Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Văn hóa   /   Lui về đất trại (Thanh Hóa)   
Lui về đất trại (Thanh Hóa)   

Lui về đất trại (Thanh Hóa)   

PHẠM VĂN TUẤN

1. Thanh Hóa là một tỉnh ở địa đầu phía Bắc của miền Trung có cảnh quan rất đa dạng, phong phú, là hình ảnh thu nhỏ của cảnh quan Việt Nam, trải rộng dài khoảng 200km trên lưu vực sông Mã có miền núi, trung du, đồng bằng và biển đảo rộng lớn mà nét căn bản của địa hình là đồi núi trập trùng hiểm trở ở phía Tây vây quanh những thung lũng hẹp và dài; những dòng sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Yên với hàng chục chi lưu nhỏ lấy nước từ hàng trăm, hàng ngàn khe suối trên vùng núi cao đổ vào đã làm nên sự hung dữ của dòng chảy trong mùa mưa, nhưng hiền hòa về mùa khô. Vùng trung du trải dài với nhiều dải đồi núi chạy theo hướng Đông - Tây đã tạo nên sự chia cắt địa hình dữ dội. Đồng bằng cao thấp bậc thang, ở nơi đồng chiêm trũng (có nơi còn thấp hơn mực nước biển), lại có thêm nhiều đồi núi sót. Ngoài khơi là các đảo đá (đảo Mê, đảo Nẹ, đảo Bạng,…) nhấp nhô xen kẽ các trũng biển sâu, ven biển là vùng bằng cát mặn bãi triều, nơi sinh sôi của sú vẹt và phù du. Trạng thái lồi lõm đứt nối của địa hình Thanh Hóa là một hình ảnh cổ xưa còn sót lại của lãnh thổ miền Bắc Việt Nam hình thành cách ngày nay hàng triệu năm. Những đặc điểm đó của tự nhiên là điều kiện quan trọng để hình thành nên ở đây một vùng đất có vị trí địa chính trị có tính chiến lược của Việt Nam, vừa nối liền với đại lục trong địa thế núi liền núi sông liền sông, vừa nhìn ra đại dương như một đầu cầu tiến ra các hải đảo trong một đầu mối giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây, đại lục - đại dương và hải đảo. Chính vì vậy mà Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV đã coi miền đất Thanh Hóa là “phên dậu thứ hai phía Nam” đất nước. Các triều đại phong kiến cũng xác định Thanh Hóa “là một trấn quan trọng”, “nơi xung yếu” đến thời Hậu Lê là “nơi căn bản”, thời Nguyễn là “đất bản triều”; đồng thời đây cũng là vùng đất thiêng “sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy sinh nhiều bậc văn nho. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi sinh ra những bậc phi thường; vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước”. Với vị trí và những tài lực đó trong lịch sử, Thanh Hóa đã từng là chỗ dựa vững chắc cho ông cha ta đánh giặc phương Bắc và là một điểm hậu cứ để mở cõi về phương Nam. 
2. Nhìn lại lịch sử, ngay từ những năm đầu Công Nguyên chống xâm lược nhà Đông Hán thời Hai Bà Trưng, khi căn cứ Cấm Khê bị vỡ, dưới sự chỉ huy của Đô Dương và Chu Bá, lực lượng còn lại của nghĩa quân vừa đánh địch vừa rút lui vào Cửu Chân (Thanh Hóa) để tiếp tục cuộc kháng chiến. Dưới thời thuộc Ngô khi mà bọn quan lại nhà Hán ở nước ta nắm mọi quyền hành như một chính quyền cát cứ, vơ vét của cải của dân ta thì vào năm 248, vùng đất Cửu Chân lại trở thành một điểm sáng, trung tâm của cuộc nổi dậy chống Ngô diễn ra mạnh mẽ mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bà Triệu đã làm “Toàn thể Châu Giao chấn động”. Đầu năm 545, nhà Lương xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ, trước sức mạnh của kẻ thù, cánh quân của Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Bí) đã rút vào miền Trung, sau khi tiến binh đánh Đức Châu (Hà Tĩnh) đã kéo quân ra vây Ái Châu, ông bị đại quân của Trần Bá Tiên tiến đánh nên đã rút quân lên vùng Thượng Du, lấy Động Dã Năng (Bá Thước) làm căn cứ. Thời gian Lý Thiên Bảo ở Thanh Hóa không dài nhưng một lần nữa chứng minh căn cứ tử thủ trong phong trào chống xâm lược của cả nước, một khi phong trào khởi dựng ở Bắc Bộ lâm vào thế bất lợi hoặc tạm thời thất bại. Khoảng cuối đời Tùy đầu đời Đường (618-905), Thái thú Lê Ngọc (Lê Cốc) một người Hoa đã Việt hóa và các con ông trấn giữ vùng đất xứ Thanh, đóng đô ở Đồng Pho (Đông Sơn - Thanh Hóa) đã cùng với nhân dân ở đây chống lại ách xâm lược của nhà Đường mà ngày nay những dấu tích về cuộc chiến đấu này còn để lại trong đời sống nhân dân thật đậm đà.
Đến thế kỷ X, đánh dấu bước ngoặt lớn của lịch sử Việt Nam, chấm dứt thời gian ngàn năm Bắc thuộc mở đầu thời kỳ tự chủ. Người mở đầu nền tự chủ là Khúc Thừa Dụ ở đất Hồng Châu vào năm 905 (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), nhưng cháu ông là Khúc Thừa Mỹ lại để mất nước cho Nam Hán. Trước hoàn cảnh đó, chính Dương Đình Nghệ - người anh hùng của xứ Thanh đã cùng với nhân tài vật lực xứ Thanh (Ái Châu), đánh đuổi quân Nam Hán, khôi phục lại nền tự chủ của đất Việt (931-937). Tiếp tục sự nghiệp của Dương Đình Nghệ, từ năm 931 đến 938, Ngô Quyền - người con rể của ông đã xây dựng Châu Ái thành một địa bàn phát triển ổn định về mọi mặt, trong đó có đoàn quân xuất phát từ Châu Ái đã trở thành đội quân chủ lực của cả nước, góp phần quyết định sự nghiệp đánh thắng quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 đánh dấu một bước ngoặt lớn của lịch sử, chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ nghìn năm của các triều đại phong kiến Trung Quốc, mở ra một kỷ nguyên mới, độc lập lâu dài và phát triển rực rỡ của đất nước. Sau khi Ngô Quyền mất (944) bọn phong kiến địa phương nhân đó gây thành nạn cát cứ của “mười hai sứ quân”, ở Thanh Hóa có vùng đất Bình Kiều (huyện Triệu Sơn cũ) trở thành căn cứ của Ngô Xương Xí. Với xu thế tập quyền và thống nhất quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh đã giương cao ngọn cờ thống nhất nên nhanh chóng “hàng phục” được Ngô Xương Xí và huy động tập hợp lực lượng Châu Ái thực hiện hoài bão thống nhất đất nước. Ông đã cử con trai là Đinh Liễn tuyển quân trên đất Ái Châu và đã được nhân dân từ vùng biển đến đồng bằng, trung du đều tích cực hưởng ứng, trong đội quân ấy có Lê Hoàn - người con của vùng đất Kẻ Sập (xã Xuân Lập) về sau trở thành Thập đạo tướng quân trong triều đình Hoa Lư, sau đó lên ngôi Hoàng đế. Khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế (980), ông đã chọn vùng đất Thanh Hóa để thực thi những chính sách phát triển kinh tế, kết hợp với quốc phòng, nhằm chuẩn bị một hậu phương lớn về nhân tài vật lực cho công cuộc đánh Tống, bình Chiêm giữ vững nền độc lập dân tộc vào những thập kỷ cuối thế kỷ X.
Đến thời Lý (1010-1225), khi Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La (Thăng Long), Châu Ái, Châu Hoan trở thành miền đất xa trung tâm chính trị của đất nước và là đất “trại”, sau đó là một phủ của quốc gia Đại Việt. Hơn hai thế kỷ tồn tại của vương triều Lý, các vua nhà Lý đã đặc biệt quan tâm đến vùng đất Thanh Hóa, coi đây là vùng đất “phên dậu” và đẩy mạnh công cuộc xây dựng trên quy mô lớn về mọi mặt. Nhà Lý đã cử các đại thần như Lý Thường Kiệt, Chu Công, Phạm Tín, Đỗ Nguyên Thiện, Lương Cải, Dương Chương “coi giữ” miền đất quan trọng này. Và trong các đời vua Lý Thái Tổ (1010-1028), Lý Thái Tông (1028-1054) Thanh Hóa lại trở thành hậu phương an toàn cho những lần dừng chân trước khi hành binh về phương Nam. Còn Lý Thường Kiệt làm Tổng trấn Thanh Hóa 19 năm, ông đã cho xây dựng nhiều chùa chiền, hẳn ông không có ý xây dựng nên một trung tâm Phật giáo ở xứ Thanh, vì đây không phải là chốn đô hội, con mắt của nhà quân sự thiên tài nhìn xa vận nước có ngày phải lui về đất “trại” để cứu đất “kinh”. 
Đến thời Trần (1226-1400), trong ba lần đánh giặc Nguyên Mông với những chiến công hiển hách, cho thấy thành tựu giữ nước vĩ đại đó không phải từ đâu đến mà nó chính là kết quả của tinh thần dân tộc sâu sắc được nhà Trần và Trần Quốc Tuấn phát huy đến cao độ để tạo thành sức mạnh ý chí đoàn kết toàn dân tộc, đánh giặc cứu nước. Điều đó được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khẳng định: Ta thắng giặc là do “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, đó cũng là tư tưởng chiến lược nhất quán “chúng chí thành thành” - coi lòng dân, ý chí của quần chúng là bức tường thành kiên cố nhất để giữ nước; và để lấy sức dân ông cũng khuyên vua Trần phải “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, coi đó là “thượng sách giữ nước”. Xuất phát từ tư tưởng chiến lược đó nên trước họa xâm lăng, nhà Trần đã huy động được mọi tầng lớp xã hội cũng như mọi miền quê từ thành thị đến nông thôn... đoàn kết chặt chẽ xung quanh triều đình để có thể vững vàng bước vào cuộc kháng chiến với niềm tin chiến thắng cao nhất. Và với vị trí là vùng đất “phên dậu thứ hai phía Nam” đất nước, khi phần lớn đồng bằng Bắc Bộ bị giặc Nguyên chiếm đóng, thì triều đình nhà Trần lại dựa vào miền Thanh - Nghệ - lui về đất trại để củng cố lực lượng rồi tiến quân ra Thăng Long quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu.
        (Thơ Trần Quang Khải)
Phát triển song hành cùng đất nước qua các thời kỳ lịch sử, miền đất Thanh Hóa thời Hồ (1400-1407), thời Lê Trung Hưng (1527-1593) những bậc quân vương của các triều đại lại lui về đất trại để trung hưng đất nước; và lại cũng từ miền đất trại với những kỳ công mở cõi, các chúa Nguyễn (1558-1774) đã viết nên trang sử mới oai hùng về chủ quyền lãnh thổ ở miền đất phương Nam Tổ quốc, tiếp tục khẳng định vai trò của một vùng đất có vị trí địa chính trị có tính chiến lược đối với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Ngày nay vùng đất “trại - Thanh Hóa” lại càng có vị trí quan trọng nhiều mặt, những bài học trong kế sách giữ nước của ông cha ta đối với vùng đất này vẫn luôn khơi dậy niềm tự hào trong mỗi người dân quê tôi và là một động lực hết sức to lớn cho họ trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Thanh Hóa chính là một miền đất như vậy.

Tháng 4-2026
                                                                                   P.V.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 90
 Hôm nay: 3442
 Tổng số truy cập: 17331857
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa