đến lạ thường: “Lửa trại bừng lên sắc màu thổ cẩm/ vỡ vào đêm tiếng cồng chiêng, khua luống/ Thái, Mường, Kinh bước theo nhịp trống/ cùng say rượu cần…/ Ánh lửa loang trên sóng mặt hồ/ mái chèo nhẹ đẩy… thuyền trôi” (Bến En). Ngược lên Bá Thước, anh nhận ra cái đẹp của vùng cao thật mê hoặc lòng người và xôn xao bao điều mới lạ: “Cao Sơn tháng mười buốt giá/ gió bấc lùa qua liếp tre/ bếp lửa bập bùng đêm trắng/ sương mù vách đá, lòng khe…” (Cao Sơn tháng mười).
Người ta nhận ra chỉ có cảnh ấy, tình ấy, sắc tộc ấy thì mới nuôi nổi cái hồn quê thấm đẫm hương vị khó quên, khó cưỡng của ngàn năm phong tục, của hồn núi, hồn sông, hồn rừng, hồn con nai, con hoẵng… mà yêu mà thương đến hết cõi lòng: “Rượu ngô chảy trong huyết quản/ chắt ra từ ruột non cao/ có hương nếp nương thơm ngát/ đậm đà vị chát măng vầu” (Cao Sơn tháng mười). Khắc họa được tính cách của người vùng cao là một thử thách không nhỏ đối với các nhà thơ, ngay cả với những nhà thơ là người dân tộc. Cái riêng, đôi khi là dị biệt, đặc sắc trong hồn phách dân tộc mới tạo nên tính cách con người và văn hóa bản địa. Tất nhiên là thế, mặc định và không thể khác được. Hoàng Quốc Cảnh cảm nhận con người vùng cao là đối tượng gần gũi, dung dị và hòa đồng với cảnh quan, cuộc sống: “Người bản hiền như nương rẫy/ lì như cây sến, cây lim/ hằn dấu tháng năm nghèo khó/ đất hoang đồi trọc đi lên…”. Về người con gái bản, anh có cách nói rất khéo mà cũng rất thơ, dễ thương, một vẻ đẹp không lẫn vào con gái miền xuôi được: “Em, trăng tròn mười sáu/ như con nai mới lớn/ sáng rỡ cả cánh rừng… (Lời gái bản). Hình ảnh con nai mới lớn thì đạt tới tận cùng của ngây thơ; một vật tượng gần gũi, quen thuộc của nương bản, suối khe, rừng già. “Sáng rỡ cả cánh rừng” là vẻ đẹp của tương lai, hy vọng, sức sống bất diệt của tuổi trẻ và tình yêu cuộc sống.
“Thợ sơn tràng” là bài thơ khá hay trong tập “Nợ lời yêu”. Bài thơ này đã đoạt giải trong một cuộc thi thơ ở Thanh Hóa, khắc họa sinh động vẻ đẹp của người lao động khó nhọc nhưng cũng mang đậm hồn cốt con người xứ Thanh, rất khó hòa lẫn. Ngược câu hò sông Mã với nhịp dô tả dô tà ta nhận ra những con người mang dáng vóc quyết liệt và gân guốc, tựa như núi non, đèo khe, dốc đứng, rừng già, sông dài biển lớn đã tạc nên họ: “Những con rựa dài, nước thép ánh vệt xanh sắc lẹm/ cha tôi rèn cho thợ sơn tràng/ da sạm nắng, ngực vồng như cánh ná/ gồng bè vượt thác ghềnh sông Mã/ Rượu gạo Chi Nê trong bong bóng trâu/ thơm đến giọt cuối cùng/ treo bên hông gã trai làng/ Ngược rừng La Hán, Cành Nàng…/ đem gỗ, luồng về xuôi”…(Thợ sơn tràng). Chắc chắn đây đích thực là một bài ca đẹp về con người trong lao động, sản xuất… ghi lại dấu ấn sinh động không thể mờ phai của một thời lịch sử qua hình ảnh đất nước, con người.
Từng là người lính thời chiến tranh chống Mỹ với bao trải nghiệm xương máu cùng đồng đội của những ngày khói lửa, bom rơi đạn nổ đi tới khúc khải hoàn; đất nước thống nhất, độc lập tự do. Hoàng Quốc Cảnh phản ánh chiến tranh theo cách riêng của mình, không ồn ào, không cường điệu, không tô hồng mà sâu lắng, ân tình, xen lẫn sự biết ơn tới những người đã ngã xuống. Khúc tráng ca về Trường Sơn và “Trưa Thạch Hãn” mãi mãi là trang sử vàng bất khuất, quật khởi của tinh thần Việt Nam, của dáng đứng Việt Nam trong đấu tranh giữ nước và dựng nước: “Những người lính Trường Sơn chung võng/ nằm lại đây giữ từng mét chiến hào/ máu hòa vào sông…” (Trưa Thạch Hãn). Chúng ta nhận thấy ở mảng đề tài này còn có sự phong phú qua các bài thơ khác nữa của anh: Chiều Hàm Rồng, Ngày trở về, Ngã ba Cò Nòi, Nơi tuổi thơ tôi, Lời người trong đá… Đó là hình tượng bất diệt, không thể phai mờ nơi ký ức chiến tranh; sự giản dị và cao đẹp của những con người bình thường, giản dị đã cùng đất nước đứng lên thành hành động anh hùng. Đất nước có biết bao tượng đài, nhưng tượng đài giáo sinh hy sinh trong khi đắp đê sông Mã vì bom Mỹ là sự khắc ghi của hậu thế, là tiếng vọng mãi còn của chiến tranh tàn khốc: “Những ai ngang qua tượng đài/ thuyền ngược xuôi sông Mã/ hãy chầm chậm lắng nghe lời người trong đá!/ Nỗi đau găm vào lòng sông/ trên từng thớ đá/ hôm nay và mãi mai sau…” (Lời người trong đá).
“Nợ lời yêu” đinh ninh một điều rằng không ai có thể sống ngoài cái thời của mình, của đời và cả nhân thế nữa. Ta bâng khuâng, yêu đất nước này thêm lên mỗi ngày khi thơ của anh khắc tạc, cảm hứng với biết bao cảnh tình non nước, những miền đất, những dấu chân, những nụ cười của bao người yêu mến. Hình ảnh lãng mạn, gợi miên man nơi tâm hồn qua bóng dáng của người thiếu phụ “Trước dòng Hương” là một tứ thơ đẹp và dịu dàng đến lạ; đó là cảm thán thân phận đời người và sông dài mê mải trôi về cái bến Vô Cùng! “Người thiếu phụ tóc giờ điểm bạc/ thả mình trên thảm cỏ non mềm/ trải lòng trước dòng Hương êm ả/ thật với mình, cả với cao xanh/…/ Chuông chùa Thiên Mụ vọng thinh không/ thao thiết quá đất trời xứ Huế/ trái tim ngủ yên chợt như có sóng/ thiếu phụ thả hồn theo gió… cuốn chiều đi”. Đề tài bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương xưa nay có nhiều người viết, đa phần khai thác vỉa lớp cợt đùa, ngông nghênh của bà; nổi loạn trong ngôn ngữ và biểu đạt. Hoàng Quốc Cảnh thì khác, anh cảm thông, chia sẻ cho thân phận lẻ loi, bất hạnh của người phụ nữ làm thơ trong chế độ cũ: “Thoáng chút mây buồn nơi đất lạ/ Mà hồn lữ khách giọt đầy vơi/ Muốn thấu rêu phong về thủa ấy/ Thương nỗi hồng nhan phải đoạn trường…” (Bên tượng bà Xuân Hương). Viết về người mẹ thân yêu của mình Hoàng Quốc Cảnh tập trung miêu tả đôi bàn chân mẹ chứ không phải khuôn mặt mẹ, nụ cười và sự dịu dàng chân quê của mẹ. Hiện sinh nhưng là thứ hiện sinh tạo nghĩa nhân ái, tình yêu thương và sự biết ơn vô bờ đối với bậc sinh thành. Tôi lấy làm ngạc nhiên và đồng cảm với cách thể hiện thô ráp, ý tình này của anh: “Đôi bàn chân của mẹ tôi/ mùa đông nứt toác như ruộng hạn/ đôi bàn chân không dép, giày/ đi gấp nhiều lần tôi đi dọc Trường Sơn!/…/ vệt nắng cuối chiều/ liêu xiêu dáng mẹ/ những dấu chân trần - vết sẹo thời gian…” (Đôi bàn chân mẹ).
“Nợ lời yêu” không có nhiều bài triết thuyết, luận bàn về thời và cả cái chưa phải là thời. Tác giả nếu đôi chỗ luận về nó thì lấy sự vật có thật, cảnh giới có thật mà dựng lên bóng hồn của cái ngoài nó sáng lên, làm cho cuộc sống thêm yêu, thêm mới lạ bao điều. “Vệt phù sa trên tượng phật” là bài thơ tiêu biểu cho loại thơ này. Sự linh thiêng bỗng trở nên gần gũi và hiển nhiên những đứa trẻ mới là nhân vật chính: “Mùa lũ,/ làng thành nấm đất nhỏ/ giữa mênh mang nước, trời/ trong ngõ đá/ ông phỗng với cái bụng to/ làm phao cho lũ trẻ bơi đùa”. Sàn diễn của một đời thơ là các tập thơ. Mỗi tập thơ lại là sàn diễn của các bài thơ.
“Nợ lời yêu” có 37 bài thơ. Mỗi bài đều có thân phận của nó. Khí sắc và vóc dáng của mỗi bài trong “Nợ lời yêu” tuy khác nhau nhưng lại biết cùng nhau sum vầy trong thiết tha nỗi đời nỗi người, tình yêu và cuộc sống. Thơ Hoàng Quốc Cảnh không sa vào triết lý chung chung, vô bổ hay xa lánh hiện thực đời sống. Trong thơ anh người ta nhận ra một con người thật hiền và gần gũi. Văn là Người. Tạng nào thì văn đó. Cổ nhân nói quả không ngoa ngôn chút nào. Người ta thấy trong “Nợ lời yêu” có lối thơ mộc mạc, ngôn ngữ trong sáng, không cố ý làm văn. Đó là nét được của tập thơ này. Thơ anh phong phú về đề tài phản ánh; non nước, quê hương, trận mạc và những ân tình của đời người cùng những thao thức, trăn trở về quá khứ và hiện tại. Cái tôi nhà thơ luôn nóng hổi những lát cắt của đời sống, sự giằng xé của thiện và ác, nhưng ở khoảng nào của thơ anh vẫn lộ ra một niềm tin yêu cuộc sống và khát vọng về một thế giới an yên, hạnh phúc. Xin có lời chúc mừng anh nhân xuất bản tập thơ đẹp và giàu ý nghĩa này.
P.K