Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Bình luận văn nghệ   /   “Người đàn bà ngắm trăng” của Lê Văn Sự
“Người đàn bà ngắm trăng” của Lê Văn Sự

“Người đàn bà ngắm trăng” của Lê Văn Sự
                        

HỎA DIỆU THÚY

Tôi đồ rằng, khi ai đó được gọi là “nhà thơ” thì làm thơ đối với họ giống như “nghiệp vận”, vừa là đam mê, vừa như bắt buộc; vừa đơn giản, vừa như là “trời cho”. Thơ theo họ như cái bóng, bất cứ đâu, bất cứ khi nào, cả trong mơ. Họ làm thơ như người trồng cây “mát tay”, cứ cắm cây xuống là cây xanh, cứ hạ bút là có thơ. Tôi gọi họ là “nhà thơ nhân dân”, thơ họ, giành cho quảng đại, ai đọc cũng hiểu, cũng đồng cảm. “Nhà thơ nhân dân” giống với hình ảnh “Người hát rong” (Troubadour), một loại thi sĩ - nghệ sĩ dân gian thời cổ xưa. Đặc điểm của “thơ - người hát rong” là tính “ứng tác” rất cao và chủ đề thì vô cùng linh hoạt, từ những câu chuyện hàng ngày đến những sự tích, truyền thuyết lịch sử. Những “pho” truyện kể bằng thơ ấy liên kết nhịp đập những trái tim, những tâm hồn đồng điệu, gợi niềm trắc ẩn, lan tỏa niềm vui bình dị. Nhưng khoan vội nghĩ rằng làm thơ ấy thì đơn giản, nôm na, không nhé, giống như sản phẩm của các nghệ nhân, thơ ấy được viết ra tinh tế và tự nhiên, giống như thứ rượu men lá, ủ bằng ngô, bằng sắn, bằng lá cây quanh vườn nhưng cho ra thứ rượu ngọt nồng nàn. Ấy cũng là cảm giác khi đọc tập thơ “Người đàn bà ngắm trăng” của Lê Văn Sự. 
Tác giả làm thơ đã lâu, bút danh Lê Văn Sự đã hiện diện trên thi đàn tới hơn hai chục năm với cả chục đầu sách đã xuất bản. Sự thầm lặng miệt mài với thơ như thế này chỉ có thể lý giải bằng niềm yêu thích đến đam mê. 
Hãy cùng đọc để cảm nhận hành trình đồng hành cùng với thơ của tác giả:
Câu thơ nào cũng vậy
Mang khúc hát cho đời
Ru nôi êm cánh võng
Nâng giấc người đơn côi.

        (Em)
Nếu coi đây là định nghĩa về thơ thì đây cũng chính là định nghĩa về sự cao quý của thể loại này: thơ là tiếng hát, là lời ru, là cánh võng đưa nôi, là niềm an ủi người đơn côi… Với những mục đích ấy và làm được những điều ấy, thơ đã sánh với đấng cứu rỗi. Ai đó làm thơ chỉ cho mình đọc? Vâng, thơ là bạn tâm giao của chính mình, thơ chính là cuộc độc thoại nội tâm của chủ thể trữ tình. Thơ có thể làm nhiệm vụ tuyên truyền, làm vũ khí chiến đấu? Hoàn toàn có thể, ở những thời điểm cần thiết, thơ đã trở thành công cụ, thành phương tiện cho mục tiêu chính trị, mục tiêu cách mạng, đúng như Chế Lan Viên từng “Nghĩ về thơ”: Thơ không phải chỉ đưa ru mà còn thức - tỉnh/ Không phải chỉ “ơ hời” mà còn đập bàn, quát tháo lo toan (Nghĩ về thơ, nghĩ về thơ, nghĩ…). Quả là không có thể loại văn chương nào vừa kiêu sa vừa gần gũi, vừa tinh tế lại vừa phổ cập như thơ. Song, có vì bất cứ mục đích nào thơ cũng phải chạm đến trái tim người. Mỗi nhà thơ tùy vào cái tạng của mình để lựa chọn đối tượng trữ tình và cách biểu đạt. Trước cuộc sống phức tạp, đầy rẫy éo le, chọn hướng đến cho thơ là vấn đề của cái tâm và cả bản lĩnh.
Mưa thi, mưa giải kín bề
Câu thơ chóng mặt, lối về nhiêu khê
Tôi mong mưa ngọt đồng quê
Mùa màng tươi tốt bốn bề ngát hương…

        (Mưa)  
Có thể thấy nỗi niềm trăn trở và thẳm buồn trong cách chơi chữ “mưa” ở đây: “mưa thi, mưa giải…” gắn với thực tiễn “câu thơ chóng mặt, lối về nhiêu khê”. Nhưng, mong ước thiện lành đã cân bằng lại nỗi buồn kia, mong những cơn “mưa ngọt” của tạo hóa để “mùa màng ngát hương”. Cây đời xanh tươi mới là giá trị thực, những gì hữu ích cho con người và cuộc sống mới là giá trị thực, phải đủ trải nghiệm mới rút ra được triết lý căn cốt ấy. 
Khi đã xác định có định hướng vững vàng, thơ Lê Văn Sự như chiếc thảm bay (trong truyện thần thoại xứ Ba Tư), có thể đáp xuống bất cứ chỗ nào, lý giải sự thú vị ở cách tiếp cận chủ đề phong phú trong 97 bài thơ của tập thơ, từ những suy ngẫm về lịch sử, về chiến tranh, về thời cuộc, về những giá trị sống… Có thể nhận thấy ở đây những suy ngẫm của một người từng trải, những xúc cảm của một trái tim đã trải qua hỉ, nộ, ái, ố cuộc đời. Dẫu vậy, có một thứ hầu như còn giữ nguyên, đó là sự nhạy cảm trong cách “nhìn” và “nghĩ”, truyền cảm hứng thương yêu, sẻ chia, gắn bó với cuộc đời này.
Tôi muốn mở đầu hành trình “Người đàn bà ngắm trăng” với bài có tứ thơ gây chú ý, “Người lấy hài cốt!”. Trước đây, từng có những người làm cái “nghề” không mấy người dám làm này, họ thường là những người nghèo hèn, khốn khổ nhất trong làng xã. Họ, phần lớn chỉ nhận được thái độ né tránh, thương hại của người đời. Có gì để viết về họ? viết bằng thái độ thương hại hay đề cao? không đơn giản! Như đã nói ở trên, tùy vào cái “tạng” và cái tâm của người viết, ánh mắt và trái tim họ hướng về đâu thì thơ sẽ bật ra ở đấy:  
Tấm ván thôi bung lên
Bàn tay anh có mắt

Nâng niu từng mẩu xương
Hình hài người đã mất
Đôi tay gầy thuần thục
Ngũ vị hương thơm rồi.

        (Về người lấy hài cốt)
Những lời thơ trân trọng dành cho người làm công việc vẫn bị tránh né nhắc tới. Ở đây, tác giả đã nhìn thấy cái tâm của người “làm nghề”. Các gia đình hầu như phó thác cái việc rất thiêng liêng (của gia đình mình) cho người “làm nghề”, công việc có chu đáo, cẩn thận hay không hoàn toàn phụ thuộc vào “cái tâm” của người họ. Tác giả đã “vinh danh” một “thợ nghề” đặc biệt này ở sự thuần thục, khéo léo, trách nhiệm trong việc “lấy hài cốt” bằng thơ. Với tác giả, nghề lấy hài cốt ấy chính là một giá trị, người làm nghề có tâm và chuyên nghiệp kia chính là người được thực sự tôn trọng. 
 Đây là tín hiệu, là một chỉ dấu để tiếp cận cả tập thơ. Hóa ra, đây không phải là trường hợp đặc biệt, phần lớn chủ đề trong tập thơ “Người đàn bà ngắm trăng” nghiêng về phía những phận đời, phận người “bé nhỏ”, không may mắn, thiệt thòi. Họ là nạn nhân của nghịch cảnh từ cả thiên tai lẫn nhân tai: Thương anh thương tiếng đàn bầu, Về một người khiếm thính, Nỗi đau làng Nủ, Bên suối giải oan, Nỗi đau miền Trung, Ngọn khói mang hình dấu hỏi, v.v... Đặc biệt, tác giả dành nhiều sự quan tâm cho thân phận những phụ nữ cô đơn, đau khổ, cuộc đời họ như ở “bên lề” của dòng chảy cuộc sống này: Người đàn bà điên, Người đàn bà chải tóc, Người đàn bà ngắm trăng, Khát, Tiếng rao đổi muối, Đếm tóc… Giữa guồng quay cuộc sống khẩn trương, bộn bề, họ dễ bị lãng quên, thi thoảng có những ánh mắt mủi lòng, thương hại, nhưng có một trái tim đã dành thời gian cho họ, chia sẻ những cảnh đời để đánh thức lòng trắc ẩn, tình đồng loại trong cộng đồng:
… Không rõ quê nơi đâu
nghe kể chuyện truyền nhau từ lâu lắm 
tuổi chính chuyên đằm thắm 
bế con lên biên giới thăm chồng
khi về lại quê hương
tai nạn xe cướp đi thiên thần của chị…
… cứ thế ngày tháng năm…
Hết cười rồi lại khóc.

        (Người đàn bà điên)
Tác giả nhìn thấy thẳm sâu trong tâm hồn người đàn bà điên kia vẻ đẹp mẫu tính căn cốt, bản năng làm mẹ ở cô ấy át cả lý trí lo cho bản thân mình, một nỗi niềm thương xót dâng lên trước một tâm hồn mong manh, yếu đuối. 
Không ít lần tác giả bộc lộ sự thấu cảm trước bi kịch của bản năng làm mẹ. 
Nghe tiếng trẻ khóc nhà bên
Chị ngẩn ngơ mơ… vỡ vầng trăng con gái
… Chiến tranh lùi xa hơn bốn mươi năm
Dai dẳng cướp đi quyền thiêng liêng làm mẹ
Mỗi khi nghe tiếng cười con trẻ
Chị lại mơ… với nỗi khát thèm. 

        (Khát)   
Trong cuộc sống của người lao động lam lũ, sự vất vả của người phụ nữ vẫn là nỗi ám ảnh lớn nhất của tác giả. Trong bài “Tiếng rao đổi muối” đầy ắp nỗi niềm xót thương sau lớp vỏ ngôn từ:
Ai đổi muối đây!
Tiếng chị rao sém cả nắng hè
Bỏng rát đường bê tông…
Từ vùng biển lên
Tiếng rao ầm ào sóng vỗ
Đôi tay gầy đen đúa
Đổi hạt muối hoa lấy gạo nuôi con
Đêm nay mưa rơi đường trơn
Chị nghỉ nơi đâu?
Sáng mai rao tiếp
Sâu thẳm lòng tôi
Câu thơ ùa ra mặn chát…

Có thể nói, mỗi bài thơ trong tập “Người đàn bà ngắm trăng” là một cuộc gặp gỡ và thấu cảm dịu dàng. Tác giả như một người bạn tâm tình của người dân lao động chân quê. Tôi liên tưởng tác giả với hình ảnh “người hát rong” cổ xưa bởi sự bình dị trong đề tài và sự ấm áp, nhân văn trong nội dung các “câu chuyện” tâm tình ấy. 
Sẽ là đương nhiên khi thơ chia sẻ, tâm tình, nói “hộ” cảm xúc thường tìm cách biểu đạt thông dụng, quen thuộc, dễ hiểu. Biểu hiện đầu tiên của sự gần gũi là tính “kể”, mỗi bài thơ giống như một cuộc trò chuyện tâm tình. Tác giả thì thầm kể cho người đọc về những mảnh đời, những số phận lầm lụi, hẩm hiu, thiếu may mắn. Ta giật mình nhận ra, những cuộc đời ấy cũng không hẳn xa lạ, họ vẫn bên cạnh ta hàng ngày, chỉ khác tên gọi, cảnh huống. Tim ta như chùng xuống trong mối tương liên đồng loại.
Đó cũng là lý do khiến hình ảnh và ngôn ngữ thơ trong “Người đàn bà ngắm trăng” thiên về cụ thể, sinh động, ít biểu trưng, đa nghĩa. Tuy nhiên, không ít lần tác giả “chơi chữ”, như cách liên tưởng này: “Tiếng chị rao sém cả nắng hè/ bỏng rát đường bê tông” (Tiếng rao muối). Cái nắng mùa hè thiêu đốt đến nỗi “cháy sém” cả xanh tươi, dưới cái nắng cháy sém ấy, người ta chỉ muốn chạy trốn nương nhờ bóng mát, tìm kiếm sự ẩn náu thì một bất ngờ xuất hiện. Những tưởng chỉ có nắng gay gắt đang thống trị trưa hè thì tiếng rao đổi muối vang lên. Tiếng rao làm giật mình, hóa ra ngoài kia vẫn có một “kẻ” mạnh hơn cái nắng thiêu đốt, kẻ đó đang đi giữa nắng như không biết gì đến nắng. Sự khâm phục bật ra so sánh liên tưởng: âm thanh tiếng rao đổi muối kia làm “sém cả nắng hè”! Tôi cho rằng tư duy của trái tim nhạy cảm thi sĩ mới “bắt” được hình ảnh thơ nhói lòng ấy, cũng như chữ “mưa” khi nói về “mưa thi”, “mưa giải” trong bài “Mưa” trên kia. Dường như, khi xúc cảm ở độ cao trào, mới xuất hiện những câu thơ, hình ảnh thơ khác biệt.       
Nhìn chung, “Người đàn bà ngắm trăng” bộc lộ rõ nét cái “tạng” điềm tĩnh, hiền lành của cây bút gắn bó với nông thôn và người lao động vất vả. Thật tình cờ, trong tập thơ lại có bài “Chợ quê”, tôi muốn mượn ý tứ của bài thơ này để nói rằng tập thơ cũng chính là một “Chợ quê” theo tinh thần đồng nghĩa với “truyền thống”, với căn cốt hồn hậu, mộc mạc, trong sáng từ nội dung đến hình thức. Những ai còn “chất quê” trong tâm hồn sẽ tìm tri âm với hương vị “đồng nội” này: 
Chợ quê họp ở đầu làng
Chiều hôm, đầu sáng, chút hàng bán mua
Rổ rau, hoa trái đầu mùa
Mớ tôm, tép, cá, xâu cua… ao nhà
Bán, mua giá cả thật thà
Mua thêm, bán chịu người nhà cả thôi.

        (Chợ quê)
Đọc tập thơ, những “thương nhớ” đồng quê ùa về da diết, trái tim sẽ được kết nối với thuở nảo thuở nào của mạch quê hương:
… Như tiếng chim đồng vọng
Gợi nhớ miền tuổi thơ…
Thời đánh đáo chơi ô
Hai bàn tay lấm đất
Mùa mưa, đồng ngập nước
Bắt cá rô rạch bờ.

        (Dọc miền tuổi thơ)                                                                                        

H.D.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 85
 Hôm nay: 8390
 Tổng số truy cập: 15701406
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa