Giữa Thiên Phủ, nghe tiếng tre luồng kể chuyện (Ghi chép dự thi)
LÊ NGỌC SƠN
Giữa Thiên Phủ, nghe tiếng tre luồng kể chuyện
Ghi chép dự thi
Trong hình dung của tôi, con đường đến với những vùng đất mang tên “miền Tây” luôn gắn với sự gian nan, hiểm trở, như miền Tây Bắc, miền Tây xứ Thanh hay miền Tây xứ Nghệ. Qua lời kể của bố mẹ và những trang viết của các nhà văn từng “nằm vùng”, những vùng đất ấy hiện lên với biết bao khó khăn, cách trở, có khi đi lại mất đến mấy ngày đường. Chuyện lên miền núi, về miền xuôi từng in đậm dấu ấn trong nhiều gia đình xứ Thanh, khi hầu như ai cũng có một người thân hay họ hàng từng có quãng thời gian công tác trên ấy.
Thời trai trẻ, khi phong trào phượt xe máy nở rộ, tôi từng rong ruổi hàng tuần trên những cung đường miền Tây Bắc và choáng ngợp trước núi non hùng vĩ cùng thiên nhiên tươi đẹp. Tôi cũng từng hẹn với cậu bạn thân rằng hai đứa sẽ thực hiện một chuyến đi xuyên khắp miền Tây xứ Thanh quê hương mình. Thế nhưng, khi lập gia đình và có con nhỏ, những dự định đẹp đẽ ấy dần trở nên xa vời.
Rồi bất chợt, một cơ hội đến với tôi khi được Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh mời tham gia chuyến đi thực tế lên miền Tây xứ Thanh. Điểm đến gồm hai cái tên. Một là Na Mèo, nơi tôi đã nghe nhắc đến từ rất lâu, bởi trên những cột mốc ven đường thường hiện lên dòng chữ còn bao nhiêu kilomet nữa là tới Na Mèo. Một xã biên giới giáp Lào, nên trong hình dung của tôi, đó luôn là một nơi rất xa xôi. Địa điểm thứ hai là Thiên Phủ, cái tên tôi mới chỉ nghe lần đầu nhưng đã gợi lên nhiều liên tưởng mang màu sắc tâm linh.
Trước chuyến đi, tôi đã thử tìm hiểu thông tin về Thiên Phủ, đặc biệt là về du lịch, nhưng hầu như chưa thấy những chỉ dẫn hay dấu ấn nào thật sự nổi bật. Xã Thiên Phủ được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai đơn vị hành chính là xã Nam Động và xã Thiên Phủ từ ngày 1-7-2025. Diện tích tự nhiên của xã khoảng 147,48km2, dân số 6,485 người, với mật độ dân cư khá thấp, khoảng 44 người/km2. Những con số ấy phần nào cho thấy nơi đây vẫn còn nhiều không gian thoáng đãng, quỹ đất rộng và dư địa để phát triển trong tương lai.
Tôi bước vào chuyến đi ấy với một hành trang khá nhẹ: vài thông tin rời rạc, một chút tò mò và nhiều hơn cả là một câu hỏi. Thiên Phủ, “kho tàng của nhà trời”, liệu có thật sự cất giữ một điều gì đáng để tìm kiếm?
Từ trung tâm phường Hạc Thành, chúng tôi đi khoảng 55 kilomet theo Quốc lộ 47 để nối vào đường Hồ Chí Minh với quãng đường chừng 28 kilomet, rồi tiếp tục theo Quốc lộ 16 để tới Hồi Xuân, trung tâm của huyện Quan Hóa cũ. Trên hành trình ấy, chúng tôi bắt đầu gặp sông Mã khi đi qua địa phận Thiết Ống. Từ đây, cung đường trở nên đẹp hơn hẳn: một bên là núi rừng xanh thẳm, một bên là dòng sông Mã lặng lẽ uốn mình. Đến Hồi Xuân, chúng tôi tạm chia tay sông Mã để rẽ theo một con sông mang cái tên thật đặc biệt, sông Luồng, vì sao đặc biệt, tôi sẽ nói sau. Dòng sông nhỏ hơn, chảy gần như theo hướng chính Tây, khúc khuỷu qua những bản làng của vùng Quan Hóa cũ. Qua cầu Nam Động, chúng tôi rời sông Luồng để tiến sâu vào trung tâm xã Thiên Phủ. Tổng quãng đường khoảng 162 kilomet, mất chừng 3 giờ 20 phút di chuyển liên tục. Tôi ghi khá kỹ quãng thời gian ấy để thấy rằng Thiên Phủ thực ra không hề xa. Như với Pù Luông, tôi từng đi từ Nghi Sơn, mất khoảng 3 giờ 20 phút cho quãng đường 163 kilomet, và cảm thấy những trải nghiệm nhận lại hoàn toàn xứng đáng.
May mắn cho chúng tôi khi trong đoàn có một “nhà Thanh Hóa học”, cách nhà văn Xuân Thủy gọi vui nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm. Đi đến đâu trên vùng đất phía Tây này, bác Khiêm cũng kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện và những địa danh đầy thú vị. Điều bác luôn tự hào là từng tham gia lực lượng thanh niên xung phong mở tuyến đường Nam Động dài hơn 26 kilomet ngay sau ngày đất nước thống nhất. Chuyến trở lại Thiên Phủ với bác giống như một cuộc trở về. Suốt dọc đường, ánh mắt bác đắm đuối nhìn theo từng cung đường, đặc biệt là những đoạn vẫn còn giữ được những cánh rừng nguyên sinh như thuở bác còn tham gia làm đường. Bác hào hứng kể: “Ngày xưa mở đường là gặp những đoạn rừng rậm như thế kia, phải đốn từng gốc cây, phát từng bụi rậm theo vạch chỉ của đội kỹ thuật đi trước. Bao nhiêu gian khổ, mỗi mét đường là biết bao sức lực của thanh niên. Thời ấy khó khăn, nhưng cũng là quãng đời đáng nhớ và đáng tự hào nhất”.
Cả đoàn vừa di chuyển vừa thấp thỏm lo âu, bởi dự báo thời tiết không mấy thuận lợi. Cuối tháng tư là thời điểm giao mùa, khi đợt không khí lạnh cuối mùa tràn về đã gây ra những trận mưa giông, lốc xoáy, thậm chí cả mưa đá ở các tỉnh phía Bắc. Theo dự báo, khu vực Thiên Phủ cùng vùng núi Thanh Hóa cũng sẽ đón một đợt mưa lớn.
Buổi sáng hôm ấy, bầu trời ảm đạm, mây phủ dày nhưng chưa mưa. Thế rồi, khi xe tới địa phận Nam Xuân, nỗi lo của cả đoàn bỗng trở thành hiện thực. Bầu trời tối sầm lại như một buổi chiều muộn mùa đông, những đám mây đen kéo xuống thấp, đặc quánh. Nhà văn Xuân Thủy nhìn ra ngoài cửa kính rồi “phán” một câu: “Chúng ta đang đi vào một cơn giông”.
Và ngay sau đó, mưa trút xuống xối xả, dồn dập như thể ai đó nghiêng cả một bầu nước khổng lồ từ trên cao đổ xuống. Trong xe, những tiếng thở dài lo lắng khe khẽ vang lên. Nhưng rồi, như một sự an ủi bất ngờ của thiên nhiên, khi thấp thoáng cổng chào Hồi Xuân hiện ra phía trước, bầu trời bắt đầu hửng sáng. Mưa vẫn chưa dứt hẳn nhưng không còn nặng hạt như trước.
Lịch trình tham quan buổi sáng buộc phải thay đổi. Trưởng đoàn, nhà văn Lưu Nga, thông báo ngắn gọn với mọi người rằng buổi làm việc với lãnh đạo xã Thiên Phủ, vốn dự kiến diễn ra vào sáng hôm sau, sẽ được đẩy lên trước, còn phần tham quan thực địa sẽ lùi lại sau.
Khi xe dừng trước cổng Ủy ban nhân dân xã Thiên Phủ, cơn mưa đã dịu hẳn. Một cán bộ xã chờ sẵn từ trước để đón đoàn và hướng dẫn vào trụ sở. Điều khiến tôi chú ý đầu tiên là màu sơn xanh dịu trên nền trắng ngà của tòa nhà, một sắc xanh khác hẳn gam vàng quen thuộc ở nhiều công sở. Sau này tôi mới biết đó là chủ ý của Chủ tịch xã, khi anh muốn lựa chọn một gam màu hài hòa với thiên nhiên và núi rừng xung quanh.
Sự lựa chọn ấy không hề ngẫu nhiên, bởi nơi đây được giới thiệu là vùng có diện tích luồng lớn nhất tỉnh Thanh Hóa. Xa hơn nữa, định hướng của xã là gắn phát triển du lịch cộng đồng với loài cây đặc trưng và nổi bật nhất của vùng đất này: cây luồng. Và cũng chính loài cây ấy đã được dùng để đặt tên cho dòng sông dẫn vào vùng đất nơi đây, sông Luồng.
Tiếp đón đoàn chúng tôi là anh Phan Văn Đại, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Thiên Phủ, cùng Phó Chủ tịch xã và Trưởng phòng Văn hóa. Ấn tượng đầu tiên của tôi về vùng đất này lại không phải là cảnh sắc, mà chính là vị Chủ tịch xã trẻ tuổi ấy. Ở anh toát lên một nguồn năng lượng mạnh mẽ và tình yêu rõ rệt dành cho đất và người nơi đây qua từng lời nói. Điều đáng nói là anh vốn là người thành phố, mới lên nhận công tác chưa đầy mười tháng, chính xác là chín tháng hai mươi sáu ngày, như anh vui vẻ nói với chúng tôi.
Theo chủ trương tổ chức chính quyền hai cấp, anh Phan Văn Đại được điều động từ vị trí Trưởng phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa về giữ chức Chủ tịch xã Thiên Phủ mới. Chỉ hơn mười ngày trước thời điểm chính thức sáp nhập (1-7-2025), anh nhận quyết định và lập tức lên địa bàn để nắm bắt tình hình. Không chọn ở lại nhà nghỉ của ủy ban, anh xuống ở ngay trong những ngôi nhà sàn cùng bà con các bản. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, anh đã đi qua hầu hết các bản làng, gặp gỡ và trò chuyện với người dân.
Trong buổi đón tiếp, anh Đại chia sẻ với chúng tôi: “Ở Thiên Phủ, người Kinh chỉ chiếm khoảng 10%, trong khi dân tộc Thái chiếm gần 60% và dân tộc Mường khoảng 30%. Dù khác nhau về thành phần dân tộc, bà con nơi đây luôn đoàn kết, gắn bó với nhau. Diện tích tự nhiên của xã có tới 90% là rừng, vì vậy bên cạnh thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn. Bù lại, môi trường sống ở đây rất trong lành, không khí giàu oxy, đúng như một lá phổi xanh”.
Về sinh kế, Thiên Phủ vẫn là một địa bàn còn nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân đầu người năm 2025 mới chỉ đạt 34,71 triệu đồng mỗi năm. Tuy vậy, theo anh Phan Văn Đại, nếu nhìn ở những chỉ số như mức độ hạnh phúc hay đời sống tinh thần thì Thiên Phủ lại không hề nghèo. Chỉ số hạnh phúc ấy thể hiện qua nhịp sống yên bình, niềm tin giữa con người với con người và sự gắn kết bền chặt trong cộng đồng.
Thiên Phủ sở hữu hệ thống hang động còn khá hoang sơ, tiêu biểu là hang Nàng Mọn với vẻ đẹp kỳ ảo. Nhưng có lẽ giá trị lớn nhất của vùng đất này chính là hệ sinh thái rừng, bao gồm cả rừng đặc dụng lẫn rừng sản xuất. Xã định hướng quảng bá “văn hóa tre luồng” như một bản sắc riêng trong phát triển du lịch. Cây luồng gắn bó với người dân nơi đây từ lúc sinh ra cho đến khi qua đời, hiện diện trong đời sống sinh hoạt, trong sinh kế, trong bữa ăn hàng ngày; và khi mất đi, người ta lại được khiêng trên những thanh luồng để đưa vào rừng chôn cất. Cả một vòng đời của con người gắn liền với loài cây ấy. Vì thế, phát triển du lịch ở Thiên Phủ không chỉ đơn thuần là khai thác cảnh quan, mà còn là kể lại những câu chuyện của đời sống và văn hóa bản địa.
Hiện nay, Thiên Phủ xác định ba khu vực trọng điểm để phát triển du lịch cộng đồng, gồm bản Lở với hệ thống nhà sàn lưu trú, bản Bất với hang động, và bản Lớt Dồi với nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Đồng thời, xã cũng chú trọng nâng cao giá trị các sản vật tự nhiên và phát triển những mô hình kinh tế sạch như nuôi lợn đen, vịt cổ xanh, nuôi dúi, trồng quế, mắc ca và thử nghiệm cây cà phê. Bên cạnh đó là phát triển các nghề thủ công như đan lát, mây tre.
Dù buổi chiều còn bận họp, và khi kết thúc buổi tiếp đoàn thì đã hơn mười giờ rưỡi sáng, anh Phan Văn Đại vẫn quyết định đi cùng chúng tôi vào bản Háng. Anh lên xe, và thật bất ngờ, suốt cả hành trình, anh gần như trở thành một hướng dẫn viên du lịch thực thụ. Chiếc xe lắc lư trên những đoạn đường đang thi công, anh một tay bám vào giá để hành lý, vừa giữ thăng bằng vừa say sưa giới thiệu từng địa điểm đoàn đi qua.
Con đường chạy qua các bản Hàm, Háng, Lớt Dồi dài hơn 9 kilomet với tổng vốn đầu tư khoảng 60 tỷ đồng đang được gấp rút thi công. Nhiều đoạn đang làm cống, kè bờ và hệ thống thoát nước; có đoạn đã được trải nhựa phẳng lì, nhưng cũng có đoạn vẫn còn dang dở. Không ít khúc cua gắt, ổ gà và nền đường lổn nhổn khiến chiếc xe hai chín chỗ của chúng tôi chao đảo liên tục. Ở những đoạn khó đi, Chủ tịch Đại lại xuống xe, ngồi sát mặt đường để quan sát bánh xe, căn góc rồi ra hiệu cho tài xế, chẳng khác nào một phụ xe lành nghề.
Ngồi trên xe, tôi đưa mắt nhìn qua ô cửa kính. Trước mắt là một màu xanh trải dài: những thửa ruộng bậc thang đang mùa trổ đòng; phía xa là màu xanh thẫm của núi rừng; hai bên đường là tre, luồng, chuối và cau đan xen nhau. Dưới chân đường, một con suối nhỏ róc rách chảy dọc theo triền dốc, vì thế nhiều đoạn phải được kè chắn cẩn thận. Dọc đường, những bãi tập kết luồng nằm rải rác, chờ xe thương lái tới chở đi. Những mái nhà sàn cũ kỹ lướt qua khung cửa kính, người dân hai bên đường dừng tay, nhìn theo đoàn xe bằng ánh mắt vừa tò mò vừa thân thiện.
Giữa hành trình, anh Đại hào hứng chỉ cho chúng tôi một vị trí mà một đoàn nhà đầu tư từ Hà Nội từng đến khảo sát để phát triển dự án nghỉ dưỡng. Cả đoàn không khỏi ồ lên khi nhìn xuống phía dưới: một không gian khoáng đạt của núi rừng mở ra, bên dưới là những thửa ruộng bậc thang trải dài mướt mát, cạnh đó là dòng suối nhỏ uốn quanh. Một nơi mà con người dường như có thể hòa mình trọn vẹn vào thiên nhiên hoang sơ.
Nếu dự án ấy thành hiện thực, tôi tin đây sẽ là một cú hích quan trọng, một điểm khởi đầu, một “thỏi nam châm” thu hút thêm nhiều dòng đầu tư tiếp theo. Tôi chợt nghĩ đến Pù Luông: cũng từng bắt đầu từ những homestay nhỏ lẻ, rồi dần được đánh thức mạnh mẽ hơn khi Pù Luông Retreat xuất hiện ở bản Đôn hơn mười năm trước. Và hôm nay, Pù Luông đã trở thành một điểm sáng trên bản đồ du lịch xứ Thanh cũng như của cả nước, với hàng chục khu nghỉ dưỡng lớn nhỏ mọc lên giữa núi rừng. Mọi sự đều có một khởi đầu, và ở Thiên Phủ, tôi đang nhìn thấy một khởi đầu đầy tiềm năng như thế.
Đoàn chúng tôi dừng chân tại làng nghề dệt thổ cẩm ở bản Lớt Dồi. Những tấm vải nơi đây được dệt hoàn toàn thủ công, mang hoa văn truyền thống của người Thái. Một chiếc khăn đẹp phải mất gần cả ngày mới hoàn thành, vậy mà giá chỉ khoảng 150 nghìn đồng. Có chị trong đoàn mang chiếc khăn ấy ra chợ Na Mèo, một người phụ nữ dân tộc cầm lên ngắm rất lâu rồi khẽ nói: “Đây là hoa văn của dân tộc tôi, hiếm lắm mới thấy”. Có lẽ đó chính là cách mà giá trị văn hóa lan tỏa qua du lịch, tự nhiên, chân thật và đầy tự hào.
Khi đoàn chúng tôi rời đi, bà con đứng thành một hàng dài trong những bộ trang phục truyền thống rực rỡ sắc màu để vẫy tay chào. Nhà văn Phong Điệp nhoài người ra phía cửa kính, cố giơ điện thoại chụp ảnh, miệng không ngớt thốt lên: “Đẹp quá, đẹp quá…”. Cái đẹp ở đây không chỉ nằm ở cảnh sắc, mà còn ở những con người chân thành, hiếu khách, đang đón những bước chân đầu tiên của du lịch cộng đồng.
Điều đáng tiếc là do trời mưa, nước sông dâng cao nên kế hoạch tham quan hang Nàng Mọn của chúng tôi đành phải bỏ lỡ. Tôi cứ tiếc mãi trong lòng vì chưa thể hình dung vẻ đẹp của hang động này ra sao, trong khi đây lại là một trong những điểm được xã định hướng phát triển du lịch trọng tâm.
Khi anh Đại có chút thời gian rảnh giữa vòng vây trò chuyện của mọi người, tôi đem điều ấy ra hỏi. Anh liền giới thiệu cho tôi trang Facebook “Du lịch cộng đồng xã Thiên Phủ - tỉnh Thanh Hóa”. Lướt qua những bài đăng, tôi không khỏi thích thú. Từ chợ phiên vùng cao, đặc sản địa phương, hang động, vẻ đẹp của các thiếu nữ trong trang phục dân tộc đến những trải nghiệm đời sống bản địa đều được giới thiệu khá sinh động. Và nổi bật hơn cả vẫn là hang Nàng Mọn, với đoạn video ghi lại cảnh anh Đại cùng cán bộ địa phương mặc quần soóc, đi dép rọ, đội mũ cối trực tiếp khảo sát bên trong hang.
Con đường dẫn vào hang hiện ra giữa màu xanh um của rừng cây và những triền đá lởm chởm. Dọc đường, một dòng thác nhỏ từ trên cao đổ xuống, hòa vào con suối chảy men theo chân núi. Muốn vào tới hang phải leo dốc, có đoạn phải bám vào vách đá mà đi. Rồi bất ngờ, một cửa hang rộng mở hiện ra với mái vòm cao vút. Chui qua một ngách đá nhỏ, phía bên trong lại mở ra một không gian rộng lớn hơn nhiều. Đặc biệt nhất là dòng suối nhỏ chảy xuyên trong lòng hang, nước chỉ ngập quá mắt cá chân. Đây là một hang nước mang vẻ đẹp của thạch nhũ, mát lạnh và hoang sơ, hẳn sẽ trở thành một trải nghiệm đặc sắc đối với những du khách ưa khám phá.
Nếu là người yêu thích khám phá, thì bằng trải nghiệm của mình qua nhiều vùng đất, tôi có thể nói rằng Thiên Phủ đang ở vào thời điểm đáng để ghé đến nhất: cái thời điểm mọi thứ còn chập chững, còn bỡ ngỡ trước khi du lịch thực sự đi vào nề nếp. Bởi vẻ đẹp sơ khai ấy chỉ xuất hiện một lần duy nhất, và đôi khi, chính điều đó mới là điều đáng giá nhất của một hành trình.
Trên đường trở ra, khi xe gần tới đầu đường, cả đoàn bất ngờ dừng lại rồi đi bộ ngược lên một con dốc dài chừng hai trăm mét. Đoạn dốc không dài nhưng cũng đủ khiến nhiều chị em trong đoàn phải thở dốc. Và rồi, ở cuối con đường ấy, một khung cảnh mở ra khiến tất cả gần như quên mất mệt.
Mộc Trà - Suối On hiện ra bên hồ nước, vẫn còn đang trong giai đoạn hoàn thiện. Những bậc đá dẫn lên căn nhà gỗ mái tranh tựa lưng vào vách núi, phía trước mở ra cánh đồng ruộng bậc thang rộng mênh mông và màu xanh ngắt của núi rừng. Mây trắng bảng lảng vờn trên sườn núi. Xa xa, một căn nhà sàn nhỏ nép mình dưới chân núi phía bên kia cánh đồng. Khung cảnh vừa đẹp, vừa hoang sơ, lại ngập tràn màu xanh đến mức chỉ cần đứng đó, hít một hơi thật sâu cũng thấy lòng mình như được mở rộng.
Bữa trưa được dọn ra trên chiếc bàn phủ khăn thổ cẩm. Những món ăn mang đậm hương vị miền núi: dế mèn rang, nhái chiên, cá chép giòn, vịt cổ xanh luộc chấm muối mắc khén cùng đủ loại rau rừng và củ quả địa phương. Giữa buổi trưa mát dịu với chút mưa bụi lấm tấm bay, những chén rượu men lá chuyền tay cùng những câu chuyện rôm rả khiến không khí đoàn văn nghệ sĩ trở nên cởi mở và gần gũi hơn hẳn.
Chia tay anh Phan Văn Đại, đoàn chúng tôi tiếp tục di chuyển tới khu nhà sàn du lịch cộng đồng ở bản Lở. Nơi đây có 34 căn nhà sàn được xây dựng để tái định cư cho những hộ dân sống trong khu vực có nguy cơ sạt lở cao. Mỗi căn rộng khoảng 300 mét vuông, gồm nhà sàn chính cùng các công trình phụ trợ đi kèm. Phải nói rằng những căn nhà sàn ở đây rất đẹp. Những cột gỗ lớn, chắc khỏe nâng đỡ toàn bộ ngôi nhà; hệ thống cửa, rui mè và mái được ghép bằng những thanh nẹp ngang dọc vừa tạo sự vững chãi vừa giữ được độ thông thoáng. Trước sân mỗi căn nhà là hàng rào làm từ những thanh luồng cao thấp đan xen, trang trí bằng họa tiết hai hình thoi lồng vào nhau. Không gian dưới gầm sàn rộng rãi, kê sẵn bàn ghế để du khách ngồi trò chuyện, nghỉ chân. Những e ngại ban đầu của tôi về cơ sở lưu trú ở nơi này gần như tan biến. Với số lượng nhà sàn như vậy, mỗi căn có thể đón hơn mười khách, nên việc tiếp nhận các đoàn đông người không còn là vấn đề quá khó khăn.
Tôi háo hức chờ buổi chiều để thật sự trải nghiệm các hoạt động du lịch cộng đồng nơi đây. Đoàn được chia làm hai nhóm: một nửa chạy xe máy dọc theo sông Luồng vào bản Bâu, số còn lại ra suối quăng chài bắt cá. Mọi người đùa rằng bữa tối có gì ăn hay không đều trông cậy vào “đoàn đánh cá”, trách nhiệm nặng nề lắm. Nhưng nhóm ấy lại biến cái “nặng nề” thành nhẹ tênh và đáng ghen tị, bởi sáng hôm sau chúng tôi được xem những bức ảnh họ chụp bên ruộng lúa và dòng sông đẹp mê mẩn dưới ống kính của nhiếp ảnh gia Nguyễn Hồng Thủy. Còn cá suối thì đã có trai bản lo rồi.
Nhóm khám phá của chúng tôi có một người địa phương dẫn đường, còn lại đều là những tay lái khá cứng để chạy quãng đường khoảng 6 kilomet tới điểm cuối là bản Bâu. Con đường men theo sông Luồng trong buổi chiều muộn mát rượi, phủ đầy màu xanh, là một trải nghiệm khiến tôi phải thốt lên “wow” không biết bao nhiêu lần. Sông suối, núi non, rừng cây và mây trời quấn quýt vào nhau, tạo nên vô vàn góc nhìn đẹp mê mải, đến mức xe máy cứ đi một đoạn lại phải dừng để chụp hình.
Phải nói rằng cái không khí nguyên sơ ấy thật đáng giá. Tôi cứ tranh thủ hít căng lồng ngực thứ không khí mát lành ấy. Nghĩ đến những ngày bụi mịn phủ kín thành phố, khói xe ken đặc trên những con đường ùn tắc giờ cao điểm, sự chật chội và ngột ngạt của phố xá, thì cảm giác thênh thang chạy xe giữa cung đường xanh mát này mang lại một niềm vui rất khác. Có lẽ đó chính là thứ “chỉ số hạnh phúc” mà anh Phan Văn Đại từng nhắc tới, cảm giác của những buổi chiều hoàng hôn lướt qua các bản làng mà anh đã trải qua và kể lại cho chúng tôi nghe.
Muốn vào bản Bâu phải đi qua một cây cầu treo bằng sắt. Đây có lẽ là điểm ngắm cảnh đẹp nhất trên cả cung đường. Chiếc cầu treo lơ lửng phía trên dòng sông Luồng đang cuộn đỏ phù sa sau mưa; phía xa là mây trời bảng lảng và những dãy núi xanh nối tiếp nhau.
Trở về sau chuyến khám phá cung đường vào bản Bâu, chúng tôi may mắn bắt gặp những trai bản vẫn đang miệt mài đánh cá bên dòng suối gần khu nhà sàn cộng đồng ở bản Lở. Tôi sà xuống xem họ quăng chài rồi kéo lên những cá suối nhỏ cỡ ngón tay cái. Chiếc giỏ tre đã đầy lên với hàng trăm con cá bé xíu. Loại cá này chỉ cần đem chiên giòn là đã đủ ngon khỏi bàn. Nhìn cảnh ấy, tôi chợt nhận ra những hoạt động rất đỗi đời thường kia lại chính là điều mà du khách mong muốn được trải nghiệm nhất: tự tay quăng lưới, kéo cá, lội xuống dòng suối mát lạnh và cười vang lên giữa núi rừng. Có trải nghiệm nào gần gũi và đáng nhớ hơn thế?
Rồi may mắn lại mỉm cười với tôi thêm một lần nữa khi trở về khu nhà sàn cộng đồng bản Lở. Trước mắt tôi là một “dàn tiên nữ”, tôi chỉ biết gọi như vậy, gồm tám cô gái trong trang phục truyền thống của người Mông. Họ mặc chân váy đen dài, đeo dây bạc bên hông, áo đỏ dài tay, khăn thổ cẩm buộc ngang ngực và thắt lưng xanh lá bản lớn. Ai cũng xinh đẹp và đang chụp ảnh cùng đoàn của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh. Họ là đội văn nghệ từ các bản khác trong xã Thiên Phủ tới góp vui cho đêm giao lưu. Từ chiều, đội văn nghệ người Thái ở bản Lở cũng đã rộn ràng chuẩn bị trong những bộ trang phục thổ cẩm với áo trắng, váy đen thêu hoa văn dân tộc, cùng trống, chiêng và khua luống cho đêm hội.
Bữa tối được dọn dưới chân nhà sàn với hơn mười mẹt lớn. Trên mỗi mẹt là đủ món ăn bản địa bày trên lá chuối: xôi gói lá dong, bánh ú, gà nướng mắc khén, vịt luộc, măng rừng, cá suối và đặc biệt là món rau luộc giã trộn ăn kèm muối chấm ngon đến lạ. Người Quan Hóa có câu: “Ăn Thiên Phủ, ngủ Hiền Chung, lung tung Hiền Kiệt”, quả thật không sai. Những món ăn ở bản Lở đêm ấy hấp dẫn vô cùng sau một buổi chiều đầy trải nghiệm.
Rồi tất cả cùng hòa vào đêm Thiên Phủ rộn ràng với rượu men lá, ché rượu cần, điệu xòe Thái, hát khặp, tiếng khua luống và những vòng nhảy sạp tay trong tay. Tiếng cười nói hòa lẫn tiếng hát ngân vang giữa núi rừng cao vời vợi. Dưới ánh lửa bập bùng, đêm hội miền sơn cước như càng thêm say đắm. Cô gái Thái trong điệu xòe đẹp đến nao lòng, cô gái Mường trong điệu múa lúng liếng ánh mắt, khách và chủ hòa vào nhau trong niềm vui rộn ràng. Tiệc tan mà người ở lại vẫn còn lưu luyến chẳng muốn rời.
Ngày chúng tôi tới, Thiên Phủ như chiều lòng người khi cố giữ những cơn mưa lại cho đến tận đêm. Rồi khi mọi người đã yên vị trong những nếp nhà sàn, mưa mới ào xuống xối xả như trút nước. Nửa đêm về sáng, mưa vẫn rơi ràn rạt trên mái nhà sàn bản Lở. Trong bóng tối bảng lảng của núi rừng, tôi nằm nghe tiếng mưa, tiếng suối và cả những âm thanh còn sót lại của đêm xòe Thái dường như vẫn chưa tan hết đâu đó ngoài hiên nhà. Thiên Phủ lúc ấy không còn là một cái tên xa lạ trên bản đồ hay một vùng đất tôi đi qua trong một chuyến thực tế ngắn ngày nữa. Nó hiện lên bằng gương mặt những con người tôi đã gặp, bằng dòng sông Luồng đỏ nặng phù sa sau mưa, bằng những ruộng bậc thang xanh mướt dưới chân núi, bằng tiếng khua luống vang lên giữa đêm và cả vị men lá còn ấm nơi đầu môi.
Tôi chợt hiểu rằng điều đáng quý nhất ở Thiên Phủ có lẽ không nằm ở những gì quá khác biệt hay kỳ vĩ, mà nằm ở cái vẻ nguyên sơ và chân tình của một vùng đất vẫn còn đang ở buổi đầu mở cửa đón khách. Ở nơi ấy, người ta vẫn còn nhìn những đoàn khách lạ bằng ánh mắt háo hức, vẫn còn đứng thành hàng dài vẫy tay tiễn khách khi xe rời bản, vẫn còn giữ được nhịp sống chậm rãi giữa núi rừng xanh thẳm. Và biết đâu, nhiều năm sau, khi du lịch đã thực sự làm thay đổi vùng đất này, tôi sẽ còn nhớ nhất Thiên Phủ của những ngày đầu tiên ấy, một Thiên Phủ còn thơm mùi tre luồng mới chẻ, còn mờ hơi sương sau mưa núi, còn vang tiếng cười bên bếp lửa nhà sàn trong một đêm mưa cuối tháng tư.
L.N.S