Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Bình luận văn nghệ   /   Vũ điệu thời gian và những hiểm địa văn chương
Vũ điệu thời gian và những hiểm địa văn chương

Vũ điệu thời gian và những hiểm địa văn chương
(Về Tấm thẻ bài in trong Dấu vết chiến tranh, tiểu thuyết của Từ Nguyên Tĩnh, Nxb Hội Nhà văn, 2025)

BÙI VIỆT THẮNG

Tấm thẻ bài và “hiểm địa văn chương”
“Tấm thẻ bài” in trong “Dấu vết chiến tranh” (Nxb Hội Nhà văn, 2025) dưới hình thức bộ sưu tập (collection), dự kiến gồm 3 cuốn tiểu thuyết hậu chiến của Từ Nguyên Tĩnh, đã xuất bản “Truyền thuyết sông Thu Bồn” và “Tấm thẻ bài” được viết trong khoảng thời gian dài (từ năm 1985 đến năm 2023), ngót 40 năm, chiếm đến gần cả một đời văn. Nếu ông trời còn ưu ái, còn sức lực và nhiệt huyết thì tác giả chắc chắn sẽ hoàn thiện bộ sưu tập tiểu thuyết hậu chiến bằng sự bổ sung tác phẩm thứ ba “Chết không dễ”. Có thể, bộ ba này là “cuốn sách để đời” của nhà văn xứ Thanh. Theo tôi, gương mặt nhà văn Từ Nguyên Tĩnh gắn với tiểu thuyết trong không gian văn học “Thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp). Ông đã tạo ra một văn sản tiểu thuyết đáng kể (8 cuốn đã xuất bản): Mảnh vụn chiến tranh, Không thành người lớn, Con thuyền mồ côi, Cõi người, Truyền thuyết sông Thu Bồn, Sống được là may, Đời côi cút, Tấm thẻ bài. “Tấm thẻ bài” chạm tới một “hiểm địa văn chương”. Vì sao nói như thế? Nó không chỉ kể về một “nỗi buồn chiến tranh” mênh mông, vô định mà còn ở nhiệt hứng tố cáo chiến tranh trong thực tế đã trở thành di họa nhiều đời với nhiều thế hệ dù trải nghiệm trực tiếp hay gián tiếp đều nhận quả đắng của di chứng chiến tranh lúc hữu hình lúc vô hình nhưng tàn khốc và vô nhân (hàng triệu nạn nhân chất độc da cam, cái chết được báo trước do bom mìn còn sót lại, sự đánh mất mình, thất lạc nhau trong và sau chiến tranh, nguy cơ đánh mất khả năng trở lại sống bình thường...). Câu chuyện một nữ Thanh niên xung phong (tên Thúy) bị một phi công Mỹ cưỡng bức trong chiến tranh buộc phải sinh ra một đứa con gái lai (Hạnh Allen) là đầu mối của câu chuyện bi đát đeo đẳng suốt phần đời còn lại của bà mẹ bất đắc dĩ, thật là một thứ quả đắng, “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Bàn tay thô bạo gớm guốc của chiến tranh đã cướp mất phúc phận của người phụ nữ đáng thương hơn đáng trách, đáng thấu hiểu và thấu cảm hơn đáng lên án và nguyền rủa, kỳ thị hắt hủi. Nhưng nếu chỉ dừng lại phần bi đát dẫu rằng nó là phần chính yếu của câu chuyện vào loại éo le nhất, xưa nay chưa từng thấy, thì tấn kịch cũng sớm hạ màn theo một cách thức nào đó, kể có hậu hay không có hậu. Tấn kịch đã bỗng nhiên thành tấn trò đời, thành sự bất công và trớ trêu của tạo hóa. Nhưng điều đáng nói là, cũng có thể tạo hóa trong trường hợp này biết đâu có khi chểnh mảng nên đã đánh rơi vô tình hay cố ý một “mảnh vụn”, một sinh linh xuống mặt đất để mà không nhằm hoạnh họe hay hành hạ nó mà cho (hay bắt) nó phải sống thêm một cuộc đời khác ngoài cuộc đời vốn có của mình do người mẹ vĩ đại và bất hạnh sinh thành ra. Câu chuyện bi thương này được nhà văn nhận làm “bà đỡ mát tay”(!?).
Mùi vị chiến tranh như là nguyên cớ sâu xa của cuộc cọ xát các nền văn hóa
Đọc và suy ngẫm “Tấm thẻ bài”, tôi nhớ lại một ý kiến sâu sắc của nhà văn Nga C. Ximonov (tác giả bài thơ nổi tiếng “Đợi anh về”, nhà thơ Tố Hữu chuyển ngữ thành công từ 1949, in trên Tạp chí Văn nghệ), được độc giả, nhất là bộ đội ưa thích. Ông còn là tác giả tiểu thuyết nổi tiếng về chiến tranh “Những người sống và những người chết” (chưa dịch ra tiếng Việt). Hơn một lần nhà văn nhấn mạnh, viết về chiến tranh cần thiết tái hiện cả hai chân lý (sự thật): Chân lý (sự thật) Tổng hành dinh và chân lý (sự thật) chiến hào. Nếu nhà văn nghiêng về một phương diện duy nhất nào thì hệ quả tác phẩm cũng có nguy cơ rơi vào phiến diện, cực đoan. Rõ ràng như thế. Nếu chúng ta say sưa với chân lý (sự thật) Tổng hành dinh theo sự dẫn dắt của nhà văn vốn ưa thích lý tưởng hóa, mỹ lệ hóa chiến tranh thì chỉ thấy “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, thì chỉ thấy những bộ óc mẫn tiệp của các nhà chỉ huy quân sự tầm chiến lược, những sa bàn hoành tráng, những mệnh lệnh kịp thời, những bản tin chiến thắng nức lòng... Chiến tranh có thể bắt đầu từ Tổng hành dinh nhưng kết thúc thường ở chiến trường, chiến địa, chiến hào đẫm máu. Tôi gọi đó là những hiểm địa văn chương. Ở Tổng hành dinh có thể chỉ thấy hoa nhưng ở chiến hào thì thấy rõ cả hoa, cả máu “Việt Nam ơi máu và hoa ấy/ Có đủ mai sau thắm những ngày” (Việt Nam máu và hoa - Tố Hữu). Chúng tôi không có ý nói trong “Tấm thẻ bài” chiến tranh được tái hiện đơn thuần chỉ có “Chân lý - sự thật chiến hào”. Có đấy “Chân lý - sự thật Tổng hành dinh” nhưng thực sự trở thành ẩn dụ. Cuối cùng thì, như dưới thanh thiên bạch nhật, “Tấm thẻ bài” đậm mùi vị chiến tranh. Cái mùi vị này không chỉ ám ảnh nhân vật bà Thúy (vợ ông Minh) và con gái Hạnh Allen, ông Minh, bà Hạnh (vợ ông Minh), nó kéo dài, xuyên thấm qua không gian và thời gian chiến tranh - hậu chiến, trong nước Việt Nam và ngoài biên giới Việt Nam (đến tận nước Mỹ xa xôi). Nó tạo nên một nét tâm lý xuyên văn hóa khi con người do những nguyên nhân khách quan và chủ quan dần dần bước ra khỏi phên dậu của không gian sinh tồn vốn eo hẹp và quen thuộc trước đây. Mùi vị chiến tranh đã trở thành một “từ khóa” xuyên suốt tác phẩm “Tấm thẻ bài”. Nó đi vào lời ăn tiếng nói, cảm thức và tâm thức của nhân vật (cả khi tỉnh lẫn khi mê trong sự thăng trầm của kiếp người, của nhân tình thế thái). Đặc biệt nhân vật bà Thúy, nạn nhân của chiến tranh (bị phi công Mỹ Anthony Smith cưỡng bức đẻ ra cô con gái đặt tên Hạnh Allen, cũng bởi một sự nhầm lẫm chết người khi đặt tên con). Nhưng chính bà cũng có khi ngộ ra mình là tội nhân, nên đã cố gắng trở thành cứu nhân. Vậy mùi vị chiến tranh đó là gì vậy? Rõ ràng là mùi của tử khí, của tử thần, của chết chóc, của hủy diệt. Nhưng mùi vị chiến tranh trong “Tấm thẻ bài” có sức ám ảnh không kém phần dai dẳng và quyết liệt đó là “mùi Mỹ” (mùi người)?! Viết đến đây, tôi chợt nhớ một ý kiến tinh tế và thú vị của thi sĩ Xuân Diệu “Không có gì gợi nhớ dĩ vãng bằng một mùi hương hay một giai điệu”. Trong “Truyền thuyết sông Thu Bồn”, tác giả cũng đã viết về “mùi Mỹ” từng ám ảnh nhân vật phụ nữ Thư có khi hết cả hai phần ba cuộc đời còn lại của bà. Có thể hiểu “mùi Mỹ” là sức mạnh Mỹ, văn hóa Mỹ, lối sống Mỹ, căn tính Mỹ, cách sinh tồn Mỹ trong một không gian văn hóa giao tranh Đông - Tây. Nó bật lên một triết lý nhân sinh “Không phải kẻ mạnh hay kẻ thông minh mà là kẻ biết thích nghi thì có lý do tồn tại”. Cuộc thiên di tất yếu của mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen sang đất kẻ thù (nước Mỹ) là cuộc cọ xát, nói lý thì đó là cuộc đụng độ văn hóa của những chủng tộc khác nhau trong xu thế toàn cầu hóa, khi “trái đất là ngôi nhà chung của thế giới”, con người sẽ chấp nhận từ thực tiễn đến khái niệm “văn hóa chính là sự khác biệt”, “văn hóa là cách sống cùng nhau”.
Hồi sinh trên đất kẻ thù, một cách lý giải khác biệt về mưu cầu hạnh phúc cá nhân
Trong thế giới hiện đại, khi “cái phi lý” (một khái niệm thuộc phạm trù Chủ nghĩa hiện sinh - L’existentialisme) tồn tại trong thế thống ngự thì cái bình thường có thể trở thành bất bình thường và ngược lại. Cái phi lý (vô nghĩa lý) đồng nghĩa với cái bất bình thường. Tác giả đã khai mở con đường thiên lý cho mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen đi tìm vùng đất hứa, mưu cầu hạnh phúc, kiến tạo sự hồi sinh, phục sinh cuộc đời trên chính đất kẻ thù - nước Mỹ. Nếu trước đây viết như thế thì tác giả có thể bị làm phiền không phải vì độc giả trước hết, mà vì những thiết chế văn hóa đặc thù như những “vòng kim cô”. Tại sao tác giả không chú tâm kiến thiết những thuận lợi về các tiền đề kinh tế - xã hội - văn hóa - giáo dục để mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen có thể thực hiện công cuộc mưu cầu hạnh phúc trên ngay/ chính mảnh đất Tây Nguyên?! Không có lý do gì để ngăn cấm con người được sống bằng cách tìm đường sống. Cuộc đời không có những ranh giới chết cứng, quan trọng là con người cần biết cách vượt qua nó. Rõ ràng tác giả có chủ ý ném nhân vật vào những thử thách phi truyền thống với con người trong một thế giới phẳng và mở. Hoàn cảnh điển hình có tính khắc nghiệt đòi hỏi con người lựa chọn và dấn thân. Bởi vì ngoài trời còn có trời. Cuộc mưu sinh lập nghiệp trên đất Mỹ của mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen, không chỉ bởi nó là đất hứa mà thực sự là miền đất cho những con người tự do, tự tin, biết cách khép lại quá khứ khổ đau, đói nghèo, bất như ý đứng lên bằng đôi chân, hai bàn tay và bộ óc mẫn tiệp của mình để chế ngự hoàn cảnh, để vượt khó, để đạt mục tiêu sống, để nảy nở và thăng hoa. Nước Mỹ dạy cho bất kỳ ai sinh tồn trên đất Mỹ biết cách nhập vào thực tiễn, biết cách học và hành, biết cách nói và làm, biết cách sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đặc biệt nước Mỹ biết cách dạy con người sống tự do, tôn trọng luật pháp, tôn trọng đồng loại, tin vào sức mạnh của mỗi cá nhân/ cá thể, lấy mục đích phấn đấu để được sống với chính khao khát và hoài bão riêng tư, được trở thành chính mình. Nói hình ảnh thì tác giả đã đặt ra mức xà cao hơn để mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen vượt qua, tự mình lập kỷ lục mới. Hạnh Allen đã trở thành công dân toàn cầu. Tất nhiên. Theo đó, bà Thúy cũng mở mày mở mặt với thiên hạ. Với chủ đề này, tác giả đã ngụ ý viết về không gian sinh tồn mới của con người thời đại. Rõ ràng nơi nào sống tốt với mỗi cá nhân chính là nơi con người có điều kiện phát huy tối đa phẩm cách và năng lực sáng tạo của cá nhân. Đó là bài học về tính nhân loại, tính người vốn trước đây nói/ viết đến có thể là nhạy cảm, thậm chí phạm húy?!
Tình hữu ái nhân loại như là biểu hiện của văn hóa tương lai
Trên đất kẻ thù (đất Mỹ) mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen, về cơ bản gặp được nhiều người tốt nên nhận được sự giúp đỡ vô tư trên tình người, tình hữu ái nhân loại. Trước đây chúng ta được giáo dục kỹ càng về giai cấp tính, chỉ biết đến tình hữu ái giai cấp, cao hơn nữa là hữu ái giống nòi, dân tộc, dòng máu Lạc Hồng cùng tổ tiên “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, “Chị ngã em nâng”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Hàng xóm tối lửa tắt đèn”, “Lá lành đùm lá rách”, “Tương thân tương ái”... Nhưng đấy là khi chúng ta chưa một lần đi ra khỏi biên giới quốc gia. Như ai đó nói chí lý, con đường của người nông dân xưa may mắn lắm kể từ khi rời khỏi cái nôi trong ngôi nhà của mình ra đến nghĩa địa làng là cùng?! Trên đất Mỹ, mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen đã tiếp xúc với rất nhiều công dân Mỹ có gốc gác khác nhau đến từ các lục địa khác nhau. Buổi đầu lạ cái lạ nước, nếu mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen sống giữa một cộng đồng vị kỷ, định kiến chủng tộc, thì đâu đã gặp được “thiên thời - địa lợi -  nhân hòa”. Một hạt giống tốt mà không được ươm mầm trên đất tốt thì làm sao nảy nở, phát triển tươi tốt. Công cuộc đi tìm cha đẻ cho Hạnh Allen, từ đầu đã bị đánh tráo sự thật do tình huống còn lưu lại tấm thẻ bài của viên phi công Mỹ sau này Hạnh lấy làm họ - Michael Philips Allen. Thực sự bố đẻ của Hạnh Allen là viên phi công Mỹ Anthony Smith trên cùng máy bay với đồng đội đã mất để lại một tấm thẻ bài gây bao hiểu nhầm, rối ren cho mẹ con bà Thúy. Nếu không có những người Mỹ tốt bụng ra tay cưu mang giúp đỡ, gỡ rối thì cái ngày danh phận chính thức, chính đáng của bà Thúy và Hạnh Allen phát lộ dưới thanh thiên bạch nhật, xét cả về pháp lý và đạo lý còn xa tít mù khơi.
Sẽ có nhiều độc giả đặt câu hỏi về vị thế của các nhân vật ông Minh (chồng chính thức của bà Thúy, bố nuôi Hạnh Allen), bà Hạnh (vợ chính thức của ông Minh), Phú (người lính, người yêu của bà Thúy, đã hy sinh) có vai trò như thế nào trong cuộc đời và số phận của mẹ con bà Thúy và Hạnh Allen? Phải chăng họ chỉ giới hạn biểu trưng cho tình hữu ái đồng loại, đồng bào, đồng chí trong nội bộ người Việt Nam, nên kém phần ý nghĩa triết lý khi tác giả có ý thức mở rộng giao diện của tác phẩm như một cuộc đối thoại văn hóa trong tình thế của một thế giới phẳng và mở?! Thực sự tác phẩm có tính đa chủ đề. Vì thế, các nhân vật chúng tôi vừa nêu trên không phải là “kép phụ”. Họ tồn tại độc lập trong một chủ đề khác - sự tuẫn tiết của những người hiền (người tốt) trên cõi đời. Họ tận hiến nhưng chưa có điều kiện tận hưởng. Nếu cần, chúng tôi có thể viết riêng một bài về họ, vào một dịp khác. Vì, chiến tranh nói/ viết mãi không cùng (một siêu đề tài).
Lời kết: Lưu luyến giọng cảm thương...
Trong việc tiếp cận phong cách nghệ thuật của một nhà văn, về lý thuyết thường nhấn mạnh đến nhân tố cốt lõi, quan trọng hàng đầu chính là “giọng điệu”. Đọc cả hai tiểu thuyết “Truyền thuyết sông Thu Bồn” và “Tấm thẻ bài” in trong bộ sưu tập “Dấu vết chiến tranh” của Từ Nguyên Tĩnh, tôi thấy nổi bật lên và xuyên suốt như “sợi chỉ đỏ” là một giọng thương cảm. Nói thương cảm là “tông” chủ đạo, không có nghĩa là mềm yếu, dễ làm mủi lòng độc giả theo tinh thần dân túy, mà là biểu thị của lòng trắc ẩn từ tình người, sự xót xa nuối tiếc và đau đớn vì cái đẹp bị tước đoạt bởi chiến tranh bạo tàn, tri âm tri kỷ với những số phận, kiếp người bị chiến tranh đày đọa, nghiền nát, toan xóa sổ. Đồng thời thương cảm cũng là cách chia ngọt sẻ bùi, cổ vũ con người đứng lên làm cuộc hồi sinh phẩm giá, sự sống và khích lệ mưu cầu hạnh phúc đích thực. Bởi vì hơn đâu hết trong nghệ thuật chân chính: Con người, hai tiếng ấy vang lên biết bao niềm kiêu hãnh!

Hà Nội, Hè 2026
                                B.V.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 262
 Hôm nay: 4623
 Tổng số truy cập: 17333038
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa