Chùm bài: Về miền di sản - Bài 1: Không gian Hạc Thành - Hạc Phố (Du ký dự thi)
TRẦN HOÀNG MINH
Chùm bài: Về miền di sản
Du ký dự thi
Bài 1: Không gian Hạc Thành - Hạc Phố
Thanh Hoa thắng địa là đây
Rồng vờn hạt ngọc, hạc bay chân thành
(Ca dao)
Trung tâm hành chính tỉnh Thanh Hóa (trước Nghị quyết 60-NQ/TW năm 2025 với Dự thảo sắp xếp lại đơn vị hành chính cả nước) là thành phố Thanh Hóa. Hơn hai trăm năm trước, nơi đây là lỵ sở của trấn Thanh Hoa với cái tên đẹp sâu sắc: Thành Thọ Hạc, gọi tắt là Hạc Thành. Hạc là giống chim ăn nước, họ cò nhưng có vóc dáng to lớn, vừa uy nghiêm vừa kiêu hãnh với chiếc cổ cao, chân cao và đôi cánh sải dài bát ngát. Trong văn hóa dân gian, Hạc là biểu tượng của sự trường thọ, hiện thân của sự thanh cao và trí tuệ, là "nhất phẩm điểu" được đưa vào không gian thiêng thờ cúng.
Lịch sử về Hạc Thành, Hạc Phố khởi nguồn từ vị quân vương lập nên triều Nguyễn, Gia Long - Nguyễn Ánh. Sau khi lên ngôi (1802), định đô ở Phú Xuân (Huế bây giờ), sắp xếp chính trị ổn định, vua Gia Long về Thanh Hoa yết bái tổ tiên, tri ân cố thổ. Nhà vua truy tôn Nguyễn Kim là Triệu tổ Tĩnh Hoàng Đế, Gia Miêu ngoại trang được sắc phong "Quý Hương" (quê hương quý báu). Cũng trong chuyến đi này, bậc quân vương với tầm nhìn chiến lược đã bộc lộ ý đồ dời thành Tư Phố, sở lỵ của Thanh Hoa bấy giờ đóng ở Dương Xá, vị trí "thủ hiểm" đến vị trí thuận lợi cho giao lưu phát triển. Câu chuyện được phủ lên màn sương huyền thoại: Đêm ấy, tại Nguyên Miếu, nhà vua thao thức đến tận canh ba, ngài vừa chợp mắt, trong mơ màng ngài thấy một người mặt mũi khôi ngô, tay dài quá gối, mình hạc, vóc tiên, toàn thân mặc áo trắng muốt sụp lạy, tâu lên: "Biết bệ hạ đang trăn trở tìm địa điểm dời thành Tư Phố, thần Bạch Hạc phái tôi đến giúp bệ hạ việc này. Ngày mai, giữa giờ Thìn xin bệ hạ theo tôi định đất. Đó là nơi bền vững muôn đời, loạn có thể giữ, bình có thể trị, dẫu sau này có lần đổ nát nhưng sẽ hoàn lại như châu về Hợp Phố". Nhà vua toan hỏi thì người đó chẳng thấy đâu chỉ còn ánh hào quang trắng mềm mại tựa ánh trăng uyển chuyển bay qua rèm cửa. Nhà vua giật mình tỉnh giấc mới biết mình vừa qua một giấc chiêm bao. Nửa mừng nửa sợ nhà vua tự hỏi: Linh khí của núi sông này đã giúp ta tìm ra nơi trấn lỵ cho trấn Thanh Hoa chăng. Sáng hôm sau nhà vua kể lại chuyện trong giấc chiêm bao cho các cận thần, truyền lệnh sẵn sàng xe ngựa chờ Thần linh ứng. Nhà vua còn dặn giữa giờ Thìn hễ có người mặc áo trắng đến lập tức phải đón vào bái kiến. Chưa đến giờ Thìn các quan hầu cận đã dõi mắt nhìn những con đường dẫn đến Nguyên Miếu. Rồi giờ Thìn cũng tới, những lối mòn thấp thoáng trên rặng núi xa vẫn chẳng thấy bóng người. Đúng giữa giờ Thìn từ trên không trung vang vọng xuống tiếng chim lạ. Nhà vua cùng các quan ngửa mặt trông lên, một con chim hạc trắng to lớn khác thường bay lượn trước sân như có ý chờ. Nhà vua hiểu ra liền lên xe ngự giá. Chỉ chờ thế, chim hạc kêu to liền mấy tiếng rồi bay đi trước. Đến vùng đất có nhiều đầm nước xanh biếc, không gian rộng rãi thoáng đãng, chim hạc hạ cánh, quay đầu như có ý chào. Nhà vua chưa kịp đáp lời cảm tạ, chim hạc đã vụt bay