Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Bình luận văn nghệ   /   Thế giới nhân vật và âm hưởng phố phường trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Cẩm Hương
Thế giới nhân vật và âm hưởng phố phường trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Cẩm Hương

Thế giới nhân vật và âm hưởng phố phường trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Cẩm Hương

BÙI HỮU THƯỢC

Tôi biết nhà văn Nguyễn Cẩm Hương từ những năm chị còn làm biên tập ở Nhà xuất bản Thanh Hóa. Ấn tượng đầu tiên là một người phụ nữ nhỏ nhắn, ít nói, có phần nép mình trong giao tiếp, đôi khi tránh ánh nhìn trực diện của người đối thoại. Nhưng nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài ấy mà nghĩ chị yếu mềm thì rất nhầm. Trong công việc, chị nổi tiếng kỹ tính, cẩn trọng với từng câu chữ, từng dấu chấm phẩy. Ở chị có sự kết hợp đặc biệt giữa vẻ thùy mị, đoan trang của một người phụ nữ sinh ra và lớn lên cùng phố thị và sự sâu lắng cứng cỏi nội tâm, chuẩn mực hào hiệp trong cư xử của một người suốt đời sống cùng chữ nghĩa.
Trong đời sống văn xuôi đương đại xứ Thanh, Nguyễn Cẩm Hương không phải là một cái tên ồn ào. Chị không xuất hiện dày đặc trên truyền thông, không tạo dựng cho mình một “hình ảnh tác giả” rực rỡ. Nhưng trong không gian của truyện ngắn - thể loại đòi hỏi sự cô đọng, tiết chế và độ lắng sâu - Nguyễn Cẩm Hương lại là một cây bút bền bỉ, âm thầm, mềm mại mà chắc chắn. Văn chương của chị giống như một mạch nước ngầm: không ầm ào, không tung bọt trắng xóa, nhưng thấm lâu vào lòng đất, nuôi dưỡng những tầng sâu cảm xúc.
Nguyễn Cẩm Hương từng là học sinh giỏi nhất lớp chuyên văn Trường cấp 3 Lam Sơn - một môi trường từng nuôi dưỡng nhiều tài năng. Thế nhưng chị lại vào học chuyên ngành Sử tại Đại học Tổng hợp. Có lẽ chính nền tảng sử học ấy đã rèn luyện cho chị một cái nhìn hệ thống, một ý thức về bối cảnh xã hội - điều sau này trở thành nền móng cho những truyện ngắn giàu chiều sâu hiện thực. Sau khi ra trường, chị về làm biên tập tại Nhà xuất bản Thanh Hóa. Và cơ duyên đến với văn chương chuyên nghiệp lại bắt đầu từ việc: trong một lần xử lý bản thảo, nhận thấy cuốn sách còn thiếu một “khoảng trống”, chị đã tự viết bổ sung vài truyện. Phần bổ sung ấy được lãnh đạo đánh giá cao, khích lệ chị sáng tác. Có những định mệnh văn chương đến không bằng tuyên ngôn, mà bằng một sự tình cờ lặng lẽ “lấp chỗ trống” như thế.
Năm 2009, Nguyễn Cẩm Hương trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đến nay, chị đã xuất bản mười tập truyện ngắn: Người đàn bà chịu khát, Lời ru không năm tháng, Đám mây dĩ vãng, Chuyện của thời quá khứ, Nơi mặt trời lặn sớm, Những người đàn bà, Sóng lừng, Người của phố, Lời nguyền của rừng, Đi qua cơn bão. Nhiều tác phẩm đạt Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa; tập truyện ngắn “Người đàn bà chịu khát” (1998) được trao giải của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; tập truyện ngắn “Lời nguyền của rừng” đạt giải B Giải thưởng Lê Thánh Tông 5 năm. Chị cũng nhiều lần giành giải cao trong các cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh và đạt giải Nhì cuộc thi “Thế giới trong ta”. 
Điều đáng chú ý là trong khi nhiều cây bút cùng thời tìm về nông thôn hoặc miền núi hoặc biển cả như một mạch nguồn truyền thống, Nguyễn Cẩm Hương lại chọn phố thị làm “đất dụng võ” chủ đạo cho ngòi bút của mình. Phố thị trong truyện chị không phải những đại lộ rực sáng ánh đèn, không phải những cao ốc hiện đại, mà thường là những căn nhà chật hẹp, những khu tập thể cũ, những ngõ ngách ẩm thấp, những vỉa hè đầy bụi và tiếng rao... Đó là không gian của những phận người mưu sinh, của những linh hồn neo đậu giữa cơm áo và khát vọng.
Phố phường trong truyện Nguyễn Cẩm Hương là không gian đa chiều, không đơn thuần chỉ là bối cảnh địa lý, không gian kiến trúc; nó là một không gian chất chứa nội tâm phức hợp, một không gian nhân sinh... Ở đó, con người ở rất gần nhau - chung một hành lang, chung một bức tường mỏng, chung một vỉa hè, chung một góc phố - nhưng lại xa cách trong tâm hồn. Họ chạm vai nhau mỗi ngày, nhưng hiếm khi chạm được vào lòng nhau. Cảm giác ngột ngạt bất an của đô thị không chỉ đến từ sự chật chội đồ vật vật lý, mà còn từ những khoảng cách vô hình bất định giữa người với người.
Chính trong không gian ấy, thế giới nhân vật của Nguyễn Cẩm Hương hiện ra: những con người bình thường, thậm chí rất nhỏ bé. Người phụ nữ mưu sinh trong chợ phố. Người thuê trọ sống “theo ca” trong căn phòng hẹp. Người đàn ông mang mặc cảm thất bại. Một “kẻ điên” mà thực ra tỉnh táo hơn cả xã hội. Những người trẻ lạc lõng giữa nhịp sống hiện đại. Những người yếu thế đứng ngoài ánh sáng danh vọng nhưng vẫn giữ được phẩm giá long lanh.
Ở truyện “Người của phố”, nhân vật Toan là một hình ảnh tiêu biểu cho sản phẩm của môi trường phố xá thời cơ chế mở cửa. Lớn lên giữa ngõ ngách, đề đóm, lừa lọc, Toan ít học, thiếu sự giáo dục gia đình bài bản. Nhưng điều khiến người đọc day dứt không phải sự thô ráp của anh, mà là bản chất thật thà và tinh thần xả thân. Hành động lao ra chặn cướp, chấp nhận nguy hiểm để bảo vệ người khác, rồi cái chết đến như một kết thúc hồn nhiên, không bi lụy - tất cả được kể bằng giọng văn đời thực, không cường điệu. Đám tang đông đúc bà con phố xá là một lời xác nhận muộn màng về giá trị của anh. Trái lại, sự vắng mặt của người đàn bà được cứu túi xách trở thành một chi tiết sắc lạnh, phơi bày sự vô cảm thị dân. Nguyễn Cẩm Hương không cần những lời bình luận dài; chỉ một chi tiết nhỏ cũng đủ làm người đọc giật mình.
Nếu “Người của phố” khắc họa phẩm chất lương thiện ẩn dưới lớp bụi đời, thì “Người đàn bà cô đơn” lại đi sâu vào bi kịch của khát vọng bị kìm nén. Nhân vật “chị” không chỉ cô đơn vì thiếu một người đàn ông, mà cô đơn với chính nhân phẩm của mình. Xung quanh chị là những người đàn ông - họa sĩ, lái xe ôm - mỗi người đều có giới hạn tâm lý riêng. Không ai đủ dũng khí bước qua rào cản đạo đức và định kiến để chạm vào nhau, khi chạm được vào nhau lại kéo theo sự mặc cảm tội lỗi nên càng thêm xa cách. Cô đơn ở đây không ồn ào, không kịch tính, mà thấm buốt dần như một cơn mưa thâm kèm rét độc rét hại.
Một trong những truyện ngắn giàu sức nặng hiện thực là “Cô gái trong tranh”. Nhân vật Thủy - xinh đẹp, tài năng - bước vào môi trường báo chí với niềm tin trong trẻo rằng năng lực là đủ. Nhưng nhan sắc của cô lại bị quy đổi thành “vốn tự có” trong cái nhìn quyền lực nam giới. Truyện phơi bày cơ chế tha hóa đạo đức nơi công sở và định kiến giới còn nặng nề trong môi trường quyền lực. Điều đáng quý là Thủy không gục ngã. Cô tái tạo mình bằng lao động và ý chí, bước ra khỏi bi kịch với tư thế bình thản. Nguyễn Cẩm Hương không biến nhân vật thành nạn nhân hoàn toàn; chị trao cho họ khả năng tự cứu trong môi trường “phố thị”.
Ở “Chuyện một người điên”, Nguyễn Cẩm Hương đặt lại câu hỏi về chuẩn mực xã hội. Chị Lài bị gọi là “điên” sau khi người yêu hy sinh trong chiến tranh. Nhưng sự “điên” ấy là một cách sinh tồn. Chị duy trì đời sống hôn nhân trong ký ức, sắp đặt hai bát cơm, hai chiếc cốc, hai bàn chải. Chị sống trật tự, lao động bằng đôi tay mình, không làm hại ai. Cái “điên” ấy, nếu nhìn sâu, là sự thủy chung tuyệt đối với tình yêu. Truyện khiến người đọc tự hỏi: ai mới thực sự lệch chuẩn - người giữ trọn ký ức hay xã hội phủ nhận quyền được đau khổ của chị?
Không gian phố thị trong truyện Nguyễn Cẩm Hương còn là nơi thử thách đạo đức. “Đi trên dây” đặt nhân vật vào vùng xám giữa quyền lực, tiền bạc và dục vọng. Không có ranh giới rạch ròi giữa đúng - sai; mỗi bước đi lệch chuẩn nhỏ bé tích lũy thành cú ngã. Truyện đa điểm nhìn, không ai nắm trọn chân lý. Sự sụp đổ không phải do một cú trượt chân bất ngờ, mà do quá trình tự cân bằng thỏa hiệp. Giọng văn sắc lạnh nhưng không kết án; nó buộc người đọc soi lại chính mình.
Trong “Gieo mầm quả ngọt”, ranh giới giữa “phạm nhân” và “con người” được nhìn bằng ánh mắt nhân hậu. Thiện tâm không mất đi; nó chỉ cần thời gian để kết trái. Những gì ông Khôi gieo - lòng trắc ẩn, niềm tin vào phần người trong kẻ lầm lỡ - cuối cùng kết thành “quả ngọt”: một con người được tái sinh. Ở đây, Nguyễn Cẩm Hương bộc lộ rõ quan niệm nhân sinh: văn chương không chỉ phản ánh cái ác, mà còn khơi dậy khả năng hồi sinh.
Tác giả đã tái hiện một thời sinh viên đầy gian khó bằng giọng kể chân thực và giàu sức gợi qua “Nước mắt biển”. Những năm tháng chật chội, thiếu thốn nhưng chan chứa mộng mơ hiện lên sống động qua ký ức của các nhân vật. Từ nền ký ức ấy, câu chuyện mở rộng ra hành trình ba mươi năm đời người, khi mỗi thành viên trong lớp bước vào vòng xoáy đổi thay của xã hội thời mở cửa. Phố xá với nhịp sống “ma mị”, biến động chóng mặt đã tạo nên những chuyển hóa sâu sắc trong số phận từng người. Nhân vật Tuyết được khắc họa như một điểm nhấn nổi bật: từ cô sinh viên đầu bù tóc rối, nói năng bộc trực, sau ba thập niên gặp lại đã trở thành một “quý bà” sang trọng, phong thái đài các, từng cử chỉ lời ăn tiếng nói đều toát lên vẻ thượng lưu. Sự thay đổi ấy không chỉ là biến chuyển của cá nhân mà còn là biểu hiện sinh động của một giai đoạn xã hội đô thị hóa đầy xô bồ và phân hóa.
Trong khi đó, “Gió heo may đã về” mở ra bức tranh về tầng lớp trí thức có địa vị, nơi các mối quan hệ quyền lực và tình cảm đan xen phức tạp. Những cuộc tình tay ba, tay tư; những cuộc giao du, tiếp khách, bàn việc nơi bàn nhậu hay trong không gian riêng tư… hiện diện như một phần không thể phủ nhận của đời sống thị thành. Tác giả không sa vào phô bày mà lặng lẽ gợi mở những góc khuất, những điều chỉ người từng trải giữa phố phường mới có thể thấu hiểu. Trái lại, những con người chân chất như vợ Tùng hay chồng Thảo dường như đứng ngoài vòng xoáy ấy, không đủ trải nghiệm để nhận ra mà hoài nghi hay ghen tuông. Song, cũng như quy luật bốn mùa của đất trời, thời gian sẽ lặng lẽ đưa mọi điều về đúng vị trí của nó. “Heo may” không chỉ là tín hiệu của tiết trời mà còn là ẩn dụ cho khoảnh khắc thức tỉnh trong đời sống - khi con người đối diện với sự thật và những giá trị bền vững sau mọi biến động.
Truyện “Người thuê nhà theo ca” khắc họa bi kịch của những người trẻ nơi đô thị. Sống chung một căn phòng nhưng không chung một nhịp đời, họ tồn tại trong trạng thái chật chội cả vật chất lẫn tâm hồn. Khát vọng vươn lên va chạm với thực tế khắc nghiệt, lòng tự trọng bị thử thách, ảo mộng tan vỡ. Truyện không chỉ kể một mối tình dang dở, mà vẽ nên bức tranh về những con người sống bên lề ánh sáng đô thị.
Giữa những ngõ ngách bụi bặm và cống rãnh chợ búa, bản năng làm mẹ của một người phụ nữ yếu thế lại tỏa sáng ở “Quyền được làm mẹ”. Khi có kẻ ruồng bỏ đứa con để giữ ghế danh vọng, khi có người bỏ gia đình vì sợ gánh nặng, thì người phụ nữ tàn tật bị gia đình xã hội chối bỏ lại được ôm trọn khao khát yêu thương. Nguyễn Cẩm Hương đặt câu hỏi về giá trị thật của nhân phẩm: phải chăng chính những người yếu thế sống trong tăm tối lại giữ được quyền năng tình cảm cao quý nhất?
Âm hưởng chung trong truyện ngắn Nguyễn Cẩm Hương là một điệu trầm của phố thị vật lộn trong nghèo không chỉ vật chất mà cả tinh thần. Chị không đẩy bi kịch lên cao trào dữ dội, không gây sốc bằng kịch tính. Nỗi đau được kể bằng giọng điềm tĩnh: “Cái nghèo hình như là tất nhiên không ai mặc cảm” (Nước mắt biển, NXB Quân đội nhân dân, 2014); sự tha hóa được chỉ ra qua những chi tiết nhỏ: “Đã 8 giờ tối, chồng Thảo vẫn chưa đi làm về. Lâu nay anh vẫn thế, nhưng Thảo đâu có để ý, vì Thảo cũng thường về muộn” (Gió heo may); lòng nhân ái hiện diện lặng lẽ: Một mảnh giấy để ngay trên gối “Chào ông , em phải đi để ông dược yên ấm với gia đình. Cảm ơn ông rất nhiều” (Nhặt vợ). Phố thị trong truyện chị không chỉ là quá trình đô thị hóa, mà còn là trạng thái tinh thần của con người: vừa muốn bứt phá, vừa bị trói buộc; vừa khao khát yêu thương, vừa sợ hãi bị tổn thương. Nhìn chung truyện ngắn của Nguyễn Cẩm Hương là một hành trình đi tìm “quả ngọt” từ những mảnh đất cằn cỗi của số phận. Dù viết về người phố thị bình thường hay yếu thế, tội phạm, người điên, hay những cán bộ tha hóa,... Chị vẫn luôn đứng về phía con người - là sản phẩm của tạo hóa chưa bao giờ hoàn chỉnh. Cái đích cuối cùng của chị vẫn là hướng con người về phía ánh sáng.
Có thể nói, thế giới nhân vật của Nguyễn Cẩm Hương là thế giới của những phận người không được lịch sử xướng tên, nhưng lại mang trong mình những câu chuyện đáng để lắng nghe như trầm tích phố cổ của thời cao ốc hóa. Họ không anh hùng, không rực rỡ, nhưng bền bỉ giữ gìn phẩm giá. Văn chương của chị vì thế không ồn ào, không phô trương kỹ thuật, mà đầy nội lực. Nó đi chậm, đi sâu, ở lại lâu tạo nên nhiều lớp sóng trắc ẩn trong lòng người đọc - như chính âm hưởng phố phường trầm buồn, nhân hậu dung dị nhưng đầy uẩn khúc đã làm nên diện mạo riêng của nhà văn Nguyễn Cẩm Hương trong văn xuôi đương đại.
Tuy nhiên, nếu nhìn khắt khe, một số tác phẩm của chị vẫn còn mang tính chất “tròn trịa” do quán tính “biên tập” của nghề nghiệp chăng? Người đọc cảm nhận ấm ức vì không được bứt phá, mở toang cho nhiều cánh cửa cảm xúc. Rất tiếc những chi tiết kết thúc lạnh mà sục sôi như trong truyện “Người của phố”, hiếm. 
Cây bút Nguyễn Cẩm Hương không đánh đố người đọc bằng những kỹ thuật tân kỳ, mà chinh phục họ bằng sự chân thành của trái tim. Chị viết bằng niềm tin: Dù ở cuối con đường mịt mù bụi đất, ở góc phố chật chội ẩm thấp, ở trong một gia đình u uất, hay sau cánh cửa sắt của trại giam,... chỉ cần con người còn biết thương nhau, biết trân trọng ký ức, còn lòng trắc ẩn và dũng cảm đối diện với sai lầm, thì dù “đô thị hóa” thăng trầm đến đâu “ánh sáng phố phường” vẫn không bao giờ tắt.  Văn Nguyễn Cẩm Hương không giống những trang văn Đặng Ái - là nhà văn quê Thanh Hóa đã viết những trang đẹp hồn nhiên về phố thị. Chị không phẫu thuật tâm hồn sâu sắc như nhà văn tài danh đồng hương Lê Minh Khuê. Nhưng phải khẳng định Nguyễn Cẩm Hương là cây bút văn xuôi dung dị đầy nội lực, rất thành công về nhân vật tiểu thị dân nơi giao thoa nông thôn và đô thị hóa, nơi mà ngòi bút của chị và thành phố Thanh Hóa quê hương chị hơn hai mươi năm nay đang ra sức miệt mài - đánh vật với “đô thị văn minh, công dân thân thiện”. Với mười tập truyện ngắn chị đã khắc họa một bức tranh của phố thị chân thực, kĩ càng, âm thầm có đầy đủ mảng xa gần, nông sâu, sáng tối. Đây chính là giá trị bền vững nhất giúp các tác phẩm của chị có chỗ đứng trong lòng độc giả yêu văn chương phố phường nhân hậu. 
Chúng ta hy vọng gia tài văn chương viết bằng sự chân thành của trái tim, vang vọng âm hưởng phố phường vừa hồn hậu vừa chênh chao của nhà văn Nguyễn Cẩm Hương sớm được các nhà lý luận phê bình văn học nghệ thuật đánh giá công bằng và sâu sắc thêm.                                                                                     

B.H.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 79
 Hôm nay: 8382
 Tổng số truy cập: 15701398
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa