Thơ Haiku hội nhập sân thơ Việt
NGUYỄN THỊ DỊU
Trong giao lưu văn hóa toàn cầu, thơ Haiku của Nhật Bản, thể thơ rất được yêu chuộng ở nhiều nước, thậm chí đã được gọi là thể thơ Quốc tế (World Haiku) cũng đã bén duyên ở Việt Nam, được khá nhiều các cây bút hào hứng thử nghiệm và bước đầu đã có những tín hiệu vui. Khi được ánh xạ qua tâm hồn và tính cách Việt, thể thơ với những nét đặc trưng “thuần Nhật” đã được “Việt hóa” và chính sự tích hợp văn hóa này đã tạo nên một sản phẩm văn hóa vô cùng thú vị.
Thể thơ Haiku có dạng thức hết sức nhỏ nhắn, chỉ có ba câu (không có tựa đề), 17 âm tiết, với bố cục 5 - 7 - 5. Thơ Haiku kết tinh những giá trị văn hóa thâm sâu của phương Đông - Nhật Bản từ hình thức đến tư tưởng. Đó là tinh thần coi trọng sự tinh giản, chân phương, thanh nhã về hình thức và những triết lý sâu thẳm tình yêu cuộc sống thiên nhiên và con người:
Ôi cánh chim cu
Tưng bừng bay lượn ca hát
Bận rộn siết bao!
(Basho)
Đến đây xem! Để thấy
Chỉ còn một lá cô đơn
Trên cành kiri đấy
(Basho)
Haiku đòi hỏi người đọc phải “nhập cuộc” cùng trò chuyện âm thầm với nhà thơ, cùng nhà thơ sáng tạo tiếp bằng vốn văn hóa và kinh nghiệm sống của mình. Vì vậy, các tầng nghĩa của Haiku là lối mở không cùng, là những đáp án không hồi kết. Nhà thơ Tagor từng nhận xét về thể loại thơ Haiku: “Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài, rồi bước tránh sang bên”. Haiku có điểm gần gũi với lục bát ca dao, tục ngữ, thơ tứ tuyệt Việt Nam ở những điểm chung ấy, vì vậy, ở những tâm hồn am hiểu và gắn bó với văn hóa truyền thống rất dễ có sự gặp gỡ tương đồng với thể loại này.
Theo nhà nghiên cứu Lưu Đức Trung, từ 1945 đến 1975, thơ Haiku đã được một số nhà thơ, trí thức lớn của ta như Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Tường Minh, Ngô Văn Tao, Bùi Giáng và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tiếp cận và dịch thuật. Sớm nhất, phải kể đến một số bài dịch thơ Haiku trong bài viết Thi văn Nhật Bản với phong trào Âu hóa đăng trên báo Sài Gòn của Hàn Mặc Tử (1936). Đầu thập niên 1970, các bản dịch thơ Haiku bằng tiếng Anh của H.G. Henderson được Tuệ Sỹ, Nguyễn Tường Minh dịch sang tiếng Việt. Hai tác phẩm xuất bản sớm nhất phải kể đến đó là: Hòa ca (nhiều tác giả), bản dịch của Nguyễn Tường Minh, NXB Sài Gòn Sông Thao, 1971; Luyến ca (nhiều tác giả) bản dịch của Nguyễn Tường Minh, NXB Sài Gòn Sông Thao (1972). Sau năm 1975, Nhật Chiêu là người có công làm cho thơ Haiku được biết đến nhiều hơn ở Việt Nam khi ông lần lượt xuất bản những công trình nghiên cứu công phu về thơ Haiku, như: Basho và thơ Haiku do Khoa Ngữ văn báo chí, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994, Nhật Bản trong chiếc gương soi (NXB Giáo dục, 1995), Thơ ca Nhật Bản (NXB Giáo dục, 1998), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868 (NXB Giáo dục, 2003), Ba ngàn thế giới thơm (NXB Văn Nghệ 2007). Một số dịch giả khác như Hàn Thủy Giang với Basho - Con đường hẹp thiên lí (NXB Hà Nội, 1998); Vĩnh Sính với Basho, Lối lên miền Oku, (NXB Thế Giới, 1999); Haiku - Hoa thời gian của Lưu Đức Trung - Lê Từ Hiển (biên soạn) (NXB Giáo dục 2007), v.v… Cột mốc khá quan trọng, đánh dấu việc Haiku được công nhận một cách chính thức ở Việt Nam là sự kiện năm 2002, khi thơ Haiku được Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam đưa vào giảng dạy chính thức ở chương trình lớp 10, Trung học Phổ thông qua sự giới thiệu của Lưu Đức Trung và Đoàn Lê Giang.
Thơ Haiku đến Việt Nam có những đặc điểm sau: về đề tài, tập trung chủ yếu viết về thiên nhiên (chủ đạo) và những mối quan hệ trong gia đình, bạn bè, bằng hữu:
Lũy tre
kẽo kẹt
tiếng võng trưa hè
(Thái Trọng)
Hương bưởi đâu đây
thơm lây ngọn gió
tương tư tóc dài
(Vũ Tam Huề)
Trên cành phượng nhỏ
ngàn đôi môi đỏ
hát giữa thiên thanh
(Phượng Nhi)
Tiễn bạn bên rừng
bỗng dưng khóe mắt
đầy ánh trăng xuân
(Đông Tùng)
Về đến Việt Nam, Haiku đã bị ảnh hưởng của tính cách Việt, không còn bị giới hạn ở đề tài, nếu Haiku ở Nhật không có đề tài tình yêu thì ở Việt Nam, Haiku được dùng để tả vẻ đẹp thiếu nữ trong con mắt người tình:
Nép vào trăng cao
một bờ môi nhỏ
cùng ta đêm nào
(Thiên Bảo)
Cúc áo bung ra
trắng ngần
hạ đến
(Đức Việt)
Trăng mờ
leo đồi
vướng gai trinh nữ
(Lưu Đức Trung)
…
Lê Đạt và sau này là Mai Văn Phấn có lẽ là hai cây bút mê Haiku hơn cả. Lê Đạt có truyện ngắn lấy tên “Bài haiku” để thể hiện tình yêu, sự cảm phục của ông trước thể thơ này và trước chủ nhân đã khai sinh ra thể thơ kỳ diệu: thiền sư thi sĩ Basho. Thơ phỏng theo cấu trúc của Haiku của Lê Đạt cũng cố gắng gói dưới 17 âm tiết:
Từ Hải chữ tượng tình hận đứng
Gió hiu hiu
Lòng Kim Trọng bói Kiều
Mai Văn Phấn từng có hẳn tập thơ phần lớn làm theo thể Haiku: Lặng yên cho nước chảy (2017). Với tập thơ này tác giả đã đạt giải Văn học Cikada Thụy Điển năm 2017 (giải thưởng dành cho các nhà văn gốc Á). Nhiều bài trong tập “Lặng yên cho nước chảy” đã đạt đến độ “nhuyễn” về bút pháp HaIku, đó là thuần thục về cấu trúc và sâu sắc về ý tưởng:
Xa quê lâu ngày
Ra vườn hái lá chanh
Ngắt phải quả non
Buồn tận bây giờ
Tác giả tuân thủ thi pháp thơ Haiku từ cách đặt tên bài tham gia vai trò như câu mở đầu của bài thơ đến số lượng âm tiết trong toàn bài và từng dòng. Thêm nữa, lấy ý tưởng cảm xúc từ hình ảnh thiên nhiên để triết lý về vũ trụ, cuộc sống vốn là đặc điểm nổi bật của thể thơ xuất phát từ Thiền đạo:
Con đại bàng
Bay cao
Càng tin
Trái đất là giọt sương
Hoặc:
Chiều tà
Thiếu nữ lội qua suối
Mặt trời nhấp nhô mấy lần
Mới lặn
Gần đây, Nguyễn Phúc Lộc Thành đã trình diễn lục bát theo cách thức của Haiku, có thể nói, sáng tạo này cũng thật đáng kể:
1 -
Em,
hay là thính của mùa
Dụ đồng sen hạ cởi thưa cả trời?
2 -
Đầm sương,
vài lá sen phơi
Ta buồn
bốn mắt cùng cời đêm lên
(Đồng sen tàn 1)
Do đặc điểm loại hình ngôn ngữ khác nhau nên bài Haiku Việt thường không thể theo cấu trúc ngắt nhịp 5/7/5, nhìn chung, dạng thức “Haiku - Việt” chỉ còn giữ tinh thần của Haiku Nhật về hình thức ở tính cực ngắn, cô đọng, hạn chế tối đa số lượng từ ngữ (có số lượng tiếng/ âm tiết tối đa là 17), song, cách ngắt dường như không còn theo bố cục 5/7/5 mà linh hoạt và đa dạng hơn.
Có thể xem thơ Haiku Việt như là loài hoa mới, lạ trong vườn hoa thơ của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nếu ban đầu, người ta chưa quen ngắm nhìn loài hoa mới lạ này, thì giờ đây, người ta đã nhìn quen mắt, nhiều người ưa thích bởi chất sâu lắng và kiệm lời của nó. Hy vọng rằng, “Haiku Việt” sẽ tồn tại và phát triển, góp phần bổ sung cho vườn hoa thơ ca Việt Nam hiện đại thêm đa dạng và phong phú hơn về hình thức thể loại.
N.T.D