Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Bình luận văn nghệ   /   Ngày xuân nói chuyện thơ Đường
Ngày xuân nói chuyện thơ Đường

Ngày xuân nói chuyện thơ Đường

                        PHẠM XUÂN QUÝ


Ngày xuân, khi mưa bụi giăng mỏng ngoài hiên và hương trầm lặng lẽ quyện vào gió mới, người ta dễ muốn chậm lại, rót một chén trà, mở một trang thơ xưa. Nói chuyện thơ Đường trong ngày xuân, vì thế, không chỉ là nhắc đến một thể loại hay một thời đại, mà là trở về với cội nguồn tinh thần của văn hóa Á Đông - nơi chữ nghĩa, khí phách và nhân sinh hòa làm một.
Thơ Đường, trước hết, là kỷ luật của niêm luật, là sự chắt lọc đến tinh khôi của ngôn từ. Nhưng vượt lên trên kỹ thuật, thơ Đường là nơi hội tụ của đạo, tình và khí. Chính bởi vậy, thơ Đường khi đi vào đời sống Việt Nam đã không dừng lại ở sự tiếp nhận hình thức, mà được Việt hóa bằng lịch sử, bằng vận mệnh dân tộc, bằng tâm thế của những con người đứng trước thử thách sinh tử. Nói một cách khác, thơ Đường luật là một thể thơ ngoại nhập nhưng đã được Việt hóa triệt để thành thể thơ dân tộc.
Bài thơ được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta - “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt - là minh chứng tiêu biểu. Chỉ với bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mà dựng nên cả một non sông. Ở đó, luật thơ Đường nghiêm ngặt không hề làm giảm đi hào khí, trái lại còn nâng khí phách dân tộc lên tầm thiêng liêng. Núi sông đã có chủ, vận mệnh đã được “thiên thư - sách trời” ghi nhận - đó không chỉ là lời cảnh cáo quân xâm lược, mà là lời tự khẳng định của một dân tộc trưởng thành trong lịch sử. 
Thời đại Nhà Trần (1226-1400), với 3 lần đánh tan đế quốc Mông - Nguyên, một đế quốc bách chiến, bách thắng bao trùm trên cả đại lục Á - Âu rộng lớn, ấy vậy mà không chiếm nổi tấc đất của một nước bé nhỏ ở phía Nam. Hào khí Đông A của quân, dân Đại Việt nổi lên ngút trời, quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc. Trong khí thế ấy, những vần thơ luật Đường lại vút lên thật là hào sảng. Ngày 18-4-1288 (tức ngày 17-3 Mậu Tý), sau chiến thắng quân Nguyên ở Bạch Đằng, triều đình đã đem các tướng giặc bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở lăng vua Trần Thái Tông (gọi là Chiêu Lăng). Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn (vì trước đó giặc Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa đi mà chưa kịp), vua đã tức cảnh ngâm hai câu thơ: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng - Trần Trọng Kim dịch).
Sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ 2, trong khi phò giá vua Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông trở lại Kinh thành Thăng Long. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đã cảm tác viết bài thơ “Phò giá về kinh” theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt rất thanh thoát, sâu sắc, thể hiện chí khí anh hùng và tình yêu non sông đất nước. Bên cạnh đó, chúng ta không thể không nhắc đến bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của tướng quân Phạm Ngũ Lão. Bài thơ có ý tứ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, âm điệu hào hùng và vô cùng sảng khoái, được lưu truyền rộng rãi, bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ thời ấy: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lý tưởng trung quân, ái quốc.
Trong thời đại Lê Sơ, Lê Thánh Tông là vị vua giỏi nhất ở hầu hết các lĩnh vực từ tổ chức bộ máy chính quyền cai trị, mở rộng lãnh thổ, phát triển kinh tế đến văn hóa - xã hội. Lê Thánh Tông là người sáng lập Tao đàn, gồm 28 người giỏi văn chương thơ phú, thường gọi là “Tao đàn Nhị thập bát tú”, do chính nhà vua làm Chủ soái. Tác phẩm của Lê Thánh Tông gồm cả văn và thơ, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Bài thơ luật Đường tiêu biểu nhất là bài “Ngự chế Thiên Nam động chủ đề”. Đây là cảm tác của nhà vua khi chỉ huy sáu quân duyệt binh trên sông Bạch Đằng vào tháng 2 năm Quang Thuận thứ 9 (1468) trong ngày gió hòa cảnh đẹp biển không nổi sóng, vua vượt qua Hoàng Hải đi tuần An Bang, đóng quân ở dưới núi Truyền Đăng(*) bèn mài đá đề bài thơ.
Trong kỷ nguyên của nhà Lê Sơ chúng ta cũng không thể không nhắc đến Đại thi hào Nguyễn Trãi. Ông nổi tiếng với tư tưởng yêu nước, nhân nghĩa, để lại di sản văn học đồ sộ bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, phản ánh tâm hồn cao đẹp và tài năng phi thường. Trong bài viết này chỉ xin giới thiệu 2 bài thơ hỏi - đáp giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Bài “Ghẹo cô hàng chiếu” của Nguyễn Trãi: “Ả ở đâu ta bán chiếu gon/ Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?/ Xuân thu phỏng độ chừng bao tuổi/ Đã có chồng chưa, được mấy con?”. Thơ đối đáp họa nguyên vận của Nguyễn Thị Lộ: “Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon/ Can chi ông hỏi hết hay còn?/ Xuân thu phỏng độ trăng tròn lẻ/ Chồng còn chưa có, có chi con!”.
Vào đầu thế kỷ XX, khi đất nước chìm trong vòng nô lệ, thơ Đường luật lại trở thành tiếng nói của những chí sĩ yêu nước. Phan Bội Châu - con người mang trong mình khát vọng giải phóng dân tộc cháy bỏng - đã dùng thể thơ cổ điển để gửi gắm tinh thần cách mạng mới. Bài “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” thể hiện trọn vẹn tư thế của người chiến sĩ: thân có thể bị giam cầm, nhưng ý chí thì không gì khóa nổi. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, nhiều cán bộ trung kiên của Đảng cũng đã làm thơ để tuyên truyền cách mạng giải phóng dân tộc với các thể loại thơ truyền thống, bao gồm cả thơ Đường luật đã Việt hóa, chẳng hạn như bài thơ “Nhắn bạn” của đồng chí Hoàng Văn Thụ - Nguyên Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, nguyên Thường vụ Trung ương Đảng khóa I, viết những ngày trước khi ra pháp trường: “Việc nước xưa nay có bại thành/ Miễn sao giữ trọn được thanh danh/ Phục thù, chí lớn không hề nản/ Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành/ Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm/ Chí còn theo dõi buổi tung hoành/ Bạn hỡi gần xa hăng chiến đấu/ Trước sau xin giữ tấm lòng thành!”.
Dòng chảy thơ Đường ấy tiếp tục ngân vang trong những năm tháng khắc nghiệt nhất của thế kỷ XX, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh bị giam cầm trong lao ngục Tưởng Giới Thạch (1942-1943). Thơ Bác trong tập “Ngục trung nhật ký” - phần lớn viết bằng thể thất ngôn tứ tuyệt - cho thấy một tâm hồn lớn ung dung giữa xiềng xích. Thơ vẫn giữ luật Đường, nhưng tinh thần thì vượt thoát mọi song sắt. Ở đó có nỗi đói, rét, có bước chân chuyển lao, nhưng trên tất cả là ánh sáng của niềm tin, của ý chí cách mạng và nhân cách tự do. Bài thơ “Không ngủ được” không phải vì khổ đau riêng, mà vì nỗi lo việc nước, thương dân luôn đau đáu hiển hiện trong con người của Bác. Trong bài “Nghe tiếng chày giã gạo”, Bác lại nói về ý chí, sự kiên nhẫn của con người trước mọi hoàn cảnh khó khăn, thử thách của cuộc sống, lúc gặp những khó khăn.
