Đỗ Xuân Thanh - thơ đẫm “miền tái hiện”
VŨ QUANG TRẠCH
Trong số các cây bút xuất hiện trên văn đàn Thanh Hóa sau năm 1975, Đỗ Xuân Thanh là một nhà thơ lấp lánh tài hoa. Thơ ông thấm đẫm tình người, tình đời, gần gũi công chúng. Với ông, bất cứ điều gì nơi cuộc đời đều đáng quý, gợi mở yêu thương, đẹp và buồn sang trọng như thơ... Thật tiếc, ông “ra đi” khi tài năng đang vào độ chín, một thiệt thòi lớn cho văn nghệ Thanh Hóa, cho người đọc.
Mùa hè năm 2024, tôi tìm về Hói Đào xã Hồ Vương, tỉnh Thanh Hóa quê hương nhà thơ. Thật may, gặp được bà Lan vợ ông. Bà tạm dừng công việc để tìm cho tôi một số tác phẩm và tư liệu. Dịp khác, ngày giỗ ông, chúng tôi lại về Hồ Vương. Đứng lặng lẽ trước nghĩa trang nơi yên nghỉ của nhà thơ, buổi trưa vùng biển trời thẳm xanh vời vợi, những ngọn cây rì rào trong gió. Một không gian yên tĩnh đến lạ lùng... Thắp hương lên mộ, ngậm ngùi, xa xót thơ ông bên tai: “Ta đi ngược gió đường mưa/ Bước lên chín bậc thương vừa trăng lên”.
Đỗ Xuân Thanh sinh ngày 2 tháng 5 năm 1950, tại xã Hồ Vương, Thanh Hóa. Ông từ trần ngày 22 tháng 7 năm 1999. Ông từng là bộ đội chống Mỹ; tốt nghiệp khoa Ngữ Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội; Phóng viên Báo Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa; Biên tập viên Nhà xuất bản Thanh Hóa; Hội viên Hội Văn nghệ Thanh Hóa năm 1978.
Đi chưa trọn “Đường văn”, Đỗ Xuân Thanh đã có 7 tập thơ, trong đó 4 tập viết cho thiếu nhi: “Cầu đỏ hội đèn” 1984; “Mai An Tiêm” 1988; “Lá xanh” 1991; “Ông trời bật lửa” 1992; và các tập: “Ban mai hoa cỏ” 1986; “Tái hiện” 1992; “Đường mưa bay” 1995. Ông đã được nhận các giải thưởng như: Giải Khuyến khích cho tập thơ “Lá xanh” Cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi 1990-1991; Giải C cho tập thơ “Ông trời bật lửa” Giải thưởng văn học cho thiếu nhi 1993, Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức; Giải C, thi thơ 1989-1990 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội cho tác phẩm “Tái hiện”; Giải A - Giải thưởng VHNT Thanh Hóa 5 năm lần thứ Nhất; Giải thưởng hàng năm Hội VHNT Thanh Hóa.
Đam mê viết, Đỗ Xuân Thanh luôn khát vọng tái hiện trong thơ những cảnh đời nhiều đa đoan mà sâu lắng: “Nét xanh tái hiện cuộc đời/ Mẹ ta cùng giọt mồ hôi cấy trồng/ Ước mong trang viết tận cùng/ Trải về phương mẹ thấm dòng ưu tư” (Bước lên chín bậc). Cảm xúc rung ngân, đằm thắm trong từng con chữ, dâng trào đến đâu ông viết đến đó. Thương cảm, bao dung cho người ta nhận ra tình người, tình đời trong những xót xa thân phận: “Quê nghèo em phải xa quê/ Đường may sao chẳng may gì cho em” (Đường may gập ghềnh). Là người có tri thức, lại am tường văn hóa nên thơ Đỗ Xuân Thanh có vỉa tầng, bề dày văn hóa lấp lánh tâm minh trong chữ nghĩa: “Đêm thay yếm/ Ngọn đèn ngại sáng/ Mắt lá quanh thềm gió ngại lay...” (Tái hiện). “Muôn chiều hoang lạnh đá/ Hiu hắt niềm lãng quên/ Bóng tôi đổ xuống thềm/ Tháp Chàm thêm vết rạn” (Tháp bà). Nét màu văn hóa trong thơ ông rất đặc trưng. Đó là cảm thấm giữa quý phái thanh cao với bình dân ấm áp: “Thân nhộng thân tằm áo quần quấn cổ/ Nón ngửa sao trời ăn bốc cùng em/ Lại được dìu nhau bơi trước thủy thần/ Được ru biển giữa ngày sinh con nước...” (Ký ức hoang vu).
Không cầu kỳ gò ép, găm gồng đại ngôn, không ồn ào kiến giải triết luận. Nhân sinh trong thơ ông cứ lan thấm tự nhiên bản thể: “Ván thiên sập xuống thiên đường/ Ta ngồi lật ngửa ngọn nguồn âm ty” (Hoang mang); “Ngày trở lại tiếng chim thầm mách/ Cửa sóng này cua cáy vẫn đi ngang” (Ký ức hoang vu).
Dụ dẫn người đọc liên tưởng, suy ngẫm đến mức trầm lắng bể dâu. Phần nhiều các tác phẩm của Đỗ Xuân Thanh, dù trong hoàn cảnh, giai đoạn nào đều là những vệt mở, những nỗi niềm mà ông trực tiếp tương giao với đời sống. Xúc động nhuyễn chảy từng vi thể cảnh đời, trạng huống. Đọc ông, ta được nhận ra “Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi” (Puskin). Ông đẫm vào miền thương cảm, tái hiện ám gợi những miền ấy, đồng âm giao hưởng mà thành giai điệu tâm hồn. Với những người lao động cần lao, bươn chải bát cơm, tấm áo hàng ngày ông viết: “Vạt áo rách gánh triền đê xa mãi/ Chắt chiu lòng một sắc cói xanh tươi”, “Làng mới dựng cói lấn vào sóng bể/ Cho câu thơ tôi gặt cuối chân trời” (Đêm làng biển); “Làng Mật trăng tròn sương đẫm lạnh/ Tiếng máy nhà ai suốt lúa khuya rồi/ Trang giấy mở ấm dần lên nét chữ/ Tôi viết bên thềm mẹ giã miếng trầu vôi (Làng Mật). Vỉa trong trẻo sinh linh gợi mở “Thơ là kinh thánh của tâm hồn” (Thanh Thảo): “Tôi vẫn đi chợ phố một mình/ Chẳng bán mua gì chỉ mong gặp cỏ (Phố Nhồi); “Quán nhỏ bên đường em như suối/ Trầm tư dáng núi giọt sương buông” (Với cây).
Ở đâu và bao giờ Đỗ Xuân Thanh cũng trung thực với con tim của mình, nhịp cùng mưa nắng. Trong ông trái tim con người là tối thượng, là nguồn cơn để cảm xúc vào miền đời, nhân tình thế thái. Ông không bị chi phối bởi bất cứ một áp lực nào khi cầm bút mà câu chữ ứa ra từ ngậm ngùi, cao cả...
Sống ân tình, độ lượng, có ông ở đâu là nơi đó vui hoạt hẳn lên. Ông luôn chu đáo giúp đỡ mọi người, tạo điều kiện để bạn bè được thoải mái. Khi còn căn phòng riêng ở Nhà xuất bản Thanh Hóa, bạn văn có công việc, ông giao phòng cho bạn tự do nghỉ ngơi còn ông nghỉ nhờ nơi khác. Cả khi có căn nhà trong làng Mật, họ vẫn tìm đến nhà ông. Đồng nghiệp quý trọng Đỗ Xuân Thanh là quý trọng tấm chân tình. Ông mở hết lòng mình, quan tâm yêu thương sẻ chia. Họ là một phần không thể thiếu của cuộc đời, của văn chương ông. Ít có nhà thơ viết về bạn nhiều như Đỗ Xuân Thanh: “Nhà thơ trống trếnh mái tranh nghèo/ Mái tranh gió trăng vào để ngỏ/ Để thức mãi những trang thơ/ Đi vào cuộc hành trình ngược đường đến mộ” (Một đời thơ - Tặng Hữu Loan); “Anh cứ đi ngửa mặt/ Những giọt trắng thấm tận cùng chân tóc” (Nhà văn - tặng Nguyễn Ngọc Liễn); “Mười năm thù hận vạch lên trời/ Những thập kỷ trái tim lên bệ phóng/ Hàm Rồng ấy... những ngày bầm máu nóng/ Với trong xanh, Bàn Thạch cháy bên trời” (Đêm Bàn Thạch - Tặng Lê Xuân Giang và Từ Nguyên Tĩnh); “Bao nếm trải thời gian liều thuốc/ Nỗi buồn xưa anh chẳng nói một lời/ Anh lặng lẽ như một miền quên lãng/ Ngắm mái tóc ai đen bạc ngỡ chân trời” (Nhà thơ về đại hội - Tặng Quế Anh); Cùng với các bài: “Trăng thôn Vĩ” - (Tặng Hoàng Vũ Thuật); “Gã xe trâu” - (Trò chuyện với Từ Nguyên Tĩnh); “Hoang mang” - (Gửi Nguyễn Duy); “Ký ức hoang vu” - (Cùng Nguyễn Xuân Nha); “Đọc thơ với bạn bên dòng sông” - (Tặng Đinh Ngọc Diệp); “Với bạn Lò Chum” - (Viết cho Lê Hai); “Hồn cơm nguội” - (Tặng Đào Hữu Phương)... Và tâm tình bùi ngùi với các bạn là nhà văn, nhà thơ, nhà báo: “Cầm trang sách mỏng mà thương/ Trang đời rộng đến vô cùng buồn vui” (Bước lên chín bậc).
Viết về tình yêu không nhiều nhưng thơ tình yêu của Đỗ Xuân Thanh là “tình yêu muôn thuở”, gần gũi đời thường mà thiên lương trân trọng. Từ bông hoa xoan tím nhỏ mong manh đến chiều thứ bảy đợi chờ thấp thỏm. Một lối ngõ quê tìm lại bóng nhau, như ánh nhìn mê đắm lại như xa xôi mà mỗi người trong yêu thương đều thấy mình cần phải sắt son cho xứng với người mình yêu: “Tôi yêu em dù vĩnh viễn muôn sau/ Chỉ thương về lối ngõ/ Ánh đom đóm đến bây giờ vẫn tỏ/ Nụ hôn em giấu ở nơi nào” (Lối ngõ); “Nhưng - còn sống nghĩa là anh còn lối/ Vào đam mê trần trụi con người (Gửi vợ). Làm sao để thấu cảm sẻ chia bù đắp những thiếu thốn đời thường, lại chính những dung dị đời thường ấy thành mộng mơ cao cả cho từng nhịp thở nhân ái hơn, vị tha, khát khao hơn: “Em ơi em giờ nơi đâu?/ Còn em không, thời trang sách/ Em mảnh như không có thật/ Như trăng trốn vào trong mây/ Chỉ ánh mắt em tròn đầy/ Rờ rỡ trong anh nguồn sáng” (Có phải bài thơ của em).
Được sinh ra để hồn nhiên, trong trẻo nên Đỗ Xuân Thanh đẫm vào đời ta vẫn thấy cái trong trẻo khác thường. Những khi cảm thương, ngẫm ngợi tình đời, nhân thế, ông vẫn nhìn ra một điều gì đó lay gợi, tinh khôi đến bất ngờ. “Đường thơ” của ông không ít gian nan nhưng ông tiên cảm đó là một “đường mưa bay”... Buồn mà không bi lụy, buồn mà không đau đớn, xót xa, tủi hận. Hạt mưa bay ảo diệu và lung linh sức sống.
Có những tác phẩm thơ khi cảm nhận, ta có được hàm súc, ám gợi, mở trường liên tưởng. Nhưng rồi khi thấm sâu, lại nhận ra một điều: Tác giả ở bên ngoài “câu chuyện cảm xúc” để cảm thức, hồn hóa. Với Đỗ Xuân Thanh thì không thế. Khi bắt gặp những ám ảnh gợi mở trong thơ ông cũng là khi ông đã tan chảy mình trong “câu chuyện cảm xúc” mà nên câu chữ, mà nhỏ giọt đời.
Cũng vì lẽ đó, ông không cầu toàn, gò bó cấu tứ nên bài thơ thường là biến dâng của cảm xúc mà hạn chế mạch liên tưởng, tầm tư tưởng. Điều khác nữa, tác giả ghi lại chân thực những bắt gặp đời thường, trong thời điểm, khoảnh khắc, sự kiện nên biểu đạt đôi khi chưa được đẩy tới tầm phổ quát.
Khoảng từ cuối thế kỷ XX, trên văn đàn thường có những bàn luận, bài viết về thơ. Thơ truyền thống, thơ mới, thơ hiện đại, hậu hiện đại... Rồi có cả ý kiến: Người làm thơ khi đã có đủ trải nghiệm, “vốn chữ” không cần tiếp cận thực tế đời sống vẫn có thể viết được những bài thơ hay... Lại có ý kiến cho rằng tác giả đã thành công ở mảng thơ viết cho thiếu nhi thì thơ khác sẽ thiếu vắng những áng thơ găm gợi. Đọc Đỗ Xuân Thanh, tôi đã có được một số câu trả lời về các vấn đề trên cho riêng mình. Đỗ Xuân Thanh một đời làm thơ và thơ ông hàm chứa, hiển hiện một điều: Chỉ có đẫm vào hơi thở, đẫm miền tái hiện, thì thơ mới neo vào lòng người đọc, hành trình cùng phận số con người... “Chỉ còn một trái tim yêu/ Đập trong lòng đá liêu xiêu dáng người/ Chỉ còn một trái tim thôi/ Thì xa xăm ấy còn nơi trở về” (Tái hiện). Linh cảm trắng mờ con “đường mưa bay” nhưng Đỗ Xuân Thanh luôn khát khao và như còn đó ông vẫn đang cảm hứng tái hiện cuộc đời này.
V.Q.T