đi, nhỏ dần, rồi biến mất. Nhà vua phóng tầm mắt bao quát cả một vùng, quả là nơi sơn thủy hữu tình, núi sông bày đặt trên đồng xôi ruộng mật. Bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc đều có long sơn long thủy, hổ phục hổ chầu. Đây chính là vùng đất mong đợi bấy lâu nay. Nhà vua vui mừng khôn xiết, ngài chỉ tay xuống đất dõng dạc bảo quần thần: Ta sẽ dựng thành ở chính nơi này. Tòa thành sẽ có tên là thành Thọ Hạc (Dẫn theo: Văn hóa dân gian và giai thoại vùng đất Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa). Thành Thọ Hạc được khởi công và hoàn thành ngay trong chính năm đó, năm Gia Long thứ 3, 1804. Hạc Thành hoàn thành nhanh chóng bởi ban đầu chỉ được đắp bằng đất. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), Thành mới được xây lại bằng gạch theo kiến trúc Vauban (hình lục lăng), loại hình kiến trúc cổ vừa là thành lũy quân sự vừa là trung tâm hành chính của tỉnh Thanh Hóa bấy giờ (vua Minh Mạng đã đổi trấn Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hóa). Thành có chu vi khoảng 400 trượng (gần 2km), diện tích lõi khoảng 15 - 16ha, cao khoảng một trượng (gần 4m), có 4 cửa chính (Tiền, Hậu, Tả, Hữu tương ứng với 4 hướng: Nam, Bắc, Đông, Tây) và hào sâu bọc quanh.
Hạc Thành hoàn thiện, kiên cố và xinh đẹp giữa phong cảnh nước non cẩm tú. Hiếm có trấn lỵ nào ở Việt Nam có hình án phong thủy lý tưởng như Hạc Thành: Phía Bắc là Thập cảnh Bàn A đẹp như dệt gấm thêu hoa: núi Đọ, núi Vồm, Bằng Trình, Hộ Sơn, Lương - Mã song phàm, Linh quy hí thủy…; Phía Đông Bắc là Ngũ Hoa Phong của dãy núi Rồng, núi Ngọc làm án; Sông Mã bao bọc phía Đông; Phía Nam là núi Kỳ Lân, núi Rồng, núi Hổ, núi Voi chầu về; Phía Tây là dãy An Hoạch với thế núi Nhuệ Sơn (mạnh mẽ, sắc nhọn) án ngữ. Huyệt mạch Hạc Thành "thông địa" ra bốn phương tám hướng. Sông Nhà Lê mà dân xứ Thanh quen gọi là kênh Nhà Lê, con sông nhân tạo có tuổi đời trên 1000 năm (khởi đào từ thế kỷ X từ kinh đô Hoa Lư vào đến Đèo Ngang). Vua Lê Đại Hành cho đào con sông làm tuyến đường vận chuyển và giao thương nội địa, con sông có công lớn trong những lần vận chuyển lương thực, khí giới phục vụ cho các cuộc chinh phạt Chiêm Thành. Trong kháng chiến chống Mỹ, con sông một lần nữa tái lập nhiệm vụ này, tiếp tế lương thảo, vũ khí cho miền Nam. Điều thú vị là, sông Nhà Lê khi về đến Thanh Hóa thì được gọi là kênh Lê, xuôi đến Thành Hạc thì long hóa thành phượng với rất nhiều nhánh, len lỏi khắp thành vừa cung cấp nước, vừa làm mát cho trấn thành một cách tự nhiên. Đoạn nào chảy qua địa danh nào thì mang tên địa danh ấy: đoạn qua làng Son gọi là kênh Son, qua Bố Vệ gọi là kênh Bố Vệ, qua cầu Hạc gọi là kênh Hạc, kênh Cầu Cốc, kênh Lai Thành, kênh Vị, kênh Cầu Đống, v.v...
Bảng nhãn Phạm Thanh (1820-1863), một người con của xứ Thanh (người làng Hải Yên nay thuộc phường Nghi Sơn), danh sĩ và đại thần thời Nguyễn đã mượn bài thơ tiễn bạn từ Huế ra nhậm chức Án sát Thanh Hóa để bộc lộ niềm tự hào về Hạc Thành, linh hồn của quê hương xứ sở:
Phiên âm:
Long Hạm phong kỳ, Mã thủy thanh
Lâm phong tương tống phiếm phàm khinh
Du nhân khước hữu tư gia mộng
Dạ dạ tòng quân đáo Hạc Thành.
Dịch thơ:
Sông Mã trong xanh, biếc núi Rồng,
Buồm đi gió tiễn nhẹ xuôi dòng.
Nhớ quê tôi có về trong mộng
Thành Hạc đêm dài, bác thấy không?
(Hoàng Tuấn Phổ dịch)
Lão thi bá Tản Đà qua Thanh ấn tượng với cảnh Hàm Rồng, cửa ngõ của Hạc Thành, Hạc Phố xưa mà hai lần cất bút: “Qua cầu Hàm Rồng hứng bút” và “Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng”. Thi nhân nhớ thắng cảnh Hàm Rồng như nhớ "người cũ", ám ảnh, khắc khoải, khôn khuây:
Ai xui ta nhớ Hàm Rồng
Muốn trông chẳng thấy cho lòng khôn khuây.
Thắng cảnh Hàm Rồng hội tụ quấn quýt long sơn, long thủy hùng vĩ và hữu tình đến nỗi, thi nhân phải cầu đến cả Sơn Tinh và Hà Bá, mong các vị "giảng hòa" cho, cởi bỏ mối "hiềm khích" xưa mà giữ nguyên phong cảnh núi sông trùng phùng hiếm có này:
Sơn Tinh, Hà Bá hay cùng
Giữ nguyên phong cảnh Hàm Rồng đợi ta
(Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng)
Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (quê Ứng Bạt, Hà Đông cũ), từng thi đỗ cử nhân ở Thanh Hóa, say mê cảnh đẹp xứ Thanh đến nỗi chọn núi Nưa làm nơi ở ẩn. Ông có nhiều bài thơ ca ngợi con người và cảnh đẹp xứ Thanh. Khi Hạc Thành bị Pháp chiếm đóng, ông có bài "Hạc Thành xuân vọng" bộc lộ nỗi đau xót khi thấy cờ Tây bay trong trấn thành "chốn Quý hương". Ông cũng là người đầu tiên ghi nhận sự sầm uất "trong thành ngoài phố" của Hạc Thành và dấu hiệu đô thị hiện đại của Thành Hạc bắt đầu từ cách gọi rất "Tây" này: “Hạc Phố thư lai trần dục ám/ Huyền Lâu kiếm trụy nguyệt cô minh” (Hạc Phố thư về màu bụi ám/ Lầu Huyền kiếm rụng, ánh trăng đơn) (Thư Hoài).
Thành Hạc xưa, nay chỉ còn những cái tên gợi dấu tích: Cửa Tiền, Cửa Hậu, Cửa Tả, Cửa Hữu, Phố Cột Cờ, Hồ Mái Đèn, Bến Ngự… nhưng không gian Hạc Thành - Hạc Phố thì vẫn đây. Đến Hạc Thành - Hạc Phố bây giờ là thăm cả một vùng không gian rộng lớn. Người đi xa về hay khách tỉnh ngoài đến dễ dàng nhận ra biểu tượng nhận diện xứ Thanh trên khắp mọi ngả đường, con phố, chính là hình ảnh chim hạc. Ấn tượng đầu tiên chính là "ổ" chim hạc khổng lồ hướng lên "viên ngọc" là quả cầu ánh sáng rực rỡ ở ngã năm kết nối trung tâm hành chính cũ và mới. Rẽ sang hướng Bắc là phường Hàm Rồng. Nơi đây là cụm di tích lịch sử - văn hóa - danh thắng thiêng liêng của Thanh Hóa, của Việt Nam và thu hút cả sự quan tâm của thế giới. Nơi đây bên bờ sông Mã đã phát hiện ra chiếc trống đồng Đông Sơn đầu tiên, biểu tượng của nền văn minh Đông Sơn rực rỡ; Thành Tư Phố đóng trên đất Dương Xá, quê hương của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (Dương Diên Nghệ), người đã khôi phục nền tự chủ cho đất nước Vạn Xuân sau thời kỳ Bắc thuộc. Cạnh làng Giàng là làng Vồm, nơi có chùa Vồm với tượng phật A Di Đà cao khoảng 6 mét tạc trực tiếp vào vách đá tự nhiên, từ thế kỷ XV. Làng Vồm có nghề gốm cổ đến mức, nhìn những dụng cụ sinh hoạt như nồi đất, vại muối cà, chậu đựng nước thô mộc nặn từ đất sét móc từ bờ bãi sông Mã, sông Lương có cảm giác như họ đã nặn những đồ dùng này từ thời tiền sử. Thành ngữ Thanh Hóa có câu "Đít làng Vồm, mồm làng Trịnh". Thành ngữ này có xuất xứ chắc là xa xưa lắm, so sánh sự chua ngoa, lắm lời, lắm triết lý của "mồm" dân làng Trịnh, một trong bốn làng của Tứ Bôn lừng lẫy với cái mông "vĩ đại" của người làng Vồm. Dân làng Vồm ngồi suốt ngày ngào đất, nặn nồi, tư thế ấy truyền từ đời ông sang đời cha, đời con sang đời cháu, chắt, chút, chít tạo nên cái vóc dáng trứ danh: cái mông ngồi nhiều đến mức bành ra to quá khổ! Thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước vẫn thấy hàng dài những chiếc xe thồ chở nồi đất bán khắp chợ cùng quê, nhất là vào dịp tết, nhu cầu dùng nhiều, những chiếc xe thồ ngất ngưởng lớp lớp hàng trăm chiếc nồi đất đủ loại, cồng kềnh mà ngay ngắn, chắc chắn mà mong manh, lang thang khắp mọi xóm quê. Làng Vồm giờ không nặn nồi vì không còn nguồn tiêu thụ. Tuy nhiên, gần đây, phong cách "cơm niêu", cá kho trã đất, gà nướng trã đất ("trã" - từ cổ của Thanh Hóa chỉ nồi đất) đang thu hút sự tò mò của thực khách mong muốn cảm nhận lại "hồn quê" khiến cho nghề nặn nồi có cơ tái xuất tuy khiêm tốn. Giá như, làng Vồm trong địa chỉ quy hoạch du lịch Hàm Rồng - sông Mã tài trợ cho một số gia đình giữ nghề nặn nồi đất, vừa cung cấp sản phẩm cho các nhà hàng, nhưng mục đích chính là để khách tham quan một nghề cổ xưa nổi tiếng (như cách bảo tồn nghề dệt đũi Hồng Đô, Thiệu Hóa), giúp cho tour khám phá này trở nên thú vị, hấp dẫn hơn.
Trở ra với núi Rồng - sông Mã, cách chân núi Rồng khoảng vài trăm mét là cửa sông Nhà Lê, nhánh chảy qua cầu Cốc đổ ra sông Mã. Khi có Hạc Thành - Hạc Phố, nhánh sông này trở thành nhánh sông đô hội, thuyền bè ra vào tấp nập, cư dân san sát. Nhánh sông này tạo ra Bến Ngự (nơi thuyền rồng của vua dừng chân neo đậu) mỗi khi về thăm cố thổ, bái yết tiên tổ hoặc trong các chuyến tuần du ra Bắc. Như vậy, song song với Bến Ngự xứ Huế còn có Bến Ngự xứ Thanh. Xung quanh Bến Ngự là những khu phố sầm uất như kinh kỳ. Các nhà buôn đến đổ hàng, lấy hàng, tao nhân mặc khách đến Hạc Thành, Hạc Phố cũng nườm nượp, Bến Ngự hàng trăm năm trước nổi tiếng ăn chơi. Các cuộc hát thâu đêm, hàng quán phục vụ tấp nập. Dấu tích một thời ấy vẫn hiện hữu đâu đây qua tiếng đàn đáy, chuỗi âm thanh gieo xuống như chuỗi ngọc của ca nương trong câu lạc bộ ca trù; qua tiếng rao những thức quà xưa: “Ai bánh hú đơi, Ai bánh dì đơi, Ai ngô bung đơi, Ai xôi nóng đơi, Ai bún chả đơi” và cả: “Ai ốc mút đơi…” Âm "ơi" kéo dài quẩn trong những ngõ hẹp ngoằn ngoèo như sợi tơ vô hình nối liền quá khứ với hiện tại.