Bên cạnh đó là các bài “Chiều tối”; “Ngắm trăng” trong mỗi hoàn cảnh khác nhau. Bài thơ “Chiều tối” khắc họa vẻ đẹp tâm hồn Bác, với bút pháp cổ điển kết hợp với tu từ nhân ảnh từ “tối” sang “sáng”, từ “thiên nhiên” sang “con người”, đó là hình ảnh “thiếu nữ xay ngô tối” và “lò than đã rực hồng” mang lại hơi ấm và sức sống. Bài thơ có sự vận động tư tưởng rất sâu sắc và “hồng” là nhãn tự của bài thơ, thể hiện tinh thần lạc quan và sự quan tâm sâu sắc của Bác dành cho người lao động. Ở bài thơ “Ngắm trăng” lại thể hiện phong thái tự tại trong cảnh lao tù khắc nghiệt. Cuộc ngắm trăng diễn ra trong tù, thiếu thốn đủ đường “không rượu cũng không hoa”. Tuy nhiên, hoàn cảnh ấy không ngăn được sự giao hòa giữa người và trăng. Trong bài thơ, Bác đã dùng phép đối xứng giữa “người ngắm trăng” và “trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” cho thấy sự gắn kết thật là tri kỷ. Và vượt lên trên xiềng xích, tâm hồn người chiến sĩ cách mạng đã thực hiện một cuộc “vượt ngục” về tinh thần để tìm đến chân - thiện - mỹ. 
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và dân ta kháng chiến trường kỳ trong 9 năm để giành độc lập, hòa bình cho dân tộc. Những vần thơ Đường vẫn tiếp tục theo chân Bác đi khắp mọi nẻo đường để động viên đồng bào, chiến sĩ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bài “Cảnh khuya” Bác viết năm 1947, là một minh chứng tiêu biểu.
Sau chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông 1947 sang Xuân Hè 1948 quân ta lại thắng lớn trên đường số 4. Niềm vui thắng lợi tràn ngập tiền tuyến, hậu phương. Trong không khí sôi động và phấn chấn ấy, vào tháng 2 năm 1948, Bác Hồ đã viết bài thơ “Nguyên tiêu” - một đỉnh cao Đường thi kết tinh giữa cổ điển và hiện đại. Trăng rằm tháng Giêng - vầng trăng viên mãn của mùa xuân - soi sáng cả trời, cả nước, cả lòng người. Cảnh xuân đẹp đến lặng người, nhưng trong “yên ba thâm xứ” ấy lại là cuộc bàn bạc việc quân, việc nước. Thơ Đường ở đây không chỉ là thưởng nguyệt, ngâm hoa, mà là thơ của hành động, của trách nhiệm lịch sử. Và khi “dạ bán quy lai, nguyệt mãn thuyền”, ánh trăng đầy thuyền cũng chính là niềm tin tràn đầy trong lòng người lãnh tụ. Có thể nói văn là người và thơ là tấm lòng. Bài thơ “Nguyên tiêu” thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước sâu sắc và ở đó cốt cách thi sĩ hoà quyện chất chiến sĩ trong con người của Bác trên chiếc thuyền kháng chiến đang tiến nhanh về bến bờ độc lập, tự do. Bài thơ mang đậm nét thơ cổ thể: con thuyền, trăng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng... điệu thơ thanh nhẹ. Trong khung cảnh ấy chất chiến sĩ là trung tâm. Bài thơ như một đóa hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh. 
Ngày xuân, nói chuyện thơ Đường, để thấy rằng thơ không xa rời cuộc sống. Từ bờ sông Như Nguyệt, đến chốn lao tù Quảng Tây, rồi trên con thuyền bàn việc nước giữa đêm rằm - thơ luôn song hành cùng vận mệnh dân tộc. Luật Đường vẫn nghiêm, chữ vẫn cổ, nhưng tinh thần thì luôn mới, luôn trẻ như chính bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác vang vọng dưới bầu trời xuân của đất nước trong ngày Rằm tháng Giêng - Ngày thơ Việt Nam. Có lẽ vì thế, mỗi độ xuân về, đọc lại thơ xưa, ta không chỉ tìm thấy cái đẹp của ngôn từ, mà còn gặp lại chính mình - trong niềm tự hào, trong suy ngẫm, và trong niềm tin lặng lẽ mà bền bỉ vào một ngày mai.
                                                                                         P.X.Q

(*) Ngày nay là núi Bài Thơ tỉnh Quảng Ninh.


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 91
 Hôm nay: 9016
 Tổng số truy cập: 15702032
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa