Về thơ Văn Đắc
MAI VĂN HOAN
Sở dĩ tôi chỉ nói thêm về thơ Văn Đắc là vì thơ anh đã được nhiều người giới thiệu, nghiên cứu, bình phẩm với những biên độ và góc nhìn khác nhau. Trong đó phải kể đến bài “Văn Đắc, tôi người Thanh Hóa” của nhà thơ Ngô Minh (Văn Đắc tuyển tập, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024). Gần như những câu thơ hay nhất của Văn Đắc đều được Ngô Minh chọn lọc trích dẫn. Ngô Minh cho rằng: Những câu thơ hay bao giờ cũng có thể đứng độc lập nên không cần ghi xuất xứ. Một số câu thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Bảo Định Giang… được lưu truyền rộng rãi trong dân gian như ca dao, lẫn với ca dao. Trong thơ Văn Đắc, bạn đọc cũng bắt gặp những câu hay có thể đứng độc lập như thế: “Có người lấy đũa uốn cong/ Đo trời đất ở trong phòng mà chơi”; “Phai thì lặng lẽ mà phai/ Tím như áo tím phơi ngoài chiêm bao”; “Ai kê sông lệch bên trời/ Để câu ca Huế một đời rơi nghiêng”; “Thích thì vác đá xây thành/ Uất thì chọc thủng trời xanh mà cười…”. Ngô Minh cho rằng: “Trong thơ Văn Đắc hình như bài nào cũng có những câu thơ hay, đa nghĩa, đa cảm”. Ngô Minh bình rất kiệm lời nhưng hết sức ấn tượng: “Trời Thanh Hóa của tôi là cái vó/ Thả lúc nào cũng vớt được tôi lên”. Đó là những câu thơ thốt lên, vang lên từ tâm khảm. Thốt lên khác với nghĩ ra hay làm ra. Chỉ có thi sĩ thực sự mới thốt lên thơ như thế”. Đúng là “tri âm dường ấy mới là tri âm”.
Tôi biết tiếng anh Văn Đắc từ bài thơ “Làng sơ tán” được giải báo Văn nghệ năm 1969. Đến giờ tôi còn nhớ một số câu: “Giặc bỏ bom ngang/ Ta xây làng dọc/ Giặc bỏ bom dọc/ Ta dựng làng ngang”. Cách nói cường điệu này đã phần nào thể hiện được sự nhanh nhạy, trí thông minh, lòng quyết tâm sắt đá của nhân dân ta trong công cuộc chống Mỹ cứu nước. Đó là thơ của một thời đạn bom, một thời máu lửa đáng được trân trọng. Hình như chỉ ở Thanh Hóa mới có cái “làng sơ tán” đặc biệt như thế. Tại Quảng Bình quê tôi, những năm chiến tranh không hề có “làng sơ tán”. Bà con quê tôi chỉ sơ tán đến những làng cách xa vùng trọng điểm. Đến năm 1978, khi dạy ở Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình, tình cờ tôi đọc được mấy bài thơ tình của Văn Đắc chép trong sổ tay một cô giáo da trắng, môi hồng, nói năng nhỏ nhẹ. Thì ra thời học Trung cấp Sư phạm ở Thanh Hóa, nàng là nguồn cảm hứng của Văn Đắc. Tôi thầm ghen với anh: “Chồng chềnh ngồi mạn đò ngang/ Em cùng thi sĩ thường sang chợ Bồng/ Em yêu thi sĩ phải không?/ Xin em hãy nói thật lòng với tôi...”. Kể từ đó, tôi thường xuyên theo dõi thơ anh. Dịp Đại hội Nhà văn nhiệm kỳ 2005-2010 ở Hà Nội, lần đầu tiên tôi may mắn được gặp anh. Anh trở thành người bạn vong niên của tôi. Bấy giờ tôi mới biết giữa anh và tôi có những điểm giống nhau đến kỳ lạ: Cùng sinh ra và lớn lên ở làng biển cạnh cửa sông, cùng học đại học Sư phạm, cùng dạy văn cấp 3 và cao đẳng Sư phạm, cùng ham chơi và đa tình, cùng say thơ như điếu đổ. Bởi vậy, tôi rất đồng cảm với mảng thơ viết về làng và mảng thơ viết về tình yêu lứa đôi của anh.
Làng Triều quê Văn Đắc giờ đã lên phố. Làng Thanh Hà quê tôi tuy có thay đổi nhưng vẫn còn những bãi cát hoang với hoa tứ quý, hoa chong chóng, hoa muống biển, hoa loa kèn… Từ khi bỏ phố về quê an nghỉ tuổi già, chiều chiều tôi thường ra cửa biển ngắm bầu trời xanh, nghe tiếng sóng vỗ. Văng vẳng bên tai tôi những vần thơ viết về làng của Văn Đắc: Một mình ngồi kể chuyện quê/ Ngổn ngang mây trắng bay về cửa sông; Tôi biết mình năm tháng đã lớn khôn/ Và làng xóm thì từng ngày đổi mới/ Mà cây gạo vẫn như hồi nhỏ tuổi/ Chừng như cây nhường sức lớn cho đời; Gang tay đo mấy kiếp buồn/ Mỏi chân, bạc tóc vẫn còn xa quê; Con chim bay vào chiều hôm/ Ngọn gió rẽ vào khe đá/ Khúc sông nơi nào cũng lạ/ Lặng lẽ trôi dòng phù sa; Cửa sông lắm lạch nhiều sò/ Áo tơi, nón rách đi mò ốc cua… Học theo Ngô Minh, tôi không ghi xuất xứ, bởi đó là những câu thơ hay có thể đứng độc lập. Nhà văn Lê Bá Thự (bạn cùng học cấp 3 Lam Sơn với anh Văn Đắc) nhận xét: “Văn Đắc có duyên làm thơ về làng, mỗi bài thơ về làng của anh là một khám phá, không bài nào lẫn với bài nào, bài nào cũng cuốn hút người đọc” (Nhà thơ Văn Đắc - chân dung tự họa).
Bên cạnh mảng thơ viết về làng, mảng thơ viết về tình yêu lứa đôi của Văn Đắc cũng có một số bài, một số câu để đời. Tạo được dấu ấn riêng ở lĩnh vực thơ tình thật không dễ chút nào, bởi nhân loại hiện có cả một kho thơ tình với đủ mọi cung bậc tình cảm. Qua mấy bài thơ chép trong sổ tay của cô giáo da trắng, môi hồng, nói năng nhỏ nhẹ, tôi biết Văn Đắc thuộc nòi đa tình. Thời tuổi trẻ của anh và tôi tuy không đến nỗi “nam nữ thụ thụ bất thân” như thời phong kiến nhưng chẳng được thoải mái, tự do như bây giờ. Thời đó yêu nhau mà không dám cầm tay, phải can đảm lắm mới có được một nụ hôn liều. Thơ ca ngợi tinh thần sản xuất, chiến đấu thì được đăng, được khen. Thơ tình bị xem là “lạc lõng trong thời đại chúng ta”. Muốn thơ tình được đăng, được khen là phải kết hợp giữa chung và riêng: Anh xưởng máy, em ruộng đồng; anh tiền tuyến, em hậu phương; tay anh quăng chài, tay em cấy lúa… Thỉnh thoảng mới xuất hiện trên sách báo một vài bài thơ tình “thuần khiết” của Chế Lan Viên, Tế Hanh, Xuân Quỳnh… còn phần lớn thơ tình “thuần khiết” phải làm chui, chép chui, đọc chui. Khi được “cởi trói” cả Văn Đắc và tôi đều đã “trạc ngoại tứ tuần”. Vậy nên anh mới: “Ta lẻn khỏi tuổi ta/ Tìm lại vườn tuổi trẻ”. “Ta lẻn khỏi tuổi ta” thì lạ quá. Chỉ có nhà thơ mới “lén khỏi tuổi ta” một cách lạ lùng như vậy. Còn “tìm lại vườn tuổi trẻ” để làm gì thì có trời mới biết! Đây là câu thơ vừa đa nghĩa vừa đa cảm. Mà đâu chỉ mình Văn Đắc, không ít người cũng “lẻn khỏi tuổi ta, tìm lại vườn tuổi trẻ” như anh: “Ai chê thì cũng mặc đời/ Một mình dì trở lại thời trẻ trung” (Dì tôi). Cháu cũng lãng mạn như dì nên cháu rất đồng cảm với dì. Cả hai dì cháu đều có khí chất ngang tàng, dám sống theo ý mình. Tôi cũng không ít lần “lẻn” khỏi tuổi mình, để “lang thang đi tìm rượu cùng em”. Và tôi từng mượn thơ Văn Đắc để hỏi lòng mình: “Tóc đà trót nửa hoa râm/ Mà sao xuân cứ vụng thầm nở hoa?”. Đây chẳng phải là “một câu hỏi lớn không lời đáp”, nhưng câu trả lời thật “không dễ dàng chi”. Nhà thơ Xuân Diệu từng khẳng định: “Làm sao sống được mà không yêu”! Còn nhà thơ Văn Đắc thì thủ thỉ bên tai người đẹp: “Đời mà không hẹn/ Buồn ơi là buồn/ Tình mà không hẹn/ Buồn ơi là buồn/ Nhưng mà lỗi hẹn/ Còn gì em ơi!”. Với Văn Đắc, tình yêu như có phép màu: “Ai bảo em kể lể/ Chuyện chúng mình yêu nhau/ Để bao nhiêu loài cỏ/ Nhớ em không bạc đầu”; “Tay em đã vịn vào cành/ Thì bao nhiêu lá cũng thành lời yêu”. Là người quê biển nên tình yêu trong thơ Văn Đắc thường gắn với biển: “Một bên biển biếc xa xăm/ Một bên bãi trắng cát nằm đăm chiêu/ Mỏ neo thả giữa sương chiều/ Thuyền đi rồi để lời yêu lại bờ”. “Mỏ neo thả giữa sương chiều” cũng là cách nói lạ và hay. Trong thơ Văn Đắc, tình yêu vừa có vị ngọt vừa có vị đắng, vừa có niềm vui vừa có nỗi buồn. Thi sĩ cứ băn khoăn: “Niềm vui sao quá vội vàng/ Nỗi buồn thì cứ ứa tràn trong nhau”; “Môi em ngấm vị ngọt ngào/ mà sao vị đắng thấm vào môi anh”. Đây cũng là những câu thơ tình rất hay của Văn Đắc có thể đứng độc lập, không cần ghi xuất xứ.
Hiện nay thơ Việt Nam biến động. Phần lớn các bậc cao niên sinh hoạt ở các Câu lạc bộ quay về làm thơ Đường luật xướng họa chơi vui với nhau. Một số nhà thơ tên tuổi đang thể nghiệm và khuyến khích các bạn trẻ học theo phương Tây làm thơ “siêu thực”, “hậu hiện đại”. Có người tham gia trường phái thơ tân hình thức, có người chuyên làm thơ Haiku, thơ Sonnet… Văn Đắc thì chủ yếu làm thơ tự do, thơ năm chữ, bảy chữ. Anh viết cả trường ca và kịch thơ ghi dấu ấn một thời ở quê hương Thanh Hóa. Thơ anh tự nhiên tuôn trào theo dòng cảm xúc. Nhưng có lẽ sở trường của anh là thơ lục bát chăng? Đọc các bài viết về thơ Văn Đắc của Lê Bá Thự, Ngô Minh, Mã Giang Lân, Lê Quang Sinh, Lưu Đức Hạnh… tôi bắt gặp khá nhiều những câu thơ lục bát được các anh trích dẫn. Trước khi bắt tay viết về thơ Văn Đắc, tôi tìm kiếm và tập hợp những câu thơ hay trong “Văn Đắc tuyển tập” thì kết quả khá bất ngờ: hơn hai phần ba là thơ lục bát. Một số câu lục bát đặc sắc của anh đã khắc vào trí nhớ của nhiều thế hệ bạn đọc. Đó là: “Phai thì lặng lẽ mà phai/ Tím như áo tím phơi ngoài chiêm bao”; “Ai kê sông lệch bên trời/ Để câu ca Huế một đời rơi nghiêng”; “Một mình ngồi kể chuyện quê/ Ngổn ngang mây trắng bay về cửa sông”; “Mỏ neo thả giữa sương chiều/ Thuyền đi rồi để lời yêu lại bờ”; “Thích thì vác đá xây thành/ Uất thì chọc thủng trời xanh mà cười”… Nói như Ngô Minh: “Những câu thơ sâu thẳm, lấp lánh ấy có thể viết cảm bình đầy cả trang giấy!”.
Thanh Khê, 20-7-2025
M.V.H