Một trang sử vàng khắc dấu tích thời gian
Một trang sử vàng khắc dấu tích thời gian
(Nhân đọc bài thơ Ngọc Sơn tỏa sáng của Mai Sỹ Lân)
NAM THANH
Ngọc Sơn!
Một danh xưng - một huyền thoại!
Một trang sử vàng khắc dấu tích thời gian
Chuyện kể thời hậu Lê
Vua Lê Thánh Tông ban tên gọi
Và cầu mong Ngọc Sơn tỏa sáng đến muôn đời
*
Ngọc Sơn xưa
Cả một vùng Nam Thanh rộng lớn
Từ sông Yên trải dài giáp đất Quỳnh xứ Nghệ
Từ Đồng Lách núi giăng xuống biển đảo Nghi Sơn
*
Ngọc Sơn hôm nay
Một vùng đất thiêng!
Có núi, có sông, có đồng, có biển
Đất học Tào Sơn xứng danh khoa bảng muôn đời
Những cô gái dân quân Thanh Thuỷ
Phong tặng anh hùng bắn tàu bay Mỹ
Và nhiều lắm những tấm gương thời khói lửa
Phà Ghép, sông Yên nhuộm đỏ máu anh hùng!
*
Người dân quê tôi dù xa quê khắp chân trời góc biển
Vẫn nhớ giọng làng, đẫm muối mặn gừng cay
Tấm bánh quà quê, vị thơm ngon một thuở
Bánh đúc Cầu Đông, bánh tráng chợ Kho
Mộc mạc thôi, nhưng thấm đẫm tình quê
*
Người dân Ngọc Sơn nguyện một lòng theo Đảng
Ngọc Sơn hôm nay tỏa sáng đến muôn đời!
(Ngọc Sơn tỏa sáng - Mai Sỹ Lân)
Bài thơ “Ngọc Sơn tỏa sáng” của tác giả Mai Sỹ Lân, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Ngọc Sơn, được nhạc sĩ Trọng Bích phổ nhạc, ra đời đúng vào thời điểm phường Ngọc Sơn đi vào hoạt động (ngày 01-7-2025) trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của phường Hải Châu, phường Hải Ninh, xã Thanh Thủy, xã Thanh Sơn, theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đây là một tác phẩm giàu cảm xúc, đậm đà bản sắc quê hương và thấm nhuần tinh thần tự hào dân tộc.
Bài thơ “Ngọc Sơn tỏa sáng” là một khúc ca tự hào về vùng đất Ngọc Sơn, nơi hội tụ truyền thống lịch sử, văn hiến và cách mạng. Tác giả vừa sử dụng giọng thơ tự sự - trữ tình, vừa kết hợp tự hào - ngợi ca, để khắc họa hình tượng một vùng quê có quá khứ hào hùng và hiện tại rạng rỡ giao hòa.
Ngọc Sơn - huyền thoại và dấu ấn lịch sử
Ngọc Sơn!
Một danh xưng - một huyền thoại!
Một trang sử vàng khắc dấu tích thời gian...
Ba câu thơ mở đầu vang lên như một lời xướng thiêng liêng, khẳng định tên gọi Ngọc Sơn không chỉ là địa danh mà là biểu tượng của lịch sử và niềm tự hào.
Tác giả gợi lại nguồn gốc danh xưng gắn với vua Lê Thánh Tông - một vị minh quân nổi tiếng thời hậu Lê.
Trong suốt chiều dài lịch sử, tên gọi và địa giới của Tĩnh Gia có nhiều thay đổi. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông đặt tên là huyện Ngọc Sơn do phủ Tĩnh Ninh kiêm lý. Từ đó đến đầu thời Nguyễn vẫn giữ tên huyện Ngọc Sơn.
Vua Lê Thánh Tông ban tên gọi
Và cầu mong Ngọc Sơn tỏa sáng đến muôn đời.
Tên gọi “Ngọc Sơn” mang theo ý nguyện trường tồn, thể hiện niềm tin và khát vọng phồn vinh mà tổ tiên gửi gắm cho vùng đất này.
Quá khứ hào hùng - vùng đất rộng lớn, giàu truyền thống
Ngọc Sơn xưa
Cả một vùng Nam Thanh rộng lớn
Từ sông Yên trải dài giáp đất Quỳnh xứ Nghệ
Từ Đồng Lách núi giăng xuống biển đảo Nghi Sơn.
Khổ thơ này khắc họa không gian địa lý và tầm vóc lịch sử của Ngọc Sơn.
Các địa danh như sông Yên, Quỳnh (Quỳnh Lưu - Nghệ An), Đồng Lách, Nghi Sơn tạo nên một dải đất giao hòa sơn - thủy - hải, biểu tượng cho sự trù phú và đa dạng.
Cách diễn đạt mở rộng không gian (“từ… đến…”) cho thấy Ngọc Sơn từng là trung tâm lớn của vùng Nam Thanh, vừa giàu tiềm năng, vừa giàu truyền thống.
Ngọc Sơn - vùng đất thiêng, hiếu học, khoa bảng
Ngọc Sơn hôm nay
Một vùng đất thiêng!
Có núi, có sông, có đồng, có biển
Đất học Tào Sơn xứng danh khoa bảng muôn đời.
Đoạn thơ thể hiện niềm tự hào sâu sắc về quê hương Ngọc Sơn - một vùng đất hội tụ vẻ đẹp tự nhiên, văn hóa và truyền thống hiếu học.
Tác giả ngợi ca Ngọc Sơn không chỉ là “vùng đất thiêng” về địa thế (núi, sông, đồng, biển) mà còn thiêng liêng về tinh thần, truyền thống và con người.
Ngọc Sơn hôm nay/ Một vùng đất thiêng.
Đoạn thơ thể hiện sự trang trọng, khẳng định vị thế đặc biệt của Ngọc Sơn trong tâm thức người dân. “Thiêng” ở đây không chỉ mang nghĩa tâm linh mà còn gợi sự linh khí, hồn cốt của quê hương.
Có núi, có sông, có đồng, có biển.
Cấu trúc điệp từ “có” tạo nhịp điệu khỏe khoắn, vừa miêu tả vừa liệt kê, gợi ra sự trù phú, đa dạng của thiên nhiên. Ngọc Sơn hiện lên như một bức tranh hài hòa giữa sơn thủy, đồng ruộng và biển khơi - biểu tượng cho sự đủ đầy, vững vàng và giàu tiềm năng phát triển.
Đất học Tào Sơn xứng danh khoa bảng muôn đời.
Trải qua bao thế hệ, vùng đất Tào Sơn (Tào Sơn đông thuộc xã Thanh Thủy, Tào Sơn tây thuộc xã Thanh Sơn cũ) tự hào là đất học, đất văn, nơi sinh ra nhiều bậc hiền tài, trong đó tiêu biểu là Hoàng giáp Lương Chí cùng các hậu duệ của ông đều được ghi vào danh bia Tiến sĩ ở Văn Miếu và mãi là tấm gương sáng cho con cháu đời sau noi theo, làm rạng danh truyền thống khoa bảng của quê hương, để hôm nay Ngọc Sơn vẫn sáng mãi danh xưng “vùng đất học xứ Thanh”.
Tự hào về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo - một nét đẹp văn hóa của vùng đất Tào Sơn. Cụm từ “xứng danh khoa bảng muôn đời” vừa khẳng định truyền thống, vừa gửi gắm niềm tin vào tương lai - rằng danh tiếng ấy sẽ còn trường tồn và tỏa sáng.
Đoạn thơ là bản hòa ca ngắn gọn mà sâu sắc về quê hương Ngọc Sơn - nơi hội tụ linh khí đất trời, truyền thống văn hóa và tinh thần hiếu học. Qua đó, tác giả gửi gắm niềm tự hào, lòng biết ơn và tình yêu thiết tha đối với vùng đất văn hóa và truyền thống hiếu học.
Thời kháng chiến - khí phách anh hùng
Những cô gái dân quân Thanh Thủy
Phong tặng anh hùng bắn tàu bay Mỹ
Và nhiều lắm những tấm gương thời khói lửa
Phà Ghép, sông Yên nhuộm đỏ máu anh hùng!
Đây là phần đỉnh cao cảm xúc của bài thơ. Tác giả gợi nhắc một thời lửa đạn với những con người quả cảm. Hình ảnh “cô gái dân quân Thanh Thủy” là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam anh hùng, vừa bình dị vừa vĩ đại.
“Phà Ghép, sông Yên” trở thành chứng nhân của máu và hoa, của tinh thần chiến đấu và hy sinh.
Nằm trên tuyến quốc lộ 1A, từ năm 1965 đến 1973 phà Ghép là một trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ khi thực hiện 2 cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc. Bằng tinh thần anh dũng chiến đấu dưới mưa bom, bão đạn, quân và dân bên phía bờ Bắc và bên phía bờ Nam sông Yên đã có 3.000 ngày đêm giữ vững mạch máu giao thông của hậu phương lớn miền Bắc đối với miền Nam.
Qua 8 năm với 2 lần leo thang tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ đã dội xuống khu vực phà Ghép gần 38.000 quả bom đạn các loại, chưa kể đến hàng vạn quả đạn pháo tầm xa từ Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi bắn vào bất cứ lúc nào. Tính ra trong tọa độ đánh phá tập trung của giặc Mỹ, mỗi mét vuông nơi đây đã phải hứng chịu hơn 1 tấn bom.
Song, với sự quyết tâm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, “sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “xe chưa qua, nhà không tiếc” vì thế nhiều đoạn đường bị hủy diệt do bom đạn Mỹ chỉ sau vài giờ là được khôi phục thông suốt, nhiều tấn hàng hóa bị đánh chìm trên sông được trục vớt kịp thời ngay trong lửa đạn của kẻ thù, để phà Ghép vẫn đứng đó, hiên ngang, anh dũng và ghi dấu biết bao tập thể, cá nhân anh hùng, trong đó có đơn vị nữ dân quân Thanh Thủy.
Bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng bộ binh, các nữ dân quân đã biến điều không thể thành có thể. Hàng chục máy bay Mỹ bị bắn rơi bởi những người phụ nữ, họ thuộc các trung đội: nữ dân quân Hoa Lộc, nữ dân quân Hoằng Hải, nữ dân quân xã Thanh Thủy, đại đội pháo cao xạ Triệu Thị Trinh... Chiến tích của các chị đã trở thành huyền thoại về lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước bất diệt. Ngày 8-8-1967 trung đội nữ dân quân Thanh Thủy đã bắn rơi 1 máy bay A4D của giặc Mỹ.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc: Năm 1976, Dân quân du kích xã Thanh Thủy được phong tặng Danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”; Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hải Châu (năm 1998), Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Thanh Thủy (năm 2000), Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Hải Ninh (năm 2005), Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Thanh Sơn (năm 2005), Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Triêu Dương (năm 2014), được phong tặng Danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tình quê - sợi dây gắn bó thiêng liêng
Người dân quê tôi dù xa quê khắp chân trời góc biển
Vẫn nhớ giọng làng, đẫm muối mặn gừng cay…
Khổ thơ chuyển sang giọng trữ tình sâu lắng, diễn tả nỗi nhớ quê hương chân thành. Hình ảnh “giọng làng”, “bánh đúc Cầu Đông”, “bánh tráng chợ Kho” là những nét văn hóa bình dị mà sâu đậm.
Những câu thơ này như một khúc dân ca, gợi vị mặn mòi của biển, vị cay nồng của gừng, vị ngọt ngào của tình người. Dù đi xa, người con Ngọc Sơn vẫn mang theo hồn quê trong từng ký ức nhỏ bé nhất.
Lời thề son sắt và niềm tin tỏa sáng
Người dân Ngọc Sơn nguyện một lòng theo Đảng
Ngọc Sơn hôm nay tỏa sáng đến muôn đời!
Kết thúc bài thơ là lời khẳng định trung thành và tự hào. “Một lòng theo Đảng” là điểm tựa tinh thần, kim chỉ nam hành động. “Tỏa sáng đến muôn đời” là hình ảnh biểu tượng, gợi liên tưởng đến sự phát triển bền vững, vươn lên mạnh mẽ trong thời kỳ mới. Đây là lời thề của nhân dân Ngọc Sơn, vừa tri ân lịch sử, vừa hướng đến tương lai rạng rỡ.
Bài thơ với thể thơ tự do, giàu nhịp điệu, giúp diễn đạt linh hoạt cảm xúc tự hào, xúc động. Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh địa danh, mang đậm hơi thở quê hương. Sử dụng tương phản thời gian (xưa - nay) để làm nổi bật sự kế thừa và phát triển. Giọng thơ chuyển biến tự nhiên: từ hào hùng đến sâu lắng và tin tưởng, tạo nên mạch cảm xúc liền mạch và giàu sức lan tỏa.
“Ngọc Sơn tỏa sáng” - không chỉ là lời ngợi ca quê hương, mà còn là bản hùng ca về truyền thống, lòng yêu nước và niềm tin vào Đảng.
Bài thơ đã khéo léo kết nối lịch sử - hiện tại - tương lai, thể hiện tình yêu quê hương nồng nàn, niềm tự hào chính đáng và khát vọng vươn lên của con người Ngọc Sơn trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phường Ngọc Sơn nguyện đoàn kết một lòng; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; phấn đấu đến năm 2030 đạt chuẩn đô thị văn minh, để “Ngọc Sơn hôm nay tỏa sáng đến muôn đời”.
N.T