Tiếng lòng trong thơ lục bát Đỗ Văn Thức
TRỊNH VĨNH ĐỨC
Đỗ Văn Thức, sinh năm 1953, quê quán thôn Trinh Hà, xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời thanh xuân, năm 1968 anh đã từng là chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam đi chiến trường B mặt trận Quảng Nam, B3 Tây Nguyên. Khi trở về, anh trở lại mái trường cấp 3 Hoằng Hóa 2, học khóa 1973-1975. Anh luôn có mặt trong đội tuyển học sinh giỏi của tỉnh và miền Bắc. Là sinh viên đại học, Đỗ Văn Thức tốt nghiệp ngành công nghệ lọc hóa dầu tại nước ngoài, rồi về công tác trong nước, đến nay đã nghỉ hưu. Anh đến với thơ như một cái duyên trong cái tình mênh mông đau đáu với quê, với cha mẹ, bạn bè, với những gì đi qua trong dòng đời cuộn chảy.
Đọc tập thơ “Hoa xoan” anh tặng và những bài thơ anh đăng báo thời gian gần đây, tôi nhận ra một giọng lục bát Đỗ Văn Thức mang chất riêng, với nhiều nét lạ đáng chú ý. Tôi biết anh làm thơ không cốt để lưu danh, mà như một cách giãi bày, sẻ chia những rung động trước các chuyển động của đời sống. Lục bát - thể thơ mang hồn cốt người Việt - cho phép nhà thơ trải lòng về thế sự, gửi gắm nội tâm qua cấu trúc ngôn ngữ giàu nhịp điệu, để trao đi những nếp nghĩ, những quan niệm sống, hay một thông điệp với bạn đọc. Từ nhận thức ấy, Đỗ Văn Thức không ngừng tìm tòi, sáng tạo, đi theo con đường riêng, không lẫn với “bóng chữ” của người khác. Thơ anh mang vẻ đẹp truyền thống, chỉn chu trong cách dùng từ, vừa trang nhã, khuôn thước, lại vẫn giữ được độ hoa mỹ cần thiết. Càng đọc càng thấy nó không những có giá trị thẩm mỹ mà còn bung nở vẻ đẹp ngôn từ đối với tình yêu quê hương, đất nước, với cha mẹ, đồng nghiệp, bạn bè. Đọc thơ anh, tôi thấy có một hàm lượng ngôn ngữ diễn tả cái tình được vắt ra có ngữ điệu trong vắt, có trường thẩm mỹ theo lối viết tự sự xen trữ tình lay động người đọc. Cảm xúc đầu tiên là hình ảnh viết về quê hương tuổi thơ. Có lẽ, quá nửa đời xa quê, vì thế tâm trạng nhớ quê luôn canh cánh nỗi lòng. Và anh đã thổi vào thơ một tiếng nói tri âm để hiển lộ tri nhận về cuộc sống. Vâng! thơ anh là thế, quá nửa đời phấn đấu cho sự nghiệp anh vẫn dành cho quê chốn đi về đáng trân trọng lắm.
Xa quê quá nửa đời người
Nay về tìm lại góc trời ngày xưa
Tìm hoa dành nở ngây thơ
Tinh khôi e ấp bên bờ sông quê
(Hoa cỏ tuổi thơ)
Tình yêu trong thơ anh được trải dài theo thời gian, ẩn sâu vào ký ức để rồi bộc lộ tình cảm sâu nặng. Bài thơ “Tắm mưa” là bức tranh tuổi thơ đặc sắc: “Bất ngờ gặp trận mưa chiều/ Đầu trần thôi kệ để phiêu một lần”. Điều đáng quý nhất là anh đã dành trọn tình cảm với quê, nơi đã sinh ra anh bên dòng sông Trà Giang thơ mộng, gắn với biết bao kỷ niệm của một thời tuổi trẻ. Bằng những dòng thơ chứa đầy tâm sự, Đỗ Văn Thức đã có hàng loạt bài thơ viết mang đầy cảm xúc như: Hoa xoan, Hoa cỏ tuổi thơ, Thực và hư, Hoa cỏ dại, Trưa quê…
Đây cũng là mạch cảm xúc mà các nhà thơ lớn như Giang Nam, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Huy Mậu, thường viết rất ấn tượng theo chủ đề này. Với Đỗ Văn Thức, hình như, anh đã học tập được mạch cảm của những cây bút đàn anh như Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh trong hướng tiếp cận thơ của mình.
Tính nghệ thuật đặt câu hỏi tu từ vào các câu thơ kết, đã tạo nên giá trị lớn cho thơ. Rồi có những lúc, anh thảng thốt trong một chiều nhìn đàn chim én bay hình chữ V tránh rét không khỏi xao lòng.
Lâu rồi lại nhớ đàn chim
Bay cùng mây trắng theo hình chữ V
Nhớ ai, ai nhớ, ai tìm
Chiều buông man mác, cánh chim xa dần
(Chim bay hình chữ V)
Điểm nổi bật, thơ Đỗ Văn Thức đậm tiếng lòng trong thế giới nhân sinh. Đây là một khung rộng mà anh đã thả hồn vào nhân thế để tìm những điều mà thế gian thường nhắc tới trong cõi vô thường. Và khi cảm xúc của anh thăng hoa thì tứ xuất hiện, biến dòng trạng thái thành dòng chủ lưu đưa hình tượng thơ lên cao mang tính khái quát, biểu lộ những cảm quan suy nghĩ của mình trước đời sống.
Anh quan niệm về thơ với những cảm nhận bình dị nhưng ngọt ngào ý vị. Trên tinh thần của sự sáng tạo, thơ anh có nhiều cách diễn đạt với những phương thức biểu đạt khác nhau bằng nhiều hình thức. Nhưng không ngoại lệ cách học, tiếp thu những tinh hoa từ những câu ca dao mà ông cha ta đã kết dệt nên những lụa hoa tinh tú. Trong một lần bắt gặp vầng trăng đẹp trên bến sông Đình, anh có bài thơ “Bến sông Đình đêm trăng” đủ sức diễn tả cái tình trong vắt:
Nước trôi trăng có trôi cùng
Hay trăng vẫn ở bến sông làng mình
Chờ ai năm tháng đinh ninh
Về cùng soi bóng bến Đình đêm trăng.
(Bến sông Đình đêm trăng)
Anh đã đi qua biết bao những cơn mưa ở khắp mọi miền đất nước, nhưng “Mưa quê” đã níu giữ hồn anh qua những liên tưởng rộng dài. Và anh đã tự vấn: “Đi qua năm tháng dại khờ/ Trong mưa quê phủ trắng bờ sông quê/ Còn chăng một cõi đi về/ Nhìn mưa càng nhớ ngõ quê một đời” (Mưa quê).
Trong lối viết gắn liền với mạch cảm xúc thời gian, anh tập trung nhiều vào các mùa của năm. Với mùa thu, anh có bài thơ “Giã biệt mùa thu” mang tâm sự đầy ngẫu hứng khi nghĩ đến thời gian. Đỗ Văn Thức đã nhận thấy bước chân lãng du của mình trong cõi vô thường như có gì bâng khuâng, để rồi anh viết những câu thơ khá lay động lòng người: “Lá vàng thu khẽ khàng buông/ Là lời giã biệt chặng đường thu rơi/ Biết là thu sắp xa rồi/ Xin đừng vàng nữa lá ơi xin đừng/ Dẫu là năm tháng vô thường/ Thu đi thu vẫn còn vương đáy lòng” (Giã biệt mùa thu).
Với mùa đông, trong mỗi lần về Bắc, anh đã thấm cái lạnh buốt của mùa đông. Từ đó, đã biểu lộ tình cảm sâu kín của mình qua bài thơ “Nhớ mùa đông” ý vị, đậm đà, sâu lắng. Và ở đó anh đã tìm về một nỗi niềm nhớ mẹ, khi nhìn về phương Bắc xa xăm, trong những lần đài báo tin gió mùa Đông Bắc.
Đông ơi nhớ mãi khôn nguôi
Mưa phùn phủ bóng mẹ tôi trên đồng
Mong manh váy áo nâu sồng
Mùa Đông mẹ gánh mẹ gồng trên vai.
(Nhớ mùa đông)
Tôi nghĩ, riêng với bạn bè, thơ anh viết vô tư, hồn nhiên. Anh không bó hẹp niềm vui ở cái tuổi thất thập trong căn phòng nhỏ hẹp mà đã mở rộng niềm vui ấy trong mỗi chuyến đi xa, để được sống vô tư cùng bạn. “Hội trường, hội lớp mọi nơi/ Gặp nhau nhớ lại một thời thanh xuân/ Xá gì lục, thất mấy tuần/ Vẫn là cành liễu mùa Xuân bạn à”. Và thế rồi kỷ niệm “Người khóc năm xưa” đã thành tên bài thơ còn vương theo mãi. “Xa nhau giờ vẫn nhớ lâu/ ngọt ngào câu hát qua cầu gió bay/ Hình như có chút men say/ cho ta gặp lại nhớ ngày xa xưa”.
Trong thơ lục bát Đỗ Văn Thức, sự kết dính hình tượng nghệ thuật và những biện pháp tu từ là cốt tủy để tạo nên trường liên tưởng đem lại hiệu ứng tích cực cho người đọc.
Tiếng lòng trong thơ lục bát của Đỗ Văn Thức lắng đọng, tinh tế, trong sáng, yêu thương. Từ những vật dụng hàng ngày nhỏ nhất như “Chiếc tăm”, “Chiếc kim băng của mẹ” nó đã vượt qua thời gian, vời vợi một tấm lòng chứa đầy hồi ức. Đó là câu chuyện kể về một việc bình thường nhưng rất thiêng liêng nhớ mẹ. Nếu như bài thơ lục bát “Mẹ ra Hà Nội thăm con” của nhà thơ Lê Đình Cánh là một trong những bài thơ viết hay về mẹ của dòng thơ đương đại, thì nhà thơ Đỗ Văn Thức có bài thơ “Chiếc kim băng của mẹ” khi được tiền con biếu mẹ găm cẩn thận, rất đáng được chú ý trong thơ lục bát đương đại. Hay ở cách tạo tứ, cách tự sự, giản dị mà nói được bao điều.
Đi qua mấy cuộc vuông tròn
Lòng mẹ vẫn giữ lối mòn con đi
Cánh cò trắng vẫy điều chi
“Kim băng của mẹ”, con thì không quên
Con mong mẹ mãi bình yên
Mẹ là trăng sáng dịu hiền cho con
(Chiếc kim băng của mẹ)
Một trong những yếu tố sáng tạo tìm thấy trong thơ Đỗ Văn Thức là cách chọn đề tài cho thơ có một nét riêng. Thực tế về làng hiện nay, có nhiều nhà không có chủ ở, bởi các con đều công tác ở xa. Vì thế, anh viết bài thơ “Nhà vắng chủ” như có chút gì xa xót với những người con xa quê, khi trở về thường đứng lặng mình ngẫm ngợi, nghĩ suy và thốt lên một cảm xúc trào dâng khó tả: “Cha mẹ ơi ở phương nào, để con đứng đợi cồn cào nhớ thương”... (Nhà vắng chủ).
Trong hành trình thi ca, Đỗ Văn Thức viết đa dạng ở các thể loại, nhiều chủ đề phong phú, mang lại một diện mạo thơ, vừa mang tính cổ điển, vừa mang tính hiện đại. Với những năm tháng quân ngũ anh có các bài thơ: Lần đầu đi chiến trường B; Mưa rừng; Quân ta; Tiếng hát và tiếng suối; Tưởng nhớ Liệt sĩ. Sau khi xuất ngũ trở lại những địa danh mà anh đã đi qua có các bài thơ: Người lính trên đảo Thổ Chu năm xưa; Theo chân người đi định vị; Bị bắt làm con tin ở Triệu Hải; Con ong trên bán đảo Sơn Trà… Mỗi một chuyến đi là một kỷ niệm. Không những thế, anh vẫn dành một khoảng lặng cho các bài thơ anh viết về đề tài ca khúc dân ca như các bài thơ: Dạ cổ hoài lang; Trưa nghe Quan Họ; Ghen Quan họ... Đặc biệt bài “Tiếng đàn bầu” là tiếng ngân rung, thẳm sâu trong nỗi lòng nhớ quê hương, cha mẹ da diết. Và cuối cùng anh không quên những bài thơ viết về làng như: Hội làng; Ga tàu làng tôi...
Về nghệ thuật xây dựng hình tượng thơ trong thi ngôn, thi ảnh, Đỗ Văn Thức đã tạo cho thơ của mình có một nét riêng. Dẫu có lúc anh say trong miền thi cảm đến độ thăng hoa, nhưng vẫn tiết chế được cảm xúc để mang đến những sáng tạo mang tính hàm súc cao, cuốn hút người đọc. Tôi nghĩ, anh là người thành đạt trong sự nghiệp, nhưng trong tâm thế vẫn dành một khoảng không gian để trở về nguồn. Điều ấy, âu cũng là nghĩ suy của bao thi sĩ làm thơ và anh là người không ngoại lệ.
Có thể nói, tiếng lòng trong thơ lục bát anh viết, được soi chiếu bằng hai điểm nhìn nghệ thuật (pointof view). Điểm nhìn nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình. Trong cách thể hiện nhân vật trữ tình, tôi muốn nhắc tới giọng điệu, cảm xúc, cách cảm, cách nghĩ trong thơ anh khá thành công. Đọc thơ anh, tôi lại nhớ đến Maiakôpxki, người có sức ảnh hưởng của thơ ca Nga quan niệm “Chính người sáng tạo những quy tắc thi ca mới là thi sĩ”. Trên tinh thần ấy, tôi xem Đỗ Văn Thức đã có sự tìm tòi, sáng tạo mang chất thi sĩ trong cách sử dụng thi ngôn, thi ảnh cho thơ của mình. Trong tập thơ anh viết ngoài thơ lục bát là chính, số còn lại viết theo thể thơ mới, tự do, có rất nhiều bài hay. Thơ anh bám rễ vào hiện thực đời sống, nên trong cách diễn ngôn mang đến sự chân thành trong cảm xúc. Cái hay trong thơ Đỗ Văn Thức là mang được hồn cốt quê hương vào thơ. Cách sử dụng từ giản dị, ánh lên sắc diện. Không cần đánh bóng từ ngữ, hình ảnh, nhưng vẫn bật lên cảm giác rưng rưng. Không đại ngôn, trực ngôn mà vẫn có sức gợi lớn. Đặc biệt cách sử dụng tính từ, động từ trong thơ cùng với những điệp từ cấu trúc linh hoạt, phép so sánh hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn một số bài cần phải trau chuốt hơn nữa để tương xứng với sáng tạo tứ mà anh đã dày công xây dựng.
Có thể nói, khi đời sống được soi rọi qua những lát cắt thì tiếng lòng trong thơ lục bát Đỗ Văn Thức càng được giãi bày bằng những suy nghĩ lớn lao. Nếu vén cảnh phông trong thơ anh trước ống kính nghệ thuật sẽ hiện ra một bức tranh văn chương đượm mầu thế sự, nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp dung dị đời thường. Nhìn từ góc độ thi pháp, thơ anh có chiều sâu bản thể. Cấu trúc tổ chức ngôn ngữ thi ca nhiều ưu trội. Anh xứng đáng có một vị trí trong danh sách các nhà thơ lục bát đương đại. Đó là điều mà tôi và những người bạn viết, những người yêu thơ anh luôn dành nhiều thiện cảm mỗi khi tác phẩm của anh xuất hiện trên thi đàn.
T.V.Đ