Vần thơ rừng rực đỏ lòng
(Đọc tập thơ Giọt nắng của Trần Đàm)
BÙI LÂM BẰNG
Giọt nắng(*) là tập thơ thứ 6 của Trần Đàm. Tập thơ dày dặn, 144 trang, với 74 bài thơ.
“Giọt nắng” phải chăng là những giọt tình, là tình yêu cô đặc lung linh như những “giọt nắng”. Giọt nắng - giọt tình ấy lan tỏa trong những bài thơ về đất và người của ông. Đó là tình yêu thắm đẫm trên những thửa ruộng bậc thang, ở bản làng, ở bờ khe dòng suối, mặt sông, trên những bản làng bị lũ lụt cuốn trôi. Tên huyện đã mất. Tình yêu huyện càng sâu sắc đậm đà, trăn trở.
Có thể nói “Giọt nắng” là tình yêu sâu đậm của ông đối với những miền quê mà ông đã đặt chân tới.
Đúng như tên một bài thơ trong tập, tập thơ là “Tiếng lòng” của ông, là “Tiếng lòng xao xuyến bâng khuâng”.
Trần Đàm là nhà báo, là nghệ sĩ nhiếp ảnh. Ông đã được tặng tước hiệu AFIAP, tước hiệu Nghệ sĩ Nhiếp ảnh quốc tế. Ông viết phê bình văn học nghệ thuật (ở Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa, ông sinh hoạt ở Ban Lý luận phê bình). Nhưng ông lại yêu thơ, yêu thơ một cách hồn nhiên.
Tiếng lòng, thơ
Trong 6 tập thơ ông đã xuất bản, thơ viết về mẹ khá nhiều. Tình cảm của người con với cha mẹ mình, ở đâu, với ai… cũng thiêng liêng, tròn đầy. Với Trần Đàm, điều đó càng thấm rõ:
Gió trời một chút heo may
Nao nao nhớ mẹ giữa ngày vu lan
Một đời gồng gánh đa đoan
Mẹ như cánh vạc muộn màng về khuya.
…
Một đời áo vải mong manh
Mẹ quên mẹ, tất cả giành phần con.
(Vu lan nhớ mẹ)
Tháng tám xưa mẹ thân cò thân vạc
Lặn lội kiếm từng cọng cỏ nuôi con.
(Tháng tám)
“Xưa mẹ mớm cơm, thay tã cho con”.
“Xưa mẹ dắt con chập chững bước vào đời”.
“Công ơn mẹ như núi Thái Sơn không gì sánh được”.
…
Hiểu về mẹ như thế là thấu đáo lắm đấy. Cái đức “Tất cả giành phần con” là cái đức của tất cả các bà mẹ. Nhưng người con thấu cảm được điều đó, đã đồng nghĩa với sự tri ân vô bờ đấng sinh thành (Ấy là chưa nói đến trong đời, đâu đó cũng vẫn có những người con vô cảm, vô tâm).
*
Trong quá trình đi lên, vượt lên chính mình, không thể không gỡ bỏ cái cũ, cái không phù hợp, thậm chí trì trệ. Nhưng gỡ bỏ một cái gì đó gắn bó lâu đời, đã song hành cùng ta bao chặng thăng trầm, buồn vui, ngọt bùi, cay đắng… thì không khỏi bùi ngùi:
Tên huyện nay đã mất rồi
Những đêm không ngủ bồi hồi vấn vương.
…
Ta ngơ ngác sông vẫn đầy nước chảy
Lúa vẫn xanh bát ngát đồng nhà.
(Huyện ơi)
Ngày nước lũ
Con đò chao nghiêng lật ngang lật ngửa
Xác người trôi tận cuối Hàm Rồng
Một cái tang chung, gần nửa làng hương khói.
…
Con đò như định mệnh
Gắn chặt đời, không chút thả buông
Bao tiếng gọi đò ơi trong đêm gió
Bao kiếp người đã gắn bó với sông.
(Đò xưa)
Lòng trắc ẩn, nỗi cảm thương, sự đồng cảm của tác giả trước những vật lộn của con người với cuộc sống, với thiên nhiên trong cuộc mưu sinh… Điều này còn thấy ở nhiều bài thơ khác nữa của Trần Đàm. Đó là cảm thức đáng quý trọng.
Làng Nủ ơi, bản Nủ ơi
Nhà tan nát, lũ cuốn trôi sạch rồi.
…
Làng san phẳng như mặt sông
Bao người mất tích, tìm không thấy về.
(Thương về làng Nủ)
Nỗi đau làng Nủ, một nỗi đau vô cùng lớn, một vết thương chung, cả nước hướng về, triệu triệu tấm lòng hướng về, xót thương… Tác giả cũng không thể đứng ngoài triệu triệu người Việt Nam đó.
Nhật ký bằng thơ
Trần Đàm là người ưa xê dịch. “Cuộc đời là những chuyến đi”.
Đi, là tác phong của người nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhưng cũng là sở thích của ông, ông thích đi đây đi đó. Ông có mặt ở mọi miền của đất nước, mọi vùng của xứ Thanh. Vừa thấy ông ở Bến En, lại đã thấy ông nghiêng máy chụp ảnh ở Pù Luông. Ông đang sửa thế đứng để chụp ảnh cho mấy cô gái Thái ở Cổ Lũng, rồi đã lại có mặt ở Sầm Sơn sóng hát. Mà ở đâu, đi đâu, ông cũng có ảnh và thơ.
Đến bản Bút lúc chiều, buổi tối trong đêm lửa trại, ông đã cao hứng đọc thơ “Cây xanh dát vàng dát bạc/ Đường quanh co ngơ ngác ngân hà”; “Tiếng nhạc bập bùng, dàn chiêng hối thúc/ Váy Mường váy Thái thăng hoa”.
Chiều mây trôi la đà
Than hồng cời bếp lửa
Em vít cần nghiêng ngả
Pù Luông say trong mưa.
(Pù Luông)
Sương sớm buông bản trắng
Núi khoác áo mờ xanh
Bản lắc lư vạt nắng
Triền suối cạn ruộng cong.
Cọn nước reo kẽo kẹt
Hương nếp mới thơm lừng
Hoa xòe trên mái tóc
Búp măng hồng má em.
(Xuân ban công)
Thác reo tràn Cổ Lũng
Hiêu hiêu bờ vai thon
Miên man nước suối Nủa
Vòng tre cọn xoay tròn.
(Về bản)
Khỏa dòng nước mát trong veo
Hò dô tiếng hát đậu neo tim người
Đục trong mấy khúc lở bồi
Dòng sông Mẹ, cả một đời oằn lưng.
(Sông Mã Hàm Rồng)
…
Đúng là ông viết nhật ký bằng thơ. Các vùng quê trong thơ ông đẹp hơn bao giờ hết, “Đêm dạ hội nhạc âm vang vách núi/ Bàn tay xòe như búp măng non/ Tay nắm chặt những bàn tay vẫy gọi/ Suối Đang ơi, suối hát cùng người”; “Ta lượn về đứng trên núi Bàn A/ Mái ngói hồng chùa Chinh Nga soi bóng/ Cây cầu mới đoàn xe đi như rước/ Những ánh hồng, những tấm lụa Hồng Đô/ Núi Đọ xanh như ngọc giữa trưa hè”…
Ta ngả nghiêng, tay vít rượu cần
Mỗi nhịp chiêng ngân ngực em nhảy múa
Tay lỡ chạm vào tinh tú Tây Nguyên.
(Đêm Tây Nguyên)
Rờ rỡ một Tây Nguyên, không lẫn vào đâu. Ấy là cái tinh tế của tác giả.
Tác giả có chút “sám hối” vì “lỡ chạm vào tinh tú”. Một sự sám hối đáng yêu; đáng được lượng thứ. Và, thật thà đến thế là cùng.
*
Xuyên suốt tiến trình thơ (từ tập đầu tiên đến tập thơ thứ 6 này), Trần Đàm thủy chung một lối thơ. Ngôn ngữ thơ giản dị. Thơ trực cảm, không đa tầng, đa nghĩa. Không dẫn người đọc vào mê cung chữ nghĩa. Giản dị mà trong sáng. Lời thơ thật thà, đáng yêu “Vần thơ rừng rực đỏ lòng/ Nẻo đường bươn chải vườn hồng ngát hương”.
“Vườn hồng” trong thơ Trần Đàm lúc nào cũng “ngát hương”. Một sắc hương đậm tình người, tình đời.
21-6-2026
B.L.B
(*) Tập thơ của Trần Đàm, Nxb Văn học, 2026.