Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Bình luận văn nghệ   /   Thơ văn xuôi trong dòng chảy thơ hiện đại
Thơ văn xuôi trong dòng chảy thơ hiện đại

Thơ văn xuôi trong dòng chảy thơ hiện đại

NGUYỄN THỊ DỊU

Ngay ở tên gọi, thơ văn xuôi đã thể hiện tính đặc trưng thể loại mang chất “lưỡng tính”. Đó là thể thơ giao thoa giữa thơ và văn xuôi. Trong cuốn Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, tác giả Lê Lưu Oanh đưa ra định nghĩa: “Thơ văn xuôi là loại thơ trữ tình có cấu trúc câu giống văn xuôi, câu nọ tiếp câu kia không xuống dòng, gần như không vần, nhịp điệu không mang đầy đủ tính chất cố định, mạch câu chảy tràn không chịu ràng buộc theo niêm luật là sự giãn ra của các hình thức thơ tự do, rất dạt dào tình ý và cảm xúc”.
Trên thế giới đã có nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu đưa ra quan niệm của mình về thơ văn xuôi. Chẳng hạn, trong lời giới thiệu Thơ văn xuôi: Hợp tuyển quốc tế, Michanel Benedikt cho rằng thơ văn xuôi là “một thể tài thơ, được viết bằng văn xuôi một cách chủ ý và được đặc trưng bởi việc sử dụng mạnh mẽ hầu như tất cả mọi phương diện của thơ ca, trong đó bao gồm hầu hết các phương tiện của luật thơ, ngoại trừ sự ngắt dòng”. Có một thực tế là khi thưởng thức và nghiên cứu thơ văn xuôi, dễ nhận thấy rằng thơ văn xuôi rất gần gũi và có sự giao thoa với một số thể loại văn học khác, như: tùy bút, bút ký, truyện trữ tình, tản văn và thơ tự do. Ranh giới giữa chúng quả thật không phải lúc nào cũng thật rõ ràng, nói chính xác hơn, đã có sự pha trộn rất khó tách bạch những đặc điểm/ phẩm chất vốn là đặc trưng thể loại của mỗi thể. Chẳng hạn, tùy bút, bút ký, truyện trữ tình, tản văn cũng mang đậm nét yếu tố cảm xúc chủ quan vốn là đặc trưng của thơ; Thơ tự do cũng có yếu tố “tự sự” và không bị câu thúc ở sự dài ngắn của câu thơ khiến câu thơ tự do có thể mang tính “kể” và dài như câu văn xuôi: Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi/ Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác/ Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất/ Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre (Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên). Thơ văn xuôi tuy vẫn mang những đặc trưng cơ bản của thể loại trữ tình nhưng sự dài ra của câu thơ cùng với tính “tự sự” của nội dung thơ khiến bài thơ cũng có thể kéo dài, vì vậy, nhìn ở dạng thức, thơ văn xuôi khá gần gũi với “văn xuôi”.
Ở Việt Nam, thơ văn xuôi tuy không được chào đón nồng nhiệt vì trong tâm thức và sở thích, người Việt thích thơ có vần, cấu trúc câu ngắn, dễ nhớ, dễ thuộc. Tuy nhiên, kể từ khi đất nước hội nhập văn hóa, thơ văn xuôi dần có chỗ đứng và ngày càng khẳng định vị thế thể loại trên diễn đàn văn chương Việt. Cuộc sống mới với những bộn bề, gai góc và cả những thách thức mới đã khiến ngày càng nhiều người tìm đến với thơ văn xuôi bởi nó truyền tải được những cảm xúc phức hợp của con người trước thời thế, nhất là những người trẻ. Thế hệ của những người trẻ luôn muốn nói lên tiếng nói của chính mình, tiếng nói bản thể. Lớp trẻ có phần dễ hòa nhập với thơ văn xuôi vì đó là lối thơ phóng khoáng, dễ có được cảm giác tự do. Có lẽ vì tất cả những điều đó và còn hơn thế nữa khiến những bài thơ văn xuôi, những người làm thơ văn xuôi trở nên nhiều hơn. Theo nhà thơ Dương Kiều Minh, thơ văn xuôi ra đời bởi “nhu cầu tự thân của thời đại”, do nhu cầu tìm kiếm một hình thức thể hiện những cảm xúc, trạng thái tâm lý phức tạp của con người trong xã hội hiện đại. Vì thế, tiềm năng của nó là rất lớn. Nhưng cũng vì thế mà thơ văn xuôi có phần kén độc giả.
Vì ảnh hưởng của cấu trúc “văn xuôi” nên cấu trúc hình thức một bài “thơ văn xuôi” giống với hình thức tác phẩm văn xuôi, như: câu/ dòng thơ kéo dài, không bị ước thúc về vần và có tính “kể”. Tuy nhiên, điều khác biệt giữa tính “kể” của văn xuôi khác với “thơ văn xuôi” ở chỗ: yếu tố “kể” của văn xuôi thường nghiêng về mô tả, trần thuật, còn yếu tố “kể” trong thơ thiên về suy tưởng, khái quát.
Khi Nguyễn Quang Thiều viết Chuyển dịch màu đen thì hành trình ấy chia thành bốn khúc tương đương với bốn bài thơ: Màu đen một, Màu đen hai, Màu đen ba, Và màu trắng. Hình thức của bài thơ giống như câu chuyện được kể với rất nhiều sự kiện, tình tiết cùng với những suy tư, bình luận, những đánh giá, suy tưởng:
… Đứa bé gái rời cái làng trồng bắp cải ra đi trên
lưng mẹ nó mười tám năm về trước. Trong địu 
nó ngủ, thức, khóc, chảy dãi và đái ướt một vòm
đen vĩ đại khốn khó, hay rên khóc, nhưng không
nguyền rủa. Ra đi như thiên thần qua bầu trời
trắng. Đến xứ sở trắng, nó khóc như thổ huyết
trên tuyết. Màu đen vĩ đại của nó cắt bánh mì
đứt tay mở ra một cái miệng. Và cái miệng bé
xíu chảy dãi đỏ thấm ướt ruột bánh mì. Nó lớn 
lên trên tuyết và nẩy hai bầu vú. Hai bầu vú lấp
lánh như hai cây kim bọc trong vải tối màu…
Những dòng thơ dài với những câu được ngắt không theo vần điệu. Hành trình của những số phận hẩm hiu, bé nhỏ đi tìm miền “đất hứa” được “kể” bằng những sự việc, chi tiết giàu hình ảnh và suy tưởng. Tất cả những chi tiết trong đoạn thơ trên không còn chỉ là hình ảnh thực mà là hình ảnh tượng trưng, khái quát, ám dụ về hành trình đầy cạm bẫy, bế tắc của những con người khốn khổ đi tìm miền đất hứa rồi bị rơi vào thất vọng, bế tắc. Thơ văn xuôi cho phép tác giả cùng lúc thực hiện nhiều mục tiêu: kể, mô tả, nhận xét, bình luận, đánh giá, khái quát. Tập “Châu thổ” của Nguyễn Quang Thiều có khá nhiều những bài thơ có dạng thức “văn xuôi” như vậy. Tập thơ có 144 bài thì 2/3 viết theo dạng thức “thơ văn xuôi”, cho thấy xu hướng triết lý về những vấn đề xã hội dường như là sự vận động trong tư duy thơ của Nguyễn Quang Thiều.
