Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Bình luận văn nghệ   /   “Mẹ Tơm” - Lòng biết ơn của Đảng đối với nhân dân
“Mẹ Tơm” - Lòng biết ơn của Đảng đối với nhân dân

“Mẹ Tơm” - Lòng biết ơn của Đảng đối với nhân dân

                                   LÊ NHƯ BÌNH

Ngoài xứ Huế - nơi chôn rau cắt rốn, nơi cậu bé mười hai, mười ba tuổi được nằm bên mẹ ặm tròn lưng, nơi có những phút giây bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim,… thì xứ Thanh cũng đã in dấu những năm tháng không thể nào quên trong đời cách mạng, trong đời thơ và cả cuộc đời riêng tư của Tố Hữu, nhà thơ - chiến sĩ gắn bó sâu sắc với lịch sử và văn học Việt Nam.
Bởi lẽ, xứ Thanh có người con gái không chỉ vì tình yêu mà còn vì lý tưởng, chấp nhận gian khó để trao thân gửi phận cho một chàng trai nơi cố đô xa xôi; xứ Thanh cũng có một bà mẹ đã chở che, nuôi giấu Tố Hữu - người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi - vừa thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù, vượt ngàn dặm đến đất khách mà vẫn như trở về tổ ấm gia đình.
Có lẽ vì vậy, trong những bài thơ rất hay viết về người mẹ của Tố Hữu: Bà má Hậu Giang, Bà mẹ Việt Bắc, Bầm ơi, Bà Bủ, Mẹ Suốt, Mẹ Tơm… thì một bài viết về mẹ đẻ - bà mẹ xứ Huế (Quê mẹ), và một bài viết về mẹ nuôi - bà mẹ xứ Thanh (Mẹ Tơm) là những khúc ca đằm thắm thiết tha được dệt bằng giai điệu quê hương và những cung bậc của tình mẫu tử.
Và cũng chỉ thấy ở hai bài thơ ấy, hai chữ quê mẹ trĩu nặng một ý nghĩa riêng tư ruột thịt thốt lên từ miền sâu thẳm của nỗi lòng người con xa xứ.
… Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
… Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa.
*
Về quê mẹ - những tiếng nói quen thuộc, giản dị nhưng xúc động xiết bao. Và nếu như, năm 1955, một nửa đất nước còn trong lửa nước sôi, Tố Hữu chỉ về Quê mẹ miền Nam, xứ Huế bằng tưởng tượng và con tim ông thốt lên lời thơ đau đớn:
Mẹ ơi dưới đất còn chua xót
Những tiếng giày đinh đạp núi đồi.
Thì năm 1961, trên miền Bắc hòa bình, ông được hưởng trọn niềm vui khi được bước trên con đường trở về quê mẹ xứ Thanh:
Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa 
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát 
Gió lộng xôn xao, sóng biển đua đưa 
Mát rượi lòng ta, ngân nga tiếng hát.
Giữa cái nắng trưa hè (bài thơ viết vào tháng 7-1961, tức là khoảng tháng 6 âm lịch), đi trên con đường cát, nhưng không khí thì dịu mát biết bao. Những câu thơ vang lên tự đáy lòng - một thế giới đang rộn ràng tiếng nhạc: những vẫn điệu mềm mại như tiếng ru: xưa, trưa, xôn xao, đu đưa, ngân nga, ta; những cách ngắt hơi nhịp nhàng như một điệu nhảy êm (4/4, 4/4); cái âm điệu dập dờn từng lớp sóng vỗ bờ; một thế giới lòng người đang hòa vào cảnh vật: gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa, lòng ta, ngân nga tiếng hát. Đó là thơ, là nhạc, là họa, còn là niềm vui, là nỗi háo hức - một cảm giác hạnh phúc của con người được trở lại mảnh đất ngày xưa đã dành cho mình nhiều ân nghĩa.
Bởi vậy, con đường về quê mẹ cũng đồng thời là con đường về với những kỷ niệm ấm áp của lòng mình. Hình ảnh quá khứ (mười chín năm rồi) luôn sánh đôi với hiện tại (hôm nay). Hàng loạt những câu hỏi xuất hiện, người trở về tự hỏi lòng mình: “Ôi có phải sóng bồi thêm bãi trước/ Hay biển đau xưa rút nước xa rồi?”. Khi cảm nhận một không gian thoáng đãng, mát dịu thay cho đoạn đường xưa cát bỏng lưng đồi; khi là những tiếng chào, những cái bắt tay của người thân lâu ngày gặp lại: “Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó/ Có nhiều không con nục con thu?/ Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố/ Nhớ nhau chăng hỡi Hanh Cát, Hanh Cù?”. Mỗi bước gần quê lại gợi lên những tên đất, tên làng, tên sự vật,... quen thuộc ở một vùng biển, cho thấy miền đất Hậu Lộc xứ Thanh này thực sự là một mảnh tâm hồn người trở lại. Vì vậy, với nhà thơ, quê mẹ nuôi hiện lên là một thế giới rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị cố hương: khóm dừa xanh, đồi cát trắng rung rinh nắng, vườn dưa đỏ ngọt lành.
Và quê hương sở dĩ trở thành miền sâu thẳm của lòng ta bởi một lẽ giản đơn là nơi đó có người mẹ thân thương của đời ta. Chính vì thế, gần tới nhà, người đầu tiên mà con nghĩ đến là mẹ. Và nghĩ đến mẹ, cũng là lúc giọng thơ chùng hẳn lại, rưng rưng:
Như đứa con đi, biệt xóm làng 
Nửa đời bỗng nhớ bóng quê hương 
Nhớ lều rơm ướt sương khuya sớm 
Bãi vắng đìu hiu lạc dấu đường...
Một nỗi buồn, cảm giác ân hận, ăn năn: Con đã không phải với quê hương, đã không phải với mẹ, nửa đời ra đi không một hồi âm, đến nỗi, về quê mà lạc dấu đường. Hai chữ nhớ (nhớ bóng quê hương, nhớ lều rơm ướt) phần nào như những lời tạ lỗi của đứa con tuy cách mặt nhưng lòng vẫn giữ trọn tình hiếu nghĩa, thuỷ chung với quê hương, với mẹ. Đứa con ấy xứng đáng được thân thương gọi mẹ - người mẹ nuôi mà ông ghi lòng tạc dạ ơn nghĩa cao dày:
Con đã về đây ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy.
Ngày xưa có một người, lúc hàn vi được một bà lão cho bát cơm ăn, sau được phong vương đã gọi bà là mẹ và đem cả ngàn vàng đến tạ ơn(1). Tố Hữu làm cán bộ ở một nước dân còn nghèo, tất nhiên không có vàng để báo đáp. Nhưng tấm lòng của con người, hôm nay thành đạt, còn biết nhớ, biết khắc ghi hình ảnh người mẹ khổ đã dành cơm, cho con, cho Đảng ngày xưa ấy chính là tấm lòng vàng - thứ vàng không có châu ngọc nào sánh được. Và có lẽ, trái tim mênh mông biển rộng như mẹ Tơm cũng chỉ cần đến vậy.
*
Cái hay trong những câu thơ ghi nhanh về giây phút đầu tiên tới nhà là những tình huống vừa vui, vừa cảm động. Đặt chân vào nhà mình, mà không nhận ra:
Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng 
Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong 
Ngồn ngộn sân phơi, khoai dát nắng 
Giếng vườn ai vậy nước khơi trong?
Đã từng sống trong cảnh nồi khoai sớm tối lót thay cơm xưa kia, ai mà không ngơ ngác trồng quanh, lạ trước cái sắc màu sáng sủa, trong trẻo, cái không khí thơm tho, no đủ như vậy. Và cô gái má bồ quân, tóc xõa xanh bên giếng chào mình như khách lạ, lại hóa ra là người nhà: cô bé mười chín năm trước mới vừa một tuổi.
Điều thú vị là nhà thơ đã buột miệng xưng hô một từ rất Thanh Hóa: “Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nào?”.
Tình huống làm gợi nhớ chuyện nghìn năm trước, một nhà thơ thời nhà Đường, bên Trung Quốc, sống gần như cả đời ở kinh đô, tám mươi tuổi, về quê nghỉ hưu:
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi 
Hương âm vô cải, mấn mao tồi 
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức 
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai(2)?
        (Hồi hương ngẫu thư - Hạ Tri Chương).
Ông buồn vì từ thời niên thiếu đã xa gia đình, xa quê hương và khi già lụ khụ mới về; ông còn tủi thân vì gặp mặt những người đồng hương nhi đồng (chắc người già như ông chẳng còn mấy ai) mà chẳng nhận nhau, còn coi nhau là khách lạ. Chỉ có một điều an ủi duy nhất cho ông là đi bấy nhiêu năm, tóc đã rụng, mà thứ tiếng quê hương vẫn còn giữ được (hương âm vô cải).
Ta không thể đòi hỏi Tố Hữu, khi về Hậu Lộc, phải đặc sệt giọng mô tê xứ Thanh. Nhưng đưa được những từ ngữ ấy vào thơ một cách hồn nhiên như vậy, ngoài tài năng còn cần có một tấm lòng gắn bó máu thịt với mảnh đất mà nhà thơ chân thành tự nhận là quê mẹ.
*
Ở đoạn thơ cuối, cảm xúc của Tố Hữu đắm chìm trong những kỷ niệm - duyên may đời cách mạng của ông. Dường như ông không làm thơ mà kể chuyện - chuyện về những người thoát ngục tù đế quốc, đi tìm mối Đảng và gặp được người mẹ xứ Thanh nhân hậu ở vùng đất Hanh Cù.
Thành công của đoạn thơ là đã dựng lên bức tượng đài bằng ngôn từ về người mẹ Việt Nam, người mẹ Tổ quốc, số phận vất vả, đau thương nhưng sáng ngời một phẩm chất nhân ái, bất khuất, kiên cường, viết nên những trang sử vàng của đất nước bốn nghìn năm.
Nhưng sức cuốn hút của đoạn thơ lại ở những câu xuất thần, hấp dẫn người đọc muôn đời:
... Buồng mẹ - buồng tim - giấu chúng con
... Sống trong cát chết vùi trong cát 
Những trái tim như ngọc sáng ngời.
Đọc thơ Tố Hữu ta ít thấy tác giả triết lý, nhưng những câu thơ xuất phát từ “trong tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người” này thật giàu chất suy tưởng.
Buồng mẹ - buồng tim... Câu thơ nhắc đến một sự thật là mẹ Tơm thường giấu các chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật trong buồng nhà mẹ nhưng sự so sánh lại mang một chiều sâu chân lý. Trái tim vốn là biểu tượng của tình yêu thương - cũng là tài sản lớn nhất của người mẹ. Có người mẹ nào mà không dành tất cả tài sản ấy cho con. Mẹ dành cơm cho con..., đêm đêm ngồi canh cho các con họp bàn việc nước, không phải để sau này có tấm bằng ghi công hay chờ bổng lộc mà duy nhất xuất phát từ trái tim nhân hậu bao la của con người (thương người như thể thương thân), và cao hơn là của người mẹ nhân từ vì yêu con mình mà còn thương yêư con của người mẹ khác.
Còn gì ấm áp, an tâm và phúc đức bằng khi đời ta luôn được chở che, chăm bẵm trong buồng mẹ - buồng tim ấy.
*
Có thể nói xúc động nhất của cả bài là khổ thơ:
Ôi bóng người xưa đã khuất rồi 
Tròn đôi nắm đất trắng chân đồi
Sống trong cát, chết vùi trong cát 
Những trái tim như ngọc sáng ngời!
Dù cho câu cuối tràn đầy ánh sáng nhưng có cái gì đó xót xa, tiếc nuối, ngậm ngùi, tủi cực làm nặng trĩu cõi lòng.
Nhiều người đã bàn về chữ “vùi” hay chữ “hòa” trong câu thứ ba. Chữ “vùi” có cái đúng của kiếp người. Còn chữ “hòa” có cái hay của ý nghĩa: có cái gì vừa cao cả nhưng cũng vô cùng bình dị trong cuộc đời mẹ Tơm. Mẹ là anh hùng - anh hùng vô danh, không tượng đồng, bia đá mà hòa đồng vào biển trời, cát trắng. Và sự mất mát hiện tại không tan biến, đã mở ra cái vĩnh viễn đất trời. Mà đất trời Hậu Lộc, xứ Thanh (cũng như ở vũ trụ này), phải chăng là biển, là cát? (bài thơ bảy lần nhắc đến cát: bãi cát, cát bỏng, cát trắng, cát vàng, đỏ cát, sống trong cát, chết vùi trong cát). Có cái gì bền vững hơn cát? Hơn chăng là trái tim - tình yêu thương của mẹ - đó là thứ cát vàng, sa trung kim, vàng trong cát, không dễ gì nhìn thấy. Và cũng chỉ có lòng hiếu thảo của đứa con mới có thể soi cho cát vàng kia sáng ngời như ngọc.
Và hạnh phúc cho mẹ Tơm là người con hiếu thảo ấy đã trở về, thắp nén hương thơ, tri ân công đức của mẹ, để rồi 41 năm sau (1961-2002) người con ấy đã trọn nghĩa đời và vĩnh viễn theo về bên mẹ.
*
95 năm qua, thực tiễn cách mạng đã chứng tỏ dân ta rất biết ơn, tin tưởng và hết lòng đi theo Đảng. Qua bài thơ “Mẹ Tơm”, Tố Hữu cho ta thấy thêm một chiều ngược lại: Lòng biết ơn vô bờ của Đảng đối với nhân dân. Quả vậy, nếu không có lòng tin, sự đóng góp vô tư, hết mình của nhân dân - những người như mẹ Tơm, liệu Đảng có thực hiện được lý tưởng cao cả đã đặt ra, liệu Đảng có được quyền lực “tuyệt đối, toàn diện” và vững mạnh như ngày nay? Không có dân chắc chắn không có Đảng. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải cảnh báo nguy cơ về sự phai mờ lòng tin của nhân dân với Đảng. Bởi “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Thương dân, biết ơn dân, yêu nước chính là đạo đức cốt lõi của Đảng, là con đường duy nhất để Đảng giữ được niềm tin của nhân dân, nền tảng duy nhất cho sự tồn vong của Đảng. Ta luôn nghe câu nói cửa miệng của người dân “Ơn Đảng, ơn Chính phủ”. Hy vọng câu “Con biết ơn nhân dân” rồi sẽ luôn thường nhật cửa miệng của mỗi đảng viên, nhất là những người đang cầm quyền trong Đảng.
                                                                                           L.N.B

1- Xem Sử kí Tư Mã Thiên, NXB Văn học, Hà Nội, 1971.
2- Xem Thơ Đường, tập 1, NXB Văn học, H. 1987, tr.40.


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 59
 Hôm nay: 6402
 Tổng số truy cập: 14887971
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa