Đi tìm thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Trọng Liên
Đi tìm thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Trọng Liên
TRỊNH VĨNH ĐỨC
Nhìn lại vài chục năm gần đây, trong lúc bão thơ tràn ngập, nhiều tác giả thơ cho rằng thơ mình rất hiện đại, tiếp cận “hậu hiện đại” thì nhà thơ Nguyễn Trọng Liên vẫn như con ong cần mẫn, hàng ngày vẫn tìm tới những nụ hoa bình dị mang hương sắc đến cho đời, bằng nhiều tác phẩm thơ khá ấn tượng. Tôi đã đọc thơ Nguyễn Trọng Liên khá kỹ và nhận thấy ông là nhà thơ có giọng điệu riêng, đằm thắm, hàm ẩn sâu kín, gợi nhiều cảm xúc, xứng đáng được bạn đọc yêu mến, tìm đọc.
Con đường thơ của Nguyễn Trọng Liên không ồn ào, không quảng bá cho thơ của mình, không cần đi vào những cuộc thi thơ để tìm giải thưởng. Bởi ông hiểu lẽ đời, “hữu xạ tự nhiên hương”, có hương thì tự khắc nó tỏa. Thơ hay cứ để mọi người bình luận và còn phụ thuộc vào tri thức cảm nhận của từng người. Đúng là khí chất của người lính đã một thời “vào sinh ra tử” trong con người ông, đáng trân trọng lắm! Vì thế, tôi xem đọc thơ Nguyễn Trọng Liên, không chỉ tìm thấy chất riêng nét đẹp thi ca mà còn hiểu đời và thơ ông đi qua năm tháng. Đó là một nhà giáo làm thơ, dạy toán, viết truyện ngắn, bình luận văn học, viết tản văn, câu đối.
Nguyễn Trọng Liên quê xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã Thiệu Quang, tỉnh Thanh Hóa). Ông lên đường nhập ngũ năm 1965, tái ngũ năm 1972. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt lúc bấy giờ, nếu như các nhà thơ chiến sĩ như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Lâm Thị Mỹ Dạ… đã có nhiều bài thơ hay in vào khoảng trời thi ca, thì nhà thơ Nguyễn Trọng Liên cũng đã có thơ viết theo dọc chiến trường miền Đông Nam Bộ đăng báo Chiến sĩ. Duyên thơ của ông ngoài những điều đã nói, còn được sinh ra ở cái miền đất văn hóa ngã ba sông, bên dòng sông Mã, nơi đã hun đúc cho ông một tình thơ trĩu nặng.
Có thể nói, từ đời lính đến những năm tháng làm giảng viên, Trưởng bộ môn Hình học của Trường Đại học Hồng Đức, rồi cho đến khi nghỉ hưu, duyên nợ văn chương vẫn gắn bó máu thịt với ông. Nhờ vậy, ông đã để lại nhiều “đứa con tinh thần” qua hàng chục tập thơ đã xuất bản.
Năm tháng đi qua, thơ Nguyễn Trọng Liên đã hiện lên những dòng thơ tươi xanh, nhuốm màu sắc đỏ, thấm vào mạch chảy của dòng thơ đương đại. Điều mà tôi quan tâm nhất là thơ ông có nhiều nét đẹp trong tư tưởng, chỉn chu trong cấu trúc, sáng tạo trong sử dụng biện pháp nghệ thuật. Những ấn phẩm thơ đầu tiên cho đến nay, đã cất lên một giọng thơ mang âm hưởng thời đại. Đi vào lớp đặc trưng, ngữ nghĩa, thơ ông thuộc nhà thơ viết có nghề. Rộng về chủ đề. Thơ có tính nghệ thuật, từ cách xây dựng hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ chắt lọc, tinh xảo, cách sử dụng thi ngôn, thi ảnh hợp với cấu trúc, phù hợp ý tưởng đặt ra theo cảm hứng chủ đạo. Nếu nói trên báo Văn nghệ, các tạp chí Trung ương và địa phương, trong tuyển tập thơ Thanh Hóa nhiều tập, thì thơ Nguyễn Trọng Liên có một số bài được chọn in. Như vậy, rõ ràng đường thơ của ông đã định vị qua lăng kính của người đọc trên những ấn phẩm đáng tin cậy nhất. Tác phẩm chính đã xuất bản gồm: Vầng trăng chếch bóng (2000), Khoảng trống (2005), Giai điệu và em (2006), Khúc yêu (2010), Câu ru cuối ngày (2015), Đếm tóc (2021) cũng đủ để khẳng định những “đứa con tinh thần” của ông thật đáng trân trọng.
Tính thẩm mỹ thơ ông có một trường thẩm mỹ khá dày. Riêng thơ truyền thống ông viết có đủ các loại hình: Thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, thơ ngũ ngôn, nhưng tôi đặc biệt có cảm tình và yêu hơn cả, là những bài thơ lục bát ông viết. Năm 1974 tại ấp “Thái Mỹ Hưng” ôm xác người em cùng đồng đội còn hơi ấm trên tay, để lại cho ông những vần thơ da diết: “Thế là em đã đi rồi/ Ngoài kia vẫn đỏ góc trời đạn rơi/ Em còn ấm trên tay tôi/ Khóc em lạnh ngắt tận nơi tim này” (Em đã đi rồi).
Vào năm 1973, tại vùng đất Lộc Ninh, Nguyễn Trọng Liên là người chứng kiến khi viết về vùng đất chiến tranh năm xưa rưng rưng khó tả, sau ngày trở lại: “Trời ơi! còn lại tàn tro/ B52 đã xóa mờ dấu yêu/ Bia căm thù giữa xóm nghèo/ Gió loang mặt đá khắc điều đau thương”.
Viết về đề tài chiến tranh với góc nhìn từ hậu chiến, Nguyễn Trọng Liên thực sự có thế mạnh trong sáng tạo nghệ thuật. Nhà thơ đã từng đi qua những năm chiến tranh tại vùng đất lửa, nên đã thấu hiểu dư chấn vết thương để lại. Nổi bật nhất là cách chọn tứ, xây dựng hình tượng điển hình, thông qua ngôn ngữ thơ, vừa giản dị vừa gợi cảm xúc chân thành, nhưng đã khái quát được chiều cao của ý tưởng. Tôi rất tâm đắc với bài thơ ông đã đăng báo Văn nghệ. Và cách ông chọn “tít” tên đề bài thơ, “Cái trưa… đi tìm bóng anh”. Mượn thời gian để gợi nhớ, để tự sự là một cách để tạc câu chuyện vào không gian, thời gian nghệ thuật nhằm tìm về “bóng anh” thì quả là khá cao tay trong điểm nhìn nghệ thuật: “Mơ màng tìm bóng anh xưa/ Cái trưa… thuở ấy bây giờ ở đâu?/ Cái trưa… mưa đổ ngập đầu/ Trèo cây trộm ổi đằng sau tường nhà”.
Đó là ký ức của những ngày xa xưa mang nhiều kỷ niệm, để rồi nhớ mãi “cái bóng” từ thuở nhỏ cho đến khi “cái bóng” đi xa mãi mãi. Một yếu tố thẩm mỹ đặt vào thơ ông rất riêng: “Cái trưa… em lội qua sông/ Nước sâu ướt cả chiếc bồng phía Bưng/ Súng đeo vai cứ xì xùm/ Cầm canh pháo giặc phía lưng bắn vào… Cái trưa… nắng nhuộm màu quê/ nghe hanh gió bấc, bên lề rừng đau/ cái trưa... hôm ấy! hôm nào/ Tấm bằng liệt sĩ/ trên cao…/ ngước nhìn” (Cái trưa… đi tìm bóng anh).
Dù thơ lục bát hay thơ hiện đại, dù thơ mới hay thơ có xu hướng cách tân, Nguyễn Trọng Liên đã có ý thức làm mới cho thơ từ giọng điệu đến ngôn ngữ. Nhiều bài thơ ông viết câu từ chắt lọc. Điểm sáng thẩm mỹ đặt vào cấu trúc nhuần nhuyễn ý vị, đa dạng các chủ đề.
Nhìn về cái mới để nhớ về cái cũ, âu cũng là ý tưởng mà các nhà thơ lớn của dân tộc thường viết. Những chùm bài ông viết, thường nghiêng về thể thơ truyền thống nhiều hơn. Cảm hứng chủ đạo vẫn tập trung vào “tình yêu” nguồn cội (theo nghĩa rộng), để rồi thu về cõi lòng mình, cất lên những câu thơ chứa đầy sắc thái biểu cảm. Thơ Nguyễn Trọng Liên đi từ tình yêu cha mẹ, đến tình yêu làng xóm, quê hương, đất nước. Bài thơ “Con trở lại làng” là một tâm sự, được ông viết sau lần tái ngũ theo thể thơ mới. Tình cảm nhớ cha vào những đêm con bước vào trận tuyến, cứ day dứt một đời, mang theo nỗi nhớ: “Con trở lại làng với ngôi nhà tuổi thơ/ Để lần sờ dấu tay cha từng bấu víu/ Thanh tàu trơn mòn, đâu chỉ là đỡ ngói/ Mà ruột gan cha chà sát mặt dăm lim” (Con trở lại làng).
Trong thơ Việt Nam hiện đại những bài thơ viết về cha thường ít hơn viết về mẹ. Với Nguyễn Trọng Liên, sự liên tưởng nhớ cha bắt nguồn từ hiện thực, hằn lên những câu thơ đặc tả có sức gợi vô cùng: “Con đi vào trận tuyến không nhớ hết tên miền/ một mình con nằm nghe cha khóc/ Những đêm khuya rừng in tiếng thét/ Con nào biết cha đâu, trong ngực cha đạn rạch nát đường cày…” (Con trở lại làng).
Tính thẩm mỹ trong thơ Nguyễn Trọng Liên có một cái tôi trữ tình ấm áp, mới mẻ. Nhiều bài thơ mang tính tự sự xen trữ tình đằm thắm. Thơ ông cứ canh cánh một nỗi lòng nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ dòng sông bên lở bên bồi. Tiêu biểu là hình ảnh “làng” có những thi ảnh ẩn chứa niềm quê xúc động nhất. Chỉ riêng trong tập thơ “Câu ru ngày cuối”, ông đã dành trọn nhiều bài thơ trong tập thơ lục bát để viết về bà, về mẹ. Và đằng sau bóng dáng của mẹ là “làng”, nơi sinh ra ông bà, sinh ra cội nguồn nâng mỗi bước ông đi: “Bà tôi như một dòng sông/ Nối liền suối với biển giông một đời/ Chắt chiu từng giọt nguồn rơi/ Nuôi con cháu với âu ời tiếng ru/ Bà vun xanh tôi tuổi thơ/ Váy bà nâng những giấc mơ đợi chờ” (Bà tôi). Phải công nhận bài thơ có nhiều chi tiết sáng giá, ám ảnh đến lạ kỳ: “Bà vun xanh tôi tuổi thơ/ Váy bà nâng những giấc mơ đợi chờ/ Khóc bà dưới mộ bà ơi/ lưng còng bà có đau nơi suối vàng”. Có những đoạn thơ khiến tôi liên tưởng nhớ đến hình ảnh “người bà” trong bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy: “Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại/ dòng sông xưa bên lở bên bồi/ Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ Bà chỉ còn là nắm cỏ mà thôi”. Đọc bài “Bà tôi” của Nguyễn Trọng Liên, ta cũng bắt gặp một giọng điệu thuyết phục và giàu sức gợi: “Con sông vẫn chảy qua làng/ vẫn từ suối nước đổ sang biển đầy/ Màu nâu áo vẫn còn đây/ Còn treo mãi đến cuối ngày đời tôi”.
Cái hay trong thơ Nguyễn Trọng Liên có lối tư duy linh hoạt trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình. Đặc biệt cách xây dựng biểu tượng. Thường viết về làng ở nhiều dạng thức khác nhau, nhưng Nguyễn Trọng Liên bao giờ cũng tập trung tư duy xây nên biểu tượng độc đáo. Mà biểu tượng có được điểm sáng thẩm mỹ lại đi kèm với giọng điệu. Nó tựa hồ như “phải có sóng nhạc, thì lời mới hay”. Đó chính là triết lý mà Nguyễn Trọng Liên khai thác trong cảm hứng sáng tạo rất thành công. Tôi có cảm tưởng vẻ đẹp mỹ cảm trong thơ lục bát Nguyễn Trọng Liên rất gần gũi, dân dã đời thường, câu từ sáng đẹp, thu hút người đọc, có nhiều bài hay. Nếu ta đọc không kỹ, có thể cảm nhận lục bát ở cái cần tìm đến mà ta chưa thấy hết, thì thật là đáng tiếc. “Về làng mua lại tháng giêng/ Có con đò cứ chùng chiềng sang sông/ Cỏ hoa sim phớt cánh hồng/ Lay lay gió sớm đợi trông một người…/ Về làng chuộc chuyện đã xa/ Cái đêm hát kịch lẻn ra sân đình/ Tiếng chầu vuốt ngón tay xinh/ Ngập hồn quê lại “trốn tìm” nơi quê” (Về làng).
Trong chủ đề hướng về cội nguồn, hướng về mẹ, về làng vẫn là đề tài muôn thuở của thi ca. Nguyễn Trọng Liên viết về mẹ có nhiều bài mang âm hưởng của ca dao. Song, cái hồn cốt trong thơ ông đọng lại, chính là hình ảnh quê hương. Bài thơ “Cổ tích mẹ” của ông là một vệt nắng sưởi ấm tâm hồn những đứa con trong mỗi lần đi xa trở về: “Phù sa bên lở bên bồi/ Thời gian như chiếc gương soi đáy hồn/ Sao mai cha cứ bồn chồn/ Sao hôm mẹ lại thả buồn vào sông/ Bà như một áng trăng trong/ Tròn vành trái bưởi bên đồng tuổi thơ/ Tôi đi qua nắng qua mưa/ Cổ tích mẹ tiếng ve trưa đổ tràn”.
Đa số những bài thơ viết về nguồn cội, Nguyễn Trọng Liên đều sử dụng thể thơ lục bát. Tôi cho đây là sở trường của nhà thơ. Vì ở đó có nhiều bài hay, có những tâm sự dọc ngang, những cảm xúc ngắn dài đều lắng đọng tụ về những ký ức, gợi nhớ hồn cốt quê hương. Không những thế, đến thơ hiện đại ông viết càng đằm, càng sắc, càng sâu. Đặc biệt có sự chọn lọc câu từ khá sắc khi phối kết với phép liên tưởng gợi hình. Bài thơ “Hãy đừng quên… hỡi những người còn mẹ” của ông là một áng thơ hay: “Xin hãy về thăm mẹ khi mình có thể/ Mà gỡ tóc mẹ rối mù, trắng xóa tháng năm!/ Xin hãy học chữ Tâm từ trong đau xót thế gian/ Xin hãy ngồi bên mẹ trong ngày Lễ Vu Lan/ Để mẹ bày cho những gì phải “hóa”/ Để mẹ nói cho nghe những gì nên đọc/ Để mẹ chỉ cho xem ngọn khói trắng/ từ những thẻ hương/ đang bay về đâu?”.
Thơ Nguyễn Trọng Liên viết khi đi xa và khi trở về, mỗi bài mỗi vẻ, nhưng cần khẳng định thơ ông có chiều sâu cảm xúc. Tôi xem hành trình từ ngày ông đi lính trở về, thế giới nghệ thuật trong thơ ông có thêm sắc thái thẩm mỹ mới. Ông đến đâu cũng có thơ. Chả thế mà mỗi loài hoa có tên như hoa cải, hoa lục bình, hoa ly, hoa huệ, ông đều có thơ cho mỗi loài hoa. Trong một lần ông đến Hà Nội, hương hoa sữa vương vào nỗi nhớ, để lại bài thơ “Hoa sữa” cũng làm cho tâm trạng bao người thao thức đó sao!… Những vần thơ da diết: “Ta vẫn biết mùi hoa thơm sữa đặc/ Giục hồn người trở lại chốn xưa xa/ Trời Hà thành trắng mây mùa năm cũ/ Cứ ngổn ngang hồn vía giữa ngàn hoa” (Hoa sữa).
Tôi nghĩ, để có sự thăng hoa trong cảm hứng đem đến thơ hay trong mỗi lần đến các nơi danh thắng, thì Nguyễn Trọng Liên đều có. Vùng sơn thủy “Cửa Hà”, một địa danh thường lưu bút cho các tao nhân mặc khách qua chơi đề thơ vịnh cảnh, Nguyễn Trọng Liên không hổ thẹn với các bậc thi nhân, ông đã có thơ xuất khẩu đọc ngay: “Nắng ở đây hình như không phải nắng/ Là tơ trời ai thả xuống mặt sông/ Cây xanh mướt hai bờ vươn thẳng/ Chỉ mùa mưa là xối xả tuôn dòng/ Nghe như thế cứ là nhà em vậy/ Cửa Hà sông mở cánh tự bao giờ/ Bầy cá Lăng đầu nguồn đêm muộn/ ánh lên trời những đốm sáng lưa thưa”… (Cửa Hà). Có một điều đặc biệt, những thi ảnh mà nhà thơ chớp được như “cá Lăng”, “Cây xanh mướt” ở Cửa Hà vào thơ Nguyễn Trọng Liên dễ thương đến lạ. Đặc biệt, khi đến khu du lịch nổi tiếng Pù Luông (Bá Thước cũ) lại lấp lánh hơn những thi ảnh đến mê lòng. Nhiều tính từ gợi cảm hắt lên từ “bóng rừng”, từ con suối róc rách, đến các món ăn đặc sản vào thơ Nguyễn Trọng Liên bỗng vang lên một tiếng “khà” nghe ra rất thú vị: “Mùi cá nướng ngậy thơm bên vách đá/ Róc rách nước khe xuống tự lòng rừng/ Con suối vắng âm thầm một mình hát/ Chợt lòng ta cái nhớ cứ rưng rưng”. Nguyễn Trọng Liên đã đưa vào thơ nhiều món ăn đặc sản như: vịt Cổ Lũng, măng, rau đắng, cá Dốc kết vào thơ cứ man mác một chất riêng, để cuối cùng “Bình rượu Cần cứ cong eo để vít/ Tiếng “Khà” ai chếch choáng men say” (Bữa cơm chiều Pù Luông).
Với Nguyễn Trọng Liên dù đi đâu về đâu, vẫn có cái tình thi sĩ đặt vào “thời gian”. Ông xem thời gian là nốt nhạc găm vào hồn người khi nhớ về các mùa đã đi qua, trong đó có những năm tháng nhớ ngày trận mạc. Phải chăng, ông lấy mùa thu để lưu bút là có ý muốn nhắc nhớ về kỷ niệm. Tôi muốn đặt một nốt hoa mỹ vào bài thơ này, để khẳng định Nguyễn Trọng Liên viết về thơ hiện đại cũng rất ấn tượng: “Thu tím nhạt trôi dần về đông lạnh/ Những nụ mầm bật dậy trước xuân sang/ Không gian xanh pha mầu cho trắng hạ/ Trên lưng mềm ta cõng nặng thời gian” (Thời gian).
Thơ Nguyễn Trọng Liên có đủ sắc màu trong các tháng của năm, nhất là tháng giêng, tháng tư, tháng mười. Nếu như ông viết tháng tư có “Gió luồn trong nắng xôn xao” thì bài thơ viết về tháng mười “Ngóng chờ đợi gió heo may” là một bức tranh thơ hay cả về tứ, về ý và cả những ngôn từ lay động theo thể thơ tự do sáu chữ: “Tháng mười chừng như về muộn/ Ngóng chờ ngọn gió heo may/ Em ngồi trước gương thay áo/ Tím xanh những nốt hoa cài/…Hình như tháng mười nhạt nắng/ mười tư trăng đã vạnh tròn/ hình như nóng lòng ai đợi/ Hoa mùa ướp đọt môi son…/ Tháng mười mình anh ngồi nhớ/ Bần thần đếm khách sang sông/ Con đò ngang qua bến cũ/ bãi quen úa vạt cải ngồng” (Tháng mười).
Mượn đề tài về biển để thể hiện tâm trạng, thể hiện khát vọng gửi tâm sự của mình vào đời sống là một biểu hiện trong thơ Nguyễn Trọng Liên. Mặt khác thơ ông rõ nhất là thể hiện cái tôi trữ tình nghệ sĩ. Nhân vật trữ tình trong thơ là điểm tựa để diễn tả cảm xúc của lòng mình, diễn tả cảm xúc của hồn thơ mang đặc trưng thi sĩ. “Bài thơ tình biển” viết tặng những người bạn ở thành phố Vũng Tàu dưới dạng thơ mới, cũng thật biểu cảm, đáng nhớ. Nhân vật trữ tình cứ nối dài theo cảm xúc để mà cháy hết lòng trước biển xanh. Tôi nghĩ Nguyễn Trọng Liên đã rất thành công trong sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, đưa đến cho người đọc một khoảng lặng để tìm về ký ức.
Anh viết cho em bài thơ tình biển
Sóng cứ dâng và gió cứ vun đầy
Đường Hạ Long giờ này đông khách quá
Em nơi nào cho đêm biển say?
Nhà thơ đã thả hồn vào cảnh sắc Vũng Tàu. Rồi tự vấn trả lời, em ở đâu mà chỉ thấy biển như “dát bạc”, chỉ thấy “con tàu về muộn”. Nguyễn Trọng Liên như say với nhân vật trữ tình. Chợt nhận ra mình đã nhập vào thơ, nhập vào cái tôi trữ tình để viết thành những khổ thơ vừa mang tính triết lý vừa mang tính thẩm mỹ mang theo cả một miền thương nhớ: “Ừ, có thể em quên rồi lời hẹn/ Bởi chiều nay biển động với mưa bay/ Nào biết đâu em đang ngồi đọc sách/ Ngọn bút hai màu em đỡ trên tay/ Chỉ hiềm nỗi chúng mình xa ngái quá/ Nên gặp nhau đâu dễ tựa nơi gần/ Thôi thế nhé vẫn còn nguyên lời nhắc/ Sóng Vũng Tàu xanh biếc khúc Thùy Vân” (Bài thơ tình biển).
Viết về biển, Nguyễn Trọng Liên bao giờ cũng có khúc ngẫu hứng. Thơ ông có sắc thái thu hút người đọc. Mỗi câu thơ có một triết lý soi vào thế sự để thấy cái hữu hạn và cái vô cùng của con người, dù đứng trước thiên nhiên tự bạch: “Lạ lùng biển nước mênh mông/ Mà sao vẫn khát giữa tròng trành mơ”. Riêng viết về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, đi đến vùng nào ông cũng có thơ. Theo khảo sát số lượng về chủ đề này, ông viết khá nhiều. Trong tập thơ “Câu ru ngày cuối” và tập thơ “Đếm tóc” là một biểu hiện rõ nhất. Chất thơ ông mềm mại, có độ lắng, nhiều hình ảnh chân thực dễ đi vào lòng người: “Rưng rưng tôi đứng giữa trời/ Còn nghe tiếng gọi từ nơi ngục tù/ nghiêng mình soi bóng đồi cây/ Chim chao ngang bến về đây gọi đàn/ Nén nhang thả khói sang ngàn/ Ánh trăng linh cảm đổ tràn dòng La/ Lặng im bên bến Tam Soa/ Phút giây thiêng cõi lòng ta cháy bùng” (Thăm khu di tích Trần Phú). Đến với di tích “Côn Đảo” Nguyễn Trọng Liên ghi lại cảm xúc của lòng mình bằng bài thơ “Viết ở nghĩa trang hàng dương”, về với ngôi đền ở Bắc Ninh nổi tiếng ông có bài “Viết ở Đền Đô”, đến Huế “Thăm lăng Tự Đức”… Đặc biệt Nguyễn Trọng Liên có một loạt thơ du ký: “Với sông Thương”, “Bên Ninh Kiều”, “Ở đền Cô Bơ Bông”, “Lời thề thác Voi”, “Chiều trong nghĩa trang Hàm Rồng”, “Qua Hải Vân quan”, “Đà Lạt một lần”… Riêng bài thơ ông viết về thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ có những đoạn viết khá hay bằng thơ lục bát: “Đọc Kiều ai đã tạc tranh/ Mắt rưng lệ đục hoen vành mi ai?...”.
Ông đã từng đến Quy Nhơn, tỉnh Bình Định để ghé thăm thi nhân Hàn Mặc Tử. Từ đó sinh ra những câu thơ “ứa máu” viết về chàng thi sĩ họ Hàn. Ông đã từng đến với sông Hương để sinh ra những bài thơ viết về Huế, đến với Quảng Bình viết thơ về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đến sông Cầu Kinh Bắc để tìm hiểu về nhà thơ nổi tiếng Hoàng Cầm, rồi trở về Hà Nội có thơ viếng nhạc sĩ Thanh Tùng. Dẫu vậy, với xứ Thanh Nguyễn Trọng Liên hình như đã mặc định cho mình về tình yêu quê hương xứ sở, về tình yêu đất nước rộng dài trước các bậc vua có công với nước: “Đất quý hương mây ngũ sắc ôm làng/ Mỗi lần về thăm lòng ta thổn thức/ Chấp tay vái trước bia thơ dựng ngược/ Đêm lên đèn, vầng Cổ Nguyệt in sông” (Viết ở Gia Miêu - Triệu Tường).
Trong những lần vào dịp cuối năm, Nguyễn Trọng Liên luôn hướng về những người có công với nước. Ông đã đến thắp hương tại “Nghĩa trang Hàm Rồng” rồi lại hướng về Nam, hướng về những năm tháng mà ông đã một thời cùng “Trường Sơn” đánh giặc. Bài thơ “Nghĩa trang Trường Sơn” như một dấu lặng chạm khắc vào thời gian mang ý nghĩa sâu sắc: “Bước dừng lặng giữa nghĩa trang/ Xót xa hoa tím bàng hoàng lá xanh… Xin gọi tên vạn âm hồn/ Ra đi để mãi mãi còn nước non/ Trập trùng kia dãy Trường Sơn/ Tượng đài in dấu công ơn mộ phần/ Gio Linh đất ấm bước chân/ Giọt đau, chiều/ với tần ngần/ cỏ ơi!”.
Có thể nói hành trình thơ của Nguyễn Trọng Liên đến đâu cũng có duyên nghiệp với thi ca. Điều đáng chú ý, Nguyễn Trọng Liên với phẩm chất nhà thơ chiến sĩ, luôn chọn cho mình một lối đi riêng, không dẫm chân vào dấu người khác. Đó là phẩm chất tốt đẹp của người cầm bút. Trong chùm thơ ông viết về tình yêu, tôi đặc biệt trân quý ông ở sự gắn bó với nguồn cội, với cái ngã ba sông, với ngõ cũ đi về. Ở đó có bài thơ “Đếm tóc” ông viết cho người vợ thân yêu của mình trong tập thơ cùng tên, đã góp thêm một tiếng nói thi ca đương đại sáng ngời thẩm mỹ: “Cả đời được mấy lần đâu/ Bởi em đau mới gội đầu cho em/ Ngoài kia nắng rọi qua thềm/ Tóc em giờ đã nhuốm mềm màu mây”. Câu thơ quá hay, ánh lên thi ảnh rạng ngời nét nghĩa. Nó lại càng đẹp hơn, khi tóc được ví như màu mây mềm mại dưới bàn tay anh chải. Nguyễn Trọng Liên luôn mang trong mình phẩm chất nghệ sĩ, với cái tôi trữ tình mang theo suốt dọc hành trình thơ. Tuy nhiên, thơ Nguyễn Trọng Liên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Một số ít bài vẫn còn đơn giản trong câu chữ, nếu được điều chỉnh một số từ để trau chuốt thêm sẽ hoàn mỹ hơn. Mặc dù thơ ông có tính nghệ thuật cao, ngôn từ sử dụng đúng với nội dung cần biểu đạt, chủ đề hợp với ý tưởng mà tác giả đề ra, song vẫn cần phải sáng tạo, cô đọng hơn ở một số ít bài.
Nhìn chung, cách viết của Nguyễn Trọng Liên phổ tràn ánh sáng thi ca đương đại. Thơ ông không chỉ thể hiện tấm lòng trước những chuyển động của đời sống mà còn giàu tính thẩm mỹ, góp thêm một làn hương mới cho sắc màu thi ca đương đại. Và tất nhiên những bài thơ ông viết về quê hương, đất nước, nhân dân và người lính cũng như những suy tư trăn trở về thế sự, về cuộc sống hôm nay, vẫn miệt mài chảy, đem lại vẻ đẹp thẩm mỹ cho thơ, cho văn chương và cuộc sống hôm nay, ngày càng tốt đẹp hơn.
T.V.Đ