Nhà thơ Mai Văn Phấn cũng có khá nhiều các bài thơ văn xuôi và điểm gặp gỡ giữa các bài thơ văn xuôi thường là: cấu trúc bài thơ thường dài, dòng thơ dài như dòng văn xuôi, không trùng với câu thơ. Nói đúng hơn, câu thơ thường được trình bày theo lối vắt dòng và thường có tính “kể”. Chẳng hạn, bài “Quang phổ” kết cấu thành bảy khúc và dạng thức là:
Một ngày ánh sáng rút đi, mọi vật quanh ta chỉ là bóng tối. Cánh đồng tối ôm giống lúa tối. Thủy triều tối cuốn đàn cá tối. Giọng đơn ca tối trên nền nhạc tối. Lớp học tối nhầm lẫn giáo trình tối. Hồ sơ tối giấu kho tài liệu tối. Đại lộ tối đổ về quảng trường tối. Cuộc diễu binh tối phô trương vũ khí tối. Bàn tay tối buông con bồ câu tối…
Mặc dù có sự kiện, chi tiết, hình ảnh, nhưng tất cả đều là tượng trưng (bóng tối, cánh đồng tối, đàn cá tối, giọng đơn ca tối…). Thậm chí, tên của bài thơ là “Quang phổ” (dải ánh sáng nhiều màu) nhưng tứ của đoạn thơ này lại nằm ở chữ “tối”, chữ “tối” này vừa đa dạng về từ loại (là danh từ: bóng tối; là động từ: lớp học tối, quảng trường tối, đại lộ tối, thủy triều tối; là tính từ: lúa tối, đàn cá tối, cuộc diễu binh tối, cuộc diễu binh tối… vừa đa nghĩa: nghĩa vật lý: bóng tối; vừa mang nghĩa trừu tượng chỉ cái xấu, dở, tệ hại, hắc ám… “Quang phổ” ở đây chỉ còn màu đen kịt, màu của bóng tối. Hình thức thơ văn xuôi với câu kéo dài giúp nhà thơ diễn tả được một thế giới đen tối với tầng tầng lớp lớp của sự tha hóa, xuống cấp trong xã hội, thiên nhiên bị đầu độc, những âm mưu đen tối ngự trị… Nếu là thơ vần với những nguyên tắc thẩm mỹ bắt buộc thì khó lòng thể hiện được điều này.
Không phải ngẫu nhiên, khi nhận xét về tập “Bến lạ” của Đặng Đình Hưng, Thụy Khuê đã nhập làm một khái niệm thơ tự do với thơ văn xuôi và đưa ra quan điểm: “Về hình thức, Bến lạ có thể gọi là thơ tự do hay thơ văn xuôi, hoặc thơ tự do làm theo thể văn xuôi. Lối cấu trúc gồm những câu đơn (mệnh đề độc lập - theo cấu trúc thơ), xen kẽ những câu phức tạp (gồm mệnh đề chính, mệnh đề phụ, chuyển tiếp bằng liên từ hay không có liên từ - theo cấu trúc văn xuôi) với một vài cách tân đúng hơn là lập dị trong cách thay đổi mẫu tự…”:
Tôi lại đi…
Jữa cái nong hình záng lưng tôi, một bảng đen
trước mặt, một vòng phấn zưới chân, zính zính…
những con 8 lộn zọc nhẵn thín nam châm gói trong
hạt thóc jống của không biết.
        (Bến lạ - Đặng Đình Hưng)
Nếu không có những xuống hàng, ngắt dòng thì cấu trúc bài thơ không còn tín hiệu nào để phân biệt với một bài văn xuôi. Bẻ dòng ở đây như là cách để nghỉ lấy hơi hơn là tín hiệu thẩm mỹ, thêm nữa, câu chuyện được kể của “tôi” càng khiến cho đoạn thơ giống với một đoạn văn xuôi. Nhưng, những tín hiệu khác khiến người đọc vẫn thấy đây là thơ chứ không phải văn xuôi. Đó là hình ảnh chủ thể trữ tình đồng thời cũng là đối tượng trữ tình với hình hài tật nguyền và cuộc sống lẩn quẩn, vô phương, bế tắc. Những hình ảnh là những tín hiệu ám ảnh và biểu tượng: cái nong hình záng lưng tôi (hình hài dị dạng); bảng đen trước mặt (tương lai khép kín, bế tắc); vòng phấn dưới chân (khép kín vô hình); những con 8 lộn zọc nhẵn thín nam châm (sự đe dọa luôn rình rập)… Như vậy, hình ảnh thơ với những tín hiệu mang tính biểu trưng suy tưởng giàu cảm xúc đã “níu giữ” đoạn “văn xuôi” trên vẫn là thơ và là những câu thơ chứa đựng những thông điệp sâu xa về cuộc sống, môi trường sống, về số phận cuộc đời…
Lần khác, Đặng Đình Hưng kể - tả về khái niệm “nhập”:
… Vắng. Anh thường ngồi jờ dài, chẳng nghĩ. Chỉ 
cảm. Cảm bằng da. Da của mắt - bàn tay - chủ 
yếu là lưng. Tới mức toàn thân gắn hẳn vào không 
khí, đồ vật, tường, buồng. Rầm rì một cái chợ 
không lời dưới chân, anh rì rầm vỗ theo. Toàn
thân, một con sông trôi, xô đẩy những cảm giác, 
những sực chợt. Một cơn mưa hình záng. Những hạt 
hột vỗ vỗ. Anh gọi đó là “nhập” - thấy. 
        (Nhập - Đặng Đình Hưng)
Giống như một đoạn văn kể - tả ấn tượng cảm giác về một vấn đề gì đó. Những giác quan được đánh thức: xúc giác, thị giác, thính giác, linh giác và trí tưởng tượng… Khi tất cả đã hòa trộn đến độ “toàn thân, một con sông trôi, xô đẩy những cảm giác…”, ấy là lúc anh - chủ thể “nhập” vào thế giới, với tạo hóa và đó cũng chính là lúc “thấy” (tri/ ngộ) thế giới xung quanh. Phải chăng, theo Đặng Đình Hưng, trước khi “thấy” phải hiểu đến độ thấu “nhập” tường tận bằng cả trực giác lẫn lý tính. Thơ cũng vậy và để hiểu thơ cũng không đơn giản chỉ là câu chuyện của xúc cảm hay ấn tượng.
Đặng Đình Hưng là nhà thơ “chuyên” về thơ văn xuôi, hai tập “Bến lạ” và “Ô mai” của ông được coi là những tập thơ tiêu biểu cho hình thức thơ văn xuôi, đưa tên tuổi ông thuộc những cây bút cách tân thơ Việt Nam sau năm 1986.
Trong số những nhà thơ Thanh Hóa đương đại, Nguyễn Minh Khiêm là nhà thơ có bút lực dồi dào nhất. Ông cũng là người “thử bút” ở nhiều loại hình thể loại, trong đó có thơ văn xuôi. Thử đọc một bài thơ văn xuôi trong tuyển Thơ (giai đoạn 1980-2022) mới nhất của ông, bài “Đàn bà quê tôi”. Hình thức thơ văn xuôi đã giúp tác giả xây dựng hình tượng “đàn bà quê tôi” từ ngoại hình đến tính cách, phẩm chất: 
Đàn bà quê tôi đi nặng nhọc. Ngủ nặng nhọc. Ngáp dài
nặng nhọc. hát ru nặng nhọc. Màu áo quần nặng nhọc.
Đời như cày cuốc. Sinh ra để cặm cụi. Cả đời không
ngẩng mặt lên. Càng hát càng sứt mẻ. Vất vả không mùa.
…
Tác giả còn so sánh “người đàn bà quê tôi” với “người đàn bà thành phố”, với những biến đổi chóng mặt của xã hội hiện đại, với thời thế, để rồi đi đến khẳng định:
Đàn bà quê tôi. Không biết nói điều gì to tát.
Truyền cho con thổ âm màu đất. Nụ cười màu đất
(…) Nhưng nếu không có những người đàn bà dáng đi nặng nhọc, giấc ngủ 
nặng nhọc… quê tôi là mảnh đất vô sinh.
Hình thức dòng thơ kéo dài, giọng “kể, tả”, với chi tiết minh họa sinh động, tác giả triết lý về giá trị “vẻ đẹp truyền thống” ở người phụ nữ. Thơ văn xuôi, với sự giao thoa thể loại đã khẳng định ý nghĩa loại hình khi chủ thể sáng tạo đã tìm kiếm và nhận diện.           
Thời đại mới, cảm thức mới, thơ nói tiếng nói của con người thời đại, thơ cũng phải mới. Một tuyên ngôn cực đoan trên tạp chí Thơ (Hoa Kỳ, số 8, mùa đông 1996) của Ngu Yên: “Thà làm thơ mới dở còn hơn làm thơ cũ hay” cho thấy, vấn đề cách tân, đổi mới mãi là ưu tiên hàng đầu của kẻ sáng tạo. Song, trên hành trình sáng tạo ấy, không phải lúc nào cái mới cũng là cái lạ mà nhiều khi cái mới được làm ra từ chính những cái đã quen thuộc. Thơ văn xuôi chính là một dạng thức làm mới theo cách “lạ hóa” thể loại.

 Tháng 4-2026
                                                                                          N.T.D


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 120
 Hôm nay: 5180
 Tổng số truy cập: 17333595
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa