CHỢ BẢN
PHẠM TẤN
Chợ Bản là một chợ quê nổi tiếng thuộc làng Bái Trại, tổng Trịnh Xá, huyện Yên Định (nay thuộc xã Định Tăng). Sách Đại Nam nhất thống chí chép chợ Bái Châu của huyện Yên Định chính là chợ Bản này. Sở dĩ chợ có tên là chợ Bản vì khu vực này thuộc tứ xã bản, mà bản theo cách giải thích của người địa phương tức là bãi sông. Vì vậy, có thể hiểu chợ Bản là chợ bãi ở ven sông Mạn Định - dòng chính của sông Mã thời cuối Trần về trước.
Theo truyền thuyết và những chứng cứ đáng tin cậy (như cây cầu kiến trúc kiểu “Thượng gia hạ kiều” là cổng chính để vào chợ thì có thể khẳng định chợ Bản có từ thời Hậu Lê. Chợ được xây dựng trên một khu đất đường cái quan và phía sau là sông Mạn Định. Cũng theo truyền thuyết thì chợ được xây dựng trên thân đất miệng con cóc, vì vậy mà chợ không có ruồi. Xưa kia, để tạo điều kiện thuận lợi cho khách vào chợ, dân địa phương đã quyên góp công đức để bắc một cây cầu gỗ lợp ngói kiểu “Thượng gia hạ kiều” (tức trên là nhà, dưới là cầu) trên sông Mạn Định. Nhà cầu có 5 gian, 6 vì, lợp ngói, mái khum hình mu rùa, chiều dài 12m, chiều rộng 4,5m. Hai bên nhà cầu đều có lan can, gian giữa có bàn thờ thần và ở 2 cột 2 bên treo đôi câu đối:
Hoành giang hữu lộ thông nam - bắc
Dục tú trung linh tự cổ kim.
Đến năm Tự Đức thập tam (1850), câu đối trên cầu được đổi lại như:
Mạn giang chung dục thiên thu tú
Bái thị hy nhương vạn lý tình.
Với dáng kiến trúc và phong cách đục chạm trên gỗ, đá ở nhà cầu mà niên đại của cầu được suy đoán là vào thế kỷ XVII như một số cây cầu cổ khác ở trong tỉnh. Cầu chợ Bản còn được gọi là Cầu Ngói - cửa chính khi vào chợ. Ngoài ra, còn 4 cửa vào chợ nữa gồm: Đồng Tặn, Tò Vò, Mã Cáo và Dọc Thông.
Theo sự cho biết của các bậc cao niên địa phương thì chợ Bản trước năm 1945 có quy mô rất lớn. Trong chợ có nhiều dãy nhà ngang, dọc với trên 300 gian hàng được làm bằng tranh tre nứa lá và 2 quán ngói gọi là Quán Đình và Quán Biên (Quán Đình hay còn được gọi là Đình Chợ là nơi thờ thần chợ và tiếp các quan khách bề trên, còn Quán Biên là nơi làm việc của những người quản lý chợ). Trong chợ, các gian bán hàng các loại được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp theo quy định. Bên ngoài các dãy nhà là chỗ bán lúa gạo, đậu, lạc, vừng, rau củ quả và hàng lâm sản, v.v… Ở đầu cuối phía bên trái chợ là một bãi đất rộng để bán trâu, bò với số lượng hàng trăm con mỗi phiên. Ở bãi đó người ta chôn nhiều cây cọc để buộc trâu, bò.
Chợ Bản họp mỗi tháng 6 phiên vào các ngày 1, 5, 10, 15, 20, 26 âm lịch. Riêng tháng Chạp lại có thêm phiên chợ ngày 30 tết. Thời gian họp chợ từ sáng tới tận chiều tối. Theo quy định thì cứ 3 năm lại có một lần khao chợ. Qua tìm hiểu, ở thời Pháp thuộc, những người quản lý chợ Bản phải đóng góp cho thuế quan nhà nước mỗi năm khoảng trên, dưới 2000 đồng bạc Đông Dương (tương đương với gần 100 tấn thóc). Vì vậy, những người kinh doanh trong chợ, ngoài nghĩa vụ đóng thuế, còn tự nguyện công đức cúng thần chợ để gây quỹ tu bổ, mở mang chợ.
Theo sự đánh giá chung của người đương thời thì chợ Bản là chợ có quy mô lớn thứ hai sau chợ Tỉnh (tức chợ Vườn Hoa). Cách đây gần một thế kỷ, vào năm 1925, sau khi tìm hiểu, khảo sát kỹ về chợ Bản, học giả người Pháp Ch.Robequain đã viết như sau: “Khi chúng ta (tức thực dân Pháp - P.T) đến đây, hình như chợ Bản là chợ đứng đầu của tỉnh. Tuy nó đã bị chợ tỉnh Thanh Hóa vượt nhưng nó vẫn không ngừng lớn lên. Chỉ khoảng 30 năm trở lại đây, chợ Bản đã lớn gấp bội trước. Năm 1922, các lều tranh được chữa cao và mở rộng rãi. Những ngày phiên chợ Bản với các đường đi thẳng tắp gặp nhau thành góc vuông với hàng rào bằng gỗ, các mặt hàng đầy đủ, thể hiện bộ mặt của một nền thương nghiệp thịnh vượng và có tổ chức mà ở các chợ khác ta không thấy. Vẫn biết rằng chợ Bản chia với chợ Tỉnh sự độc quyền buôn trâu bò…”.
Cũng theo sự ghi chép của Ch.Robequain thì “Năm 1887, viên sĩ quan chỉ huy ở Yên Định nói rằng các phiên chợ Bản mỗi tháng 7 phiên và có 2, 3 nghìn người, người từ Ninh Bình, Phủ Quảng, Thanh Hóa,… cũng đi chợ này. Chợ có nhiều lều tranh cách nhau bởi đường hẹp. Toàn bộ là một hình chữ nhật dài 145m, rộng 90m, nhân dân ở đây có vẻ có trật tự và khá giả hơn các làng bên…”.
Về việc mua bán trâu bò ở chợ Bản, Ch.Robequain cho biết một cách khá cụ thể, chi tiết trong thời gian từ 1945 trở về trước thì ở đây mỗi năm bán ra tới hàng ngàn con trâu, bò. Phần lớn số trâu bò ấy được chuyển về Thanh Hóa để nhập ra Bắc Kỳ. Bình quân mỗi phiên chợ ở đây cũng bán được từ vài ba chục con trở lên. Thực chất đây là chợ trung chuyển trâu, bò từ các huyện trung du, miền núi về miền xuôi nên tập trung nhiều cánh buôn từ các vùng Mường, Thái ở Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa xuống. Vì ở xa nên phần lớn những người buôn bán trâu bò phải có mặt ở chợ từ hôm trước.
Là trung tâm buôn bán trâu bò lớn nhất, nhì tỉnh cho nên chợ Bản trở thành nơi hội tụ các lái trâu, lái bò sành sỏi khắp mọi vùng trong, ngoài tỉnh để hành nghề “mối, lái” kiếm tiền cả từ người mua và người bán trâu bò. Trong số các thợ lái trâu, lái bò ấy, nổi tiếng hơn cả vẫn là các thợ lái ở Trịnh Xá, Đông Lý (Yên Định), Trung Vực (Thọ Xuân), Ngọc Trung, Cốc Hởn (Thiệu Hóa), Thọ Vực, Bản Thuỷ, Bồng Thượng (Quảng Hóa), Quỳ Chử (Hoằng Hóa), Cốc Hạ (thị xã Thanh Hóa), v.v… Ngoài ra, còn có cả các lái từ ngoài Bắc vào hoặc từ Nghệ An ra.
Sau đây là số liệu điều tra cụ thể của Ch.Robequain về việc buôn bán trâu bò ở chợ Bản: “Chợ Bản, một chợ lớn tập trung súc vật lớn do các người buôn rải rác quanh vùng mang tới. Các người này đi mua trâu bò trong các làng cho tới tận vùng Mường và Thái. Họ rất đông ở Trung Vực (tổng Nam Dương, phủ Thọ Xuân), ở Ngọc Trung, Cốc Hởn (Thiệu Hóa), ở Phù Hưng (tổng Trịnh Xá, Yên Định), ở Bản Thuỷ (tổng Bồng Thượng, phủ Quảng Hóa), ở Quỳ Chử (tổng Dương Thuỷ, phủ Hoằng Hóa). Mỗi người buôn mỗi phiên chợ dắt từ 5 đến 10 con hoặc hơn thế nữa để ăn mỗi con từ 2 đến 5 đồng bạc (Đông Dương - P.T). Tháng 6 đến tháng 8 âm lịch là những tháng mà có nhiều súc vật bán nhất vì lúc ấy là lúc mà việc cày bừa ruộng mùa đã xong và nhiều nông dân thiếu tiền nộp thuế và nhất là khi sa sút phải bán trâu bò nộp thuế. Họ sẽ mua con khác sau này, hoặc phải thuê mướn của người làng giàu có hơn. Cũng một con vật thôi trong cuộc đời ngắn ngủi của nó có thể là đối tượng của nhiều lần trao đổi. Năm 1926, trung bình mỗi phiên chợ Bản có 85 trâu bò, trong đó có 60 trâu và 25 bò, độ một phần ba số ấy bị ế không bán được, hoặc bán cho nông dân quanh vùng, còn bao nhiêu được đưa về chợ Tỉnh thành từng đàn từ 10 đến 15 con do các lái buôn khác mua lại và dắt đi. Các lái này quê ở Thanh Dương và Dương Xá (tổng Đại Bối, phủ Thiệu Hóa) và nhất là ở Phú Cốc (thị xã Thanh Hóa) ở ngay sát chợ Tỉnh. Lái trâu bò là những lái có tiếng nhất ở trong tỉnh, tinh khôn và rất khéo nói, không ai hơn họ trong việc định tuổi và tính nết con vật bằng cách xem răng, mắt và xoáy của nó. Họ rất tài trong việc xem chân, ngực để biết trâu bò đó là của Nghệ An hay Thanh Hóa. Họ điều khiển giá cả ở chợ Tỉnh là nơi không những chỉ có phần lớn là trâu bò chợ Bản, nhưng còn có những súc vật từ Hà Trung, từ Đông Sơn, từ Nông Cống và từ các huyện ven biển dắt thẳng đến nữa…”.
Như vậy, ngoài trâu bò, chợ Bản còn là một trung tâm bán các loại hàng nông sản lớn nhất huyện, nhất tỉnh; trong đó chủ yếu là các mặt hàng như bông rồi đến lúa, gạo, đỗ, lạc và các loại hàng nông sản. Các nhà thầu lớn người Hoa, người Việt cũng đến đây để thu mua hàng hóa xuất ra Bắc Kỳ và các nước láng giềng như Trung Quốc. Xung quanh chợ, họ còn làm kho chứa hàng để tích trữ. Sự phong phú và đa dạng về các loại hàng hóa đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với khách mua bán cả trong, ngoài tỉnh. Không phải chỉ trước năm 1945, hay cả trong kháng chiến trường kỳ (1946-1954), mà ngay sau ngày hòa bình lập lại cho đến tận năm 1964, ở chợ Bản hầu như thứ hàng hóa tiêu thụ nổi tiếng có giá trị nào cũng có. Để mua được cái xe đạp, hay một cái đài bán dẫn, hoặc các mặt hàng ngoại hiếm và có giá trị khác, v.v… dân các huyện đến chợ Bản là có thể mua được. Trước kia, ngoài các mặt hàng phong phú bày bán trong, ngoài các lều chợ, người ta còn dành chỗ cho các lò rèn (người Tất Tác, Hậu Lộc) hành nghề. Ngoài ra, còn có chỗ dành cho người bán thuốc nam, thuốc bắc, hay hàng cơm, hàng thịt chó, bánh, bún, v.v… Trong chợ còn có chỗ cho để những gánh xiếc hoạt động nhằm quảng cáo việc bán thuốc gia truyền và hàng hóa nào đó. Riêng thầy bói hoặc người hát xẩm kiếm tiền cũng có chỗ ngồi để hành nghề, v.v… Sự đa dạng, phong phú của các mặt hàng và sự hoạt động tấp nập, nhộn nhịp ở chợ Bản mà văn hóa dân gian đã phản ánh một cách thật sinh động:
Ngẫm xem phong cảnh huyện Yên,
Hóa ra chợ Bản lắm tiền cũng sang.
Phủ Thiệu, phủ Thọ lên xuống xốn sang,
Qua sông cầu gác hai bờ,
Trên ngói, dưới lát ván, người vô liền liền.
Hàng nước hai dãy hai bên,
Hàng quà hàng bánh cứ tiền tiêu pha.
Vừa lên, hàng lợn, hàng gà,
Hàng mèo, hàng chó, gốc đa trâu bò.
Ngày tết có chợ bán hoa,
Ngày dưng cũng chỉ thường là thế thôi.
Hàng ngược có chị hàng vôi,
Mắm, muối, chiếu, võng, một nơi tỏi hành.
Giữa chợ có một cái đình,
Đặt trên miệng cóc in hình chẳng sai.
Thợ rèn bán thuổng, bán cuốc, bán mai,
Lúa gạo gốc duối, xuôi ngay hàng sồi.
Giữa chợ có chị bán nồi,
Xứ đồng, xứ đất là tôi với chàng.
Bán cơm vốn ở trong làng,
Nào ai bán cả ống giang theo cày.
Lại thêm thịt chó treo dây,
Áo vóc, áo nhiễu, bông tây Hoa Tàu.
Lại thêm hàng rượu hàng dầu,
Nào ai bán cả đĩa Tàu, bát Tây.
Nào ai bán cả võng đay,
Nào ai bán cả khăn tay, lược ngà,…
Hoặc:
Chợ Bản là chợ Bản ta,
Hai dãy hàng quà, bốn dãy hàng Bông.
Bên dưới có sông, bên trên có chợ,
Ta lấy cô mình làm vợ nên chăng?
Tre già để gốc cho măng…
Hay:
- Dù ai võng giá nghênh ngang
Đã đến chợ Bản cũng chè bằng nước ao.
- Nào ai đi ngược về xuôi,
Nhớ phiên chợ Bản đông vui mà về.
- Buôn chi và lại bán chi
Chín phiên chợ Bản anh đi cả mười.
- Bỏ con, bỏ cháu chứ không bỏ phiên 26 chợ Bản…
Chỉ một số câu ca ghi chép, sưu tầm ở trên cũng đã đủ thông tin cho chúng ta biết được sức hút và sự hấp dẫn của chợ Bản xưa sao mà đặc biệt đến như vậy. Và trong những ngày xưa ấy, chợ Bản còn là điểm hẹn lý tưởng cho những cuộc hẹn hò, gặp gỡ lứa đôi. Biết bao cuộc hát đối, hát đáp đã từng diễn ra ở nơi này với lời lẽ ngọt ngào mà ý vị sâu xa như:
- Hỡi cô nàng thắt lưng xanh,
Có về chợ Bản với anh thì về.
Chợ Bản có cây Bồ đề
Có hoa Thiên lý có nghề bán cơm.
- Bán cơm vụng nấu vụng đơm,
Lại vụng tiếp khách bán cơm chẳng nề.
Yêu anh em cũng muốn về
Sợ thầy sợ mẹ kén nghề bán cơm.
*
Tóm lại, chợ Bản xưa đông vui, nhộn nhịp là thế, nhưng đến cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, vào năm 1947, để tránh sự oanh tạc của máy bay địch, chợ Bản được sơ tán về một khu vực bãi cồn hoang nhiều cây cối um tùm ở làng Lý Yên (xã Định Tường), rồi sau đó lại chuyển đến khu đồi cây ở làng Diên Hy (nay thuộc xã Định Hưng). Sau hòa bình lập lại (7-1954), chợ Bản lại chuyển về trung tâm Quán Lào (nay là thị trấn Quán Lào) rồi sau đó lại chuyển về xã Định Long và hiện nay chỉ là một chợ quê bình thường như các chợ quê ở các địa phương khác. Vì thế mà chợ Bản lớn nhất, nhì tỉnh bởi sự đông đúc, nhộn nhịp và đa dạng các loại hàng hóa được ghi chép phản ánh trước kia giờ đây chỉ còn trong ký ức kỷ niệm. Nhưng dẫu sao khi nhắc lại cái tên chợ Bản, người Yên Định - xứ Thanh vẫn có quyền tự hào về một trung tâm thương mại mua bán sôi động đã từng tồn tại, phát triển liên tục trong hàng mấy thế kỷ đã qua để rồi hôm nay, dẫu trong điều kiện mới của thời đại hội nhập - mở cửa, hoạt động ở nơi chợ quê mới cũng cần phát huy việc mua bán hàng hóa một cách hiệu quả, văn minh, lịch sự hơn.
P.T