Những năm gần đây, Trung tâm phát triển du lịch sông Mã (Hoàng Long Tourism) đã khai thác tour du lịch trên sông xuất phát từ bến Hàm Rồng ngược lên Ngã Ba Bông khoảng 6 cây số, đây là quãng đường sông rất đẹp. Sông Mã hạ nguồn rộng mênh mông, uốn lượn mềm mại men theo dáng uốn lượn của núi Rồng 99 khúc. Bên kia là bờ bãi xanh mướt ruộng mía, bãi ngô. Vào tiết thu, những triền hoa cải vàng rực rỡ như miền cổ tích. Giống cải Lê gieo ở triền bãi sông Mã muối dưa ăn giòn, ngọt, thơm vị cay nồng, ăn một lần nhớ mãi. Để khám phá cho hết tò mò phần phía Bắc Hạc Thành có lẽ cũng phải dăm ba ngày. Ban ngày thì lang thang chiêm ngưỡng cảnh quan núi Rồng, vào động Núi Rồng, lên động Mắt Rồng, vào chiêm bái không gian Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng, gần đó có đồi C4 anh hùng đơn vị pháo cao xạ bảo vệ cầu Hàm Rồng trong kháng chiến chống Mỹ. Khi xuống núi, có thể thả bộ vào ngõ Nhân, ngõ Trí ngắm những bức tường rêu phong trong làng cổ Đông Sơn, ghé thăm chùa Thông thả hồn vào không gian thanh tĩnh, trong trẻo của ngôi chùa cổ có niên đại hàng trăm năm.
Hãy dành một ngày để ngồi đò dọc trên sông Mã. Các hóp đò đã mời khách đò lên thuyền rồi:
Cầu lim, ván táu, song sào
Rửa chân cho sạch ta vào trong khoang.
*
Thuyền tôi ván táu sạp lim
Đôi mạn săng lẻ có con chim phượng hoàng
Tiện đây mời cả bạn hàng
Rửa chân cho sạch vào khoang ta ngồi.
Vào cái thời đường sông còn tấp nập vì là phương tiện giao thông chính cho những tuyến đường xa và chở nặng thì sông Mã là tuyến giao thương huyết mạch nối miền xuôi và miền ngược xứ Thanh. Nghề đò dọc tuy vất vả nhưng cũng là nghề hái ra tiền: "Trên trời biết mấy ông sao/ Ở dưới sông Mã biết bao nhiêu thuyền". Trai đò dọc (hóp đò) khỏe mạnh, đẹp đẽ từ vóc dáng lẫn tâm hồn. Đã có biết bao nhiêu cô nàng buôn chuyến mê trai đò dọc đến thảng thốt: "Bóng trăng em ngỡ bóng đèn/ Bóng nước em ngỡ bóng thuyền anh xuôi". Trai đò cũng thế, phải lòng mặt nhau:
Vắng cơm một bữa chẳng sao
Vắng em một bữa lao đao cả ngày
Vắng em chỉ một phiên đò
Trầu ăn chẳng có chuyện đò thì không.
Tuy không phải là hình ảnh chiếc đò dọc "ván táu, song sào" xưa nhưng sẽ được "ngự" trên "thuyền rồng" với đủ tiện nghi. Đặc biệt, du khách sẽ được thưởng thức gió sông Mã thênh thang mát rượi, nếu là buổi chiều con nước lên, gió từ biển còn mang theo hương vị mặn mòi của biển. Du khách sẽ được Tour guide hướng dẫn làm hóp đò cùng "khách nhà đò" "dô khoan dô huầy" ngược bến. Chuyến ngược đò ấy dài khoảng 6km lên đến Ngã Ba Bông, nơi "một tiếng gà gáy sáu huyện cùng nghe". Tại ngã ba sông đặc biệt này, du khách sẽ ghé thăm đền Cô Bơ, thánh nữ được dân gian gọi bằng nhiều tên khác vừa yêu thương vừa ngưỡng vọng: Cô Ba Thoải Cung, Cô Bơ Thoải Phủ, Cô Bơ Bông, Cô Bơ Hàn Sơn, Cô Bơ Thác Hàn. Theo truyền thuyết khi Lê Lợi bị giặc Minh truy lùng chạy đến Thác Hàn, khi ấy bốn bề um tùm lau sậy, sông nước mênh mang. Bỗng xuất hiện một thiếu nữ trẻ đang trỉa ngô (dân gian cho rằng nàng là con gái vua Thủy Tề được vua cha sai lên giúp Lê Lợi), thiếu nữ đã chỉ thuyền cho Lê Lợi sang sông an toàn còn mình ở lại cắt đuôi quân giặc. Khi đất nước thái bình, Lê Lợi lên ngôi, hoàng đế cho tìm cô gái để tạ ơn thì được biết cô đã bị quân Minh sát hại. Thương tiếc và ghi nhớ công ơn người con gái tiết liệt, nhà vua cho lập đền thờ trên bãi sông ấy. Sau nhiều lần trùng tu, đền thờ Cô Bơ Thoải trở thành địa chỉ tín ngưỡng tôn nghiêm, trong quần thể tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội đền Hàn. Điểm độc đáo nhất trong không gian thờ tự là hoa dâng lên toàn hoa trắng để biểu tượng cho sự thanh cao, trinh bạch, cũng đại diện cho sự trong sáng như ngọc của Thoải phủ (cõi nước). Trong tâm thức dân gian, Cô Bơ Thoải phủ trở thành hình ảnh nữ thần cứu độ chúng sinh, hiển linh độ trì cho thuyền bè và dân lành bình an. Đền thờ cô không chỉ đông vui, tấp nập trong dịp chính lễ 12-6 (âm lịch) mà hầu như tất cả mọi ngày, rất nhiều "giá Đồng" của con nhang đệ tử và du khách thập phương tới chiêm bái cầu bình an, cầu duyên lành, cầu sức khỏe, hạnh phúc.
Khu vực phía Tây Hạc Thành cũ nay thuộc phường Đông Quang cũng là một quần thể danh thắng đặc sắc. Dãy An Hoạch nổi tiếng với núi An Khánh còn gọi núi Nhuệ (thế núi mạnh mẽ, sắc bén) và tên nôm là núi Khế. Cái tên quen thuộc nhất, nôm nhất là núi Nhồi (phát âm trệch từ Nhuệ sang Nhồi), gắn với núi là làng Nhuệ tức làng Nhồi. Núi Nhồi không chỉ có thế núi đẹp mà còn cất thứ đá quý như vàng, hơn vàng là thứ đá xanh màu khói nhạt, "sắc óng ánh như ngọc lam" có kết cấu mịn, dẻo dai, gõ vào âm thanh ngân vang như chuông (Cờ Y Xá, đá núi Nhồi). Đá xanh núi Nhồi có thể dùng làm khánh, hiện vẫn còn chiếc khánh đá cổ được chế tác từ đá núi Nhồi treo ở Nghè Vẹt (Vĩnh Lộc). Nếu lên Nghè Vẹt hãy nghe tiếng khánh đá này một lần, âm thanh khánh đá không sắc đanh, giòn như tiếng kim loại mà thanh ngân dịu dàng, vang mà trong, hòa vào không gian dịu êm, sâu lắng. Đá xanh núi Nhồi được tuyển chọn làm bia, tạc tượng và các linh vật trong đền đài lăng tẩm với độ bền vĩnh cửu. Nhiều khối đá xanh quý từ núi Nhồi đã được các nghệ nhân tuyển chọn vào các hạng mục quan trọng tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghề đục đá làng Nhồi đã có từ hàng nghìn năm: “Lấy anh thì lấy cho rồi/ Để về đục đá núi Nhồi kiếm ăn” (Ca dao). Ban đầu là đục các vật dụng cho sinh hoạt hàng ngày: thống đá, chậu đá đựng nước, cối đá xay bột, cối giã gạo, con lăn,… rồi đến những vật tinh xảo hơn như: bia, khánh, bát hương, linh vật,... Thợ đục đá làng Nhồi đã góp tay vào xây dựng Thành Đá hơn 600 năm tuổi: “Hôm nay anh hát ở đây/ Ngày mai anh lại đi xây Thành Hồ” (Ca dao). Theo chân chúa Nguyễn đi mở đất phương Nam, nghệ nhân làng Nhồi đã đặt nền móng cho nghề đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng), gây dựng nên làng nghề đá Ninh Vân - Ninh Bình (ông tổ nghề là rể gốc làng Nhồi).
Trên đỉnh núi Nhồi có cột đá tự nhiên cao khoảng 20 mét với bút tích "Kiệt nhiên trung trĩ" (sừng sững giữa trời cao) (người đề tự và cho khắc là Tổng đốc Nguyễn Thuật, khắc năm 1890), cột đá nhìn xa hơi giống dáng người đàn bà chít khăn vuông, mặt ngoảnh ra hướng Đông gợi hình ảnh "nàng Vọng Phu". Lâu dần, người ta quen với hình ảnh "nàng Vọng Phu" hơn là hình ảnh "Kiệt nhiên trung trĩ"! Ở lưng chừng và dưới chân núi Nhồi có hai ngôi đền - chùa cổ nổi tiếng gắn với nghệ thuật điêu khắc đá đặc sắc của nghệ nhân làng Nhồi là đền Thượng và chùa Tiên Sơn (chùa Quan Thánh, chùa Hang). Sân đền Thượng là một "vườn" kiến trúc tượng được chế tác từ đá núi Nhồi. Các ông voi, ông ngựa, quan hầu, ông phỗng, đều được tạc từ thứ đá xanh khói nguyên khối, có vóc dáng to lớn như ngoài đời thực. Đáng kể là tất cả đều được chế tác tinh xảo, lột tả thần thái sống động: các ngài quan hầu đã có tuổi, râu dài bay phơ phất, vẻ mặt, thế đứng bộc lộ sự khiêm cung, trung thành; Ngược lại, hai "ông" voi còn trẻ với sống lưng nổi gờ lên khỏe khoắn khi nằm phủ phục, chiếc vòi "ngoan ngoãn" dưới cặp ngà và được cuộn lại giấu trong miệng, ánh mắt tuy hiền lành nhưng không giấu nét tinh nghịch như muốn chào khách ghé thăm: Xin chào, chúng tôi vẫn ở đây chờ mọi người! Hai tuấn mã được trang trí điệu nghệ với chiếc vòng lục lạc quanh cổ như tràng hoa và bộ yên cương trang trí cầu kỳ như phần thưởng cho những chuyến đi ngàn dặm. Vẻ bằng lòng của tuấn mã hiện qua đôi mắt tròn, hiền lành ẩn sau chiếc bờm được cắt xén cẩn thận. Thật hiếm có ngôi đền thờ nào mà tín ngưỡng được lồng trong niềm tự hào về nghề, thứ nghề đã nuôi sống dân làng, thứ nghề đã khiến làng trở nên nổi tiếng, nghề chế tác đá mà dân gian gọi nôm là nghề đục đá. Vào những ngày lễ tiết, người dân lên đền cầu bình an, giàu có, trẻ con đi theo sẽ được truyền niềm tự hào về làng nghề, về quê hương xứ sở. Phải chăng, đây là cách gìn giữ tinh hoa văn hóa cho muôn đời sau một cách gần gũi, tự nhiên nhất.
Cũng để lại dấu ấn trong nghệ thuật chế tác đá nhưng ở chùa Tiên Sơn (trên núi Khế) lại mang nét đặc sắc khác. Nếu cho rằng cái tên "Tiên Sơn" là trên núi có tiên (tiên đến tu) hoặc cảnh núi non đẹp như cõi tiên thì chùa Tiên Sơn dường như có cả hai đặc điểm ấy. Chùa tận dụng thế núi mà tạo hóa đã tạo ra một hang rộng như một căn phòng ấm cúng mà thoáng đãng với diện tích khoảng 20m2, chiều cao vòm khoảng hơn 3m (vì vậy chùa còn có tên nôm là chùa Hang). Cách đây mấy trăm năm, đó là nơi lý tưởng để đạo Tu tiên tìm đến. Trên vách trung tâm chùa là bức họa chạm sâu vào vách đá 5 vị (qua phục sức mũ áo) có lẽ là đạo sĩ đang đàm đạo. Ở bên ngoài cửa chùa (hay cửa hang) cũng có bức họa chạm khắc hình ảnh đạo sĩ với tư thế đang tìm đến, đang hướng về. Hai lính canh cũng không giống hình ảnh ông Ác, ông Thiện canh chùa mà phục sức và vũ khí giống với lính hầu. Và tất cả đều được khắc trên vách đá, tinh xảo và sống động. Nghệ thuật chạm khắc trên vách đá ở chùa Tiên Sơn cho thấy các nghệ nhân dân gian núi Nhồi đã đạt đến trình độ bậc thầy về trình độ mỹ thuật art petroglyphs - nghệ thuật tạo hình. Chùa Tiên Sơn còn có tên là chùa Quan Thánh (Quán Thánh Đế Quân), chính là danh tướng Quan Vũ. Song, nhân dân đã phối thờ cùng Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa như là cách ngầm tôn vinh vị tướng công của làng mình. Mãn Quận công cũng là một bậc kiệt hiệt, trung nghĩa. Từ trong sâu thẳm của niềm tự hào và ngưỡng mộ, Quận Mãn Lê Trung Nghĩa cũng đã trở thành "Quan Thánh" của quê mình. Với những nét đặc sắc từ cảnh quan đến giá trị tâm linh, tín ngưỡng, chùa Tiên Sơn thu hút nhiều tao nhân mặc khách đến ghé thăm. Trên vách núi xung quanh chùa, hơn một chục bài thơ với nét bút khắc sâu vào đá nên vẫn còn nguyên vẹn, phần lớn ngợi ca nơi tiên cảnh, thiên nhiên tao nhã, thanh tĩnh như chốn tiên. Chẳng hạn, bài của Trịnh Đức Nhuận kính soạn với học vị tiến sĩ và chức Thị lang tham gia biên soạn hoặc đề tựa, có những câu rất đẹp: Chính khí chiếu ngời, miếu thu truyền mãi; Cảnh đẹp dưới trời, bóng nắng hòa khói biếc; Dấu thiêng ngựa xích thố còn giữ khói hoang…
Trong quần thể thắng cảnh núi Nhồi còn một "bảo tàng" điêu khắc đá rực rỡ nữa là khu đền thờ và lăng mộ Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa, danh tướng triều Lê Trung Hưng. Ông là người con của làng Nhồi, bởi sự quan tâm và công đức của ông với quê hương, ông đã được nhân dân lập đền thờ khi còn tại thế. Khi ông mất, lăng mộ ông cũng được đặt tại quê hương. Nhân dân như muốn dồn tất cả lòng yêu kính của mình với người con ưu tú nên đã dành tặng ông một khu tưởng niệm bề thế: bốn đại bia ghi rõ công đức của ông với làng, với nước; hai ông hổ ngồi vẫn cao hơn người trưởng thành canh cổng, bên trong hai ông voi, hai ông ngựa đứng chầu, 12 quan hầu với giáp phục uy nghiêm ôm vũ khí sẵn sàng đợi lệnh. Chiếc ngai đá có đầu rồng (nhưng đã bị chặt cụt, nghe nói do quân Tây Sơn trả thù). Tất cả đều sống động, tinh xảo, kỹ càng và giống với kỹ thuật điêu khắc, chế tác ở đền Thượng. Cụm di tích kiến trúc đá này đến nay đã 300 tuổi vẫn hầu như nguyên vẹn, chỉ đáng tiếc là trong quá trình tôn tạo, việc nâng nền một cách đơn giản, những bệ đá để tôn thờ di vật bị lấp, làm mất đi tư thế kính ngưỡng. An Hoạch - Nhuệ Sơn không chỉ là kiệt tác thiên nhiên mà còn là kho báu mà tạo hóa ban tặng cho vùng đất này, cho xứ Thanh. Đến Hạc Thành - Hạc Phố mà chưa đến núi Nhồi - Nhuệ Sơn cũng coi như là còn khiếm khuyết vậy.
Mặt Nam và Đông Nam của Hạc Thành, Hạc Phố xưa cũng là một cụm danh sơn - thắng tích không kém phần đặc sắc. Giữa địa hình bằng phẳng nổi lên những ngọn núi đá với nhiều hình thù sinh động được gọi tên với đúng nghĩa đen của hình ảnh: núi Kỳ Lân, núi Long, núi Hổ, Núi Ngọc Nữ, núi Voi… Dưới chân núi Kỳ Lân là ngôi chùa Đại Bi (còn gọi là chùa Mật, gắn với núi Mật, tên gọi nôm của núi Kỳ Lân). Chữ "Đại bi" (大悲) mang ý nghĩa sự thương cảm, từ ái rộng lớn vô biên. Ngôi chùa do vua Lê Thần Tông khởi dựng năm 1619 khi ngài về trấn Thanh Hoa, ngưỡng mộ trước kỳ sơn cẩm tú của chốn quê, ngài đã cho dựng ngôi chùa xinh đẹp dưới chân núi Kỳ Lân. Ngài còn chọn ngôi chùa này để đặt Thượng sàng hạ mộ của mình cùng các bà phi khi ngài về với tiên tổ. Vì điều này, đây cũng là ngôi chùa độc lạ nhất Việt Nam, khi cùng phối thờ: thờ Phật và thờ Vua trong cùng một không gian thờ tự. Ngài và các phi của ngài muốn trở thành "phật tử" ở chốn vĩnh hằng chăng hay ngài gửi gắm niềm mong mỏi thiện lương tới muôn dân? Đến đây, ai cũng được chở che, ai cũng được cảm thông, xót thương dưới lòng từ bi của phật pháp? Hành hương chùa Đại Bi bây giờ, liệu mấy ai biết được chuyện xưa tích cũ, hiểu được dụng ý của người xưa?
Có lẽ cũng vì cảnh quan thiên nhiên kỳ thú cộng với sự gắn kết vô hình với núi Kỳ Lân, chùa Đại Bi, vua Gia Long đã chọn đất Bố Vệ để chuyển Thái Miