Làng Bèo với nghệ thuật hát tuồng truyền thống
Làng Bèo với nghệ thuật hát tuồng truyền thống
NGUYỄN HUY MIÊN
Nằm trên vùng đất Tây Đô, làng Bèo ở xung quanh hai quả đồi nhỏ, dọc theo bờ sông Bưởi và Đại La của Thành Nhà Hồ, có đường Quốc lộ 45 chạy qua làng. Theo lịch sử của địa phương, xóm Trác là cư dân cổ, hai xóm khác hình thành từ đầu thế kỉ XIV, các dòng họ từ ngoài Bắc vào đây lập nghiệp. Thuở xưa 3 xóm nhỏ cách xa nhau, đó là Trác thôn, Trại thôn và trang Bào Giang Biểu (Bèo thôn). Tuy là các thôn nhỏ nhưng cũng có bộ máy hành chính riêng. Một số vùng còn nguyên tên gắn với hiện trạng ngày xưa thời Trần - Hồ như gành Bến Đông có Thạch Bàn, con đường cái Dinh từ đồng Mây của làng Bèo nối với thành Tây Đô xuống Bến Đông sông Bưởi, hoặc khu vườn hoa Cầu Mư, ở đây là nơi cung tần mỹ nữ, các Thái giám du ngoạn. Bái Nấp Sòi là nơi tập phục binh của nhà Hồ, Gò Địa Ngục là nơi giam giữ tù binh, tội phạm. Khi nhà Hồ chống cuộc xâm lược của giặc Minh bị thất bại. Bọn gian thương Trung Quốc tràn sang, dùng mưu ma, bùa phép cướp của hại người bản địa. Cuộc sống luôn bị đe dọa, nên hai thôn Trác thôn và Trại thôn đã sáp nhập vào trang Bào Giang Biểu (Bèo thôn) thuộc tổng Bỉnh Bút, rồi thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc. Năm 2025, khi sáp nhập các đơn vị hành chính, làng Bèo thuộc xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hóa.
Làng Bèo từ xưa tới nay nổi tiếng là văn hiến, người dân nơi đây thuần hậu, gắn bó đoàn kết trong cộng đồng; lại giàu truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt, chuộng văn hóa văn nghệ. Làng có đình lớn năm gian hai dĩ, có hậu cung thờ công đồng Thành hoàng làng. Chùa cổ (Thái Bình tự), tương truyền có từ thời nhà Trần, khi xưa chùa được xây dựng tại cánh đồng Khua Cự, do thường bị lũ lụt nên đã di chuyển nhiều nơi, đến năm 1942 thì chuyển đến vị trí hiện nay, chùa còn giữ được nhiều pho tượng cổ, có sư trụ trì. Làng có 3 nghè thờ các vị thần làm Thành hoàng của làng, đó là nghè Cả thờ Quản Gia Đô Bác Đại Vương Tôn thần, nghè Thượng thờ Thủy Quốc Long Vương tôn thần, nghè Trại thờ Âm thần Tối Linh Chúa Ba Từ Hoa Công Chúa tôn thần. Cả ba vị thần đều được các triều đại xưa ban sắc, phong là thượng đẳng thần, che chở phù hộ cho cuộc sống dân làng. Trước kia lễ kỳ phúc của làng được tổ chức vào trung tuần tháng giêng. Dân thôn rước kiệu rước các thần về đình lớn để tổ chức lễ tế kỳ phúc, sau hội lại rước các thần về an vị tại nghè. Trải qua thăng trầm dâu bể, các nghè thờ thần đến nay đã không còn. Thể theo ý nguyện của toàn dân, năm 2022 làng đã xây dựng một ngôi nghè theo kiểu mới để phối thờ ba vị Thành hoàng của làng. Lễ khánh thành nghè được tổ chức trọng thể vào ngày 14 tháng 2 năm Quý Mão (5-3-2023), làng đã lập được đội tế nam, nòng cốt là những nghệ nhân tuồng, với đầy đủ nghi thức theo lệ cổ. Phần hội được tổ chức trước một ngày với nghệ thuật tuồng truyền thống của làng, các trò chơi dân gian và thể thao. Khánh thành nghè thờ Thành hoàng làng Bèo thực sự là niềm vui, niềm mơ ước của bao thế hệ bấy lâu nay. Bên cạnh chùa, nghè là không gian tâm linh để người dân tìm về cội nguồn, gửi gắm niềm tin và khát vọng sống. Chính từ chốn linh thiêng ấy, con dân trong làng được tiếp thêm sức mạnh tinh thần, cùng nhau mưu cầu cuộc sống an lành, chung tay xây dựng quê hương giàu đẹp và bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc.
Làng Bèo từ xa xưa đã tổ chức gánh hát bội (tuồng) với đầy đủ diễn viên, nhạc cụ, nhạc công, y phục. Gánh hát bội này phục vụ cho công việc của làng, các gia đình trong làng có sự kiện và đi diễn ở các nơi. Nghệ thuật hát bội (tuồng) duy trì từ đời này qua đời khác, trở thành món ăn tinh thần không thể tách rời với đời sống người dân nơi đây. Từ người già đến trẻ nhỏ, không ai không thuộc một vài đoạn tuồng, thậm chí có những em tuổi đời còn trẻ nhưng lại có niềm đam mê với môn nghệ thuật truyền thống này.
Hát bội có nguồn gốc từ hát bộ cung đình, đó là lối hát tuồng với bộ điệu. Khi diễn hát, các đào kép vừa hát vừa múa, đi lại trên sân khấu, điệu bộ hấp dẫn với vật tượng trưng. Ví dụ như múa với một cây roi hay cây chổi có buộc nhiều sợi vải màu là hiểu ngay là đang cưỡi ngựa; tướng soái chỉ huy cả mươi vạn binh, mang sau lưng cờ trận, kì hiệu của những đội quân do vị tướng này thống lĩnh.
Hát bội mang một hơi thở văn hóa truyền thống, gắn với những lễ cung đình, như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Nghệ thuật sân khấu hát bội được coi là loại hình sân khấu cổ điển. Nó mang tính ước lệ, tượng trưng rất cao, ngôn ngữ thâm thúy, mang đậm triết lý. Những bước chân, những cái chỉ tay lên trời, xuống đất… của diễn viên đều tuân thủ nguyên tắc rất chặt chẽ và biểu thị cho những ý nghĩa nhất định. Hát bội đặc biệt từ nội dung, cốt truyện đến cử chỉ, điệu bộ, lời ca tiếng hát và phục trang biểu diễn. Từ đó, khi hóa trang, các nghệ sĩ phải bảo đảm được thần thái, màu sắc của khuôn mặt phản ánh tính cách nhân vật hóa trang như: vua, võ tướng, trung thần, gian thần, nịnh thần,... Bên cạnh đó, màu sắc trang phục từ đỏ, vàng, đen, trắng… cũng biểu hiện được tính cách nhân vật là “kép độc” hay “kép hiền”.
Hát bội thường diễn lại những sự tích trong truyện cổ, có mục đích giáo dục, đề cao những tấm gương sáng của các vị anh hùng, đề cao nhân - nghĩa - lễ - trí - tín và đạo lý làm người. Kết cục của những tuồng hát bao giờ cũng có hậu và răn dạy người đời: ở hiền gặp lành, làm ác gặp ác, gieo nhân nào gặt quả ấy…
Các cử chỉ, bộ tịch mà các đào, kép diễn trong hát bội đều mang ý nghĩa tượng trưng, tạo ra nhiều tưởng tượng phong phú cho người xem. Tính chất tượng trưng bao trùm lên bối cảnh tuồng tích, từ hóa trang tới phục sức, điệu bộ và lời hát. Trình độ nghệ thuật được đánh giá qua lối ca, diễn của các đào kép và cách dàn dựng của thầy tuồng.
Ngôn ngữ hình thể là một phần quan trọng để diễn tả hành động và tính cách nhân vật. Khuôn mặt của mỗi nhân vật đều được hóa trang riêng để phân biệt tính cách. Phục trang của các nhân vật tuồng gồm: áo giáp, áo thụng, áo đào văn, đai lưng... Đạo cụ thường là: kiếm, đao, thương, cờ, quạt, roi ngựa, phất trần... Bên cạnh đó, “tiếng trống chầu” - cầu nối giữa diễn viên và khán giả - cũng là phần không thể thiếu trong hát bội. Mỗi âm thanh từ trống chầu đều có quy tắc tượng trưng cho sự khen, chê, thưởng, phạt đối với tiếng ca hoặc vũ đạo.
Làng Bèo, hơn 600 năm, từ khi có xóm Trại, thì đã có hát bội, đến những năm 1960 thì đổi gọi là hát tuồng. Đội văn nghệ tuồng làng Bèo đã kết nghĩa với Đoàn Tuồng Thanh Hóa - Quảng Nam, trưởng đội văn nghệ tuồng thời gian này là Trần Quang Cợn, sau là Trần Văn Lam. Diễn viên của đội tuồng được dạy bài bản hơn, có thể biểu diễn chung với các diễn viên chuyên nghiệp của Đoàn Tuồng tỉnh. Đội tuồng làng Bèo đi công diễn các nơi trong và ngoài huyện. Đầu những năm 1970, do đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt ra miền Bắc, một số diễn viên vào Nam chiến đấu, đội văn nghệ tuồng làng Bèo tạm nghỉ một thời gian, sau ngày đất hòa bình thống nhất, đội tuồng lại tiếp tục khôi phục biểu diễn, nghệ nhân Trần Thị Đới là diễn viên thuộc thế hệ thứ hai của đội tuồng làng Bèo. Đội tuồng trực thuộc HTX nông nghiệp toàn xã Vĩnh Long, tiếng trống tuồng của làng Bèo lại âm vang các làng trong huyện Vĩnh Lộc, phục vụ công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Năm 2005, do thay đổi mô hình, đội văn nghệ tuồng làng Bèo được chuyển thành Câu lạc bộ (CLB) do nghệ nhân Lê Thị Tròn làm chủ nhiệm, nghệ nhân Trần Thị Đới là phó chủ nhiệm kiêm đạo diễn. Mô hình mới CLB buổi đầu gặp rất nhiều khó khăn, không còn được sự tài trợ của xã, bởi vậy kinh phí hoạt động hạn hẹp, chủ yếu là do các hội viên trong CLB tự nguyện đóng góp hoặc huy động từ nguồn xã hội hóa sau những chuyến lưu diễn. Vượt qua những khó khăn, gian khổ, bằng sự đam mê mãnh liệt, cùng với ý thức, trách nhiệm gìn giữ truyền thống văn hóa của ông cha chính là mạch nguồn cảm xúc, sức mạnh tinh thần để các hội viên vượt qua mọi thách thức, cùng đưa CLB đi vào ổn định. Theo dòng chảy của thời gian, dưới sự lãnh đạo của ban chủ nhiệm, được sự ủng hộ của địa phương cùng với sự dìu dắt đỡ đầu của Đoàn Tuồng Thanh Hóa, Đoàn Tuồng Trung ương và Nghệ sĩ Nhân dân Lê Tiến Thọ, CLB Tuồng làng Bèo từng bước trưởng thành. Tiếng trống tuồng cùng với những âm thanh, giọng hát của hội viên CLB lan tỏa khắp vùng.
Bằng niềm đam mê cháy bỏng với nghệ thuật tuồng, các thành viên của CLB luyện tập, biểu diễn với phong thái và kỹ năng chẳng kém gì những diễn viên chuyên nghiệp. Trên hành trình hoạt động, CLB đã gặt hái nhiều thành tích tập thể đáng trân trọng và tự hào: Năm 2005 giành Huy chương Vàng toàn đoàn tại Hội diễn Liên hoan Văn hóa - Thông tin toàn tỉnh; Năm 2007 đạt giải Nhì toàn đoàn trong Liên hoan Văn nghệ toàn tỉnh; Năm 2012 đạt đơn vị xuất sắc trong Liên hoan Tiếng hát Dân ca khu vực Thành Nhà Hồ; Năm 2015 giành Huy chương Vàng tại Liên hoan Tuồng không chuyên toàn quốc tổ chức tại Đà Nẵng; Năm 2018 tiếp tục đoạt Huy chương Vàng tại Hội diễn Liên hoan Tuồng không chuyên tổ chức tại Bình Định. Bên cạnh đó, nhiều diễn viên và nhạc công của CLB còn vinh dự nhận các giải thưởng cá nhân, góp phần làm dày thêm bảng thành tích của phong trào tuồng làng Bèo.
Nghệ nhân Lê Thị Tròn sinh năm 1944, quê gốc ở nơi khác, về làm dâu làng Bèo nhưng nhanh chóng hòa mình vào mạch nguồn văn hóa của vùng đất này. Từ sự ngưỡng mộ ban đầu, tình yêu dành cho nghệ thuật tuồng trong bà dần trở thành đam mê sâu nặng, thôi thúc bà cống hiến trọn vẹn cho bộ môn truyền thống ấy. Với tinh thần trách nhiệm cao và thái độ ham học hỏi, bà cùng các thành viên miệt mài trau dồi nghề, tham gia sáng tác, dàn dựng và biểu diễn phục vụ công chúng. Mỗi mùa hội, mỗi dịp lễ tết, trong những buổi liên hoan, giao lưu văn nghệ từ nhà văn hóa thôn đến khắp các miền quê, tiếng nhạc, tiếng phách lại ngân vang, lay động và làm say lòng người.
“Bén duyên” với nghệ thuật tuồng từ khi 15 tuổi, bà Trần Thị Đới, đã gia nhập đoàn tuồng thôn Bèo. Thời bao cấp, chồng chất những khó khăn, nhưng bà vẫn kiên trì luyện tập và không nản chí. Khán giả hâm mộ tuồng ấn tượng với bà qua những vai diễn mà bà thể hiện xuất sắc như: vai chính Trần Bình Trọng trong vở cùng tên, Nữ chúa (Ngọn lửa Hồng Sơn)... Hiện bà là nghệ nhân ưu tú, phó chủ nhiệm CLB, kiêm đạo diễn. Bà đã trực tiếp đào tạo diễn viên, dựng cảnh, sáng tác các hoạt cảnh, tiểu phẩm, thấm đẫm hơi thở của đời sống lao động, ca ngợi tình yêu, quê hương đất nước; phục hồi các trích đoạn tuồng cổ như: Trần Bình Trọng, Trưng nữ Vương, Ngọn lửa Hồng Sơn. Bà cho biết, ra đời từ năm 2005, CLB Tuồng làng Bèo đã trở thành mái nhà chung của những người nặng lòng với tuồng. Điều đáng quý là phần lớn thành viên nay đều đã lên ông, lên bà, nhưng tuổi tác không ngăn được họ đến với sinh hoạt CLB bằng tất cả niềm say mê dành cho nghệ thuật sân khấu truyền thống. Chính từ những sinh hoạt đời thường ấy, các nghệ nhân, thành viên CLB đã lặng lẽ gìn giữ, thổi hồn để tuồng hồi sinh và lan tỏa. Những “nghệ sĩ chân đất” với đôi tay gầy, nước da sạm nắng, tạm gác lại nhọc nhằn mưu sinh để hóa thân thành các nhân vật trên sân khấu, đáp lại niềm mong mỏi của những người yêu tuồng ở địa phương. Sự cống hiến bền bỉ ấy đã được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý: tập thể và cá nhân CLB nhận hàng loạt Huy chương Vàng, Huy chương Bạc, cùng bằng khen, giấy khen của Trung ương, của tỉnh, huyện và xã. Riêng cá nhân bà Đới đã nhận được 3 Huy chương Vàng, trong đó: 2 Huy chương Vàng do Trung ương trao tặng, với vở “Ngọn lửa Hồng Sơn”, vai Nữ chúa năm 2015 và vai Nữ chủ trong vở “Triệu Thị Trinh” năm 2018; 1 Huy chương Vàng cấp tỉnh với trích đoạn “Trần Bình Trọng”, vai diễn cùng tên năm 2005. Niềm vui càng trọn vẹn khi năm 2015, bà được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú; đến năm 2023, được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch”.
Trong không gian di sản Tây Đô, bên cạnh các CLB chèo, CLB ca trù, CLB Tuồng làng Bèo cũng là một trong những hạt nhân tích cực, góp phần thu hút du khách đến tham quan Thành Nhà Hồ và các danh lam, thắng tích trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc. Các thành viên CLB Tuồng làng Bèo luôn ý thức sâu sắc trách nhiệm bảo tồn và phát huy những giá trị độc đáo mà cha ông để lại, vì thế không ngừng quy tụ, học hỏi, trau dồi kỹ năng nghề. Dẫu điều kiện kinh tế, hoàn cảnh mỗi người một khác, nhưng họ cùng chung niềm đam mê mãnh liệt dành cho nghệ thuật tuồng. Trong những buổi tập, buổi diễn, các thành viên như trút bỏ hết nhọc nhằn đời thường, tìm thấy niềm vui, sự hứng khởi, được thổi hồn, lưu giữ, ngân nga những làn điệu tuồng phục vụ khán giả. Cùng với đó, CLB chú trọng kết nạp, đào tạo thêm lực lượng trẻ, bổ sung diễn viên kế cận, tạo nền tảng để phong trào tuồng làng Bèo ngày càng phát triển bền vững.
N.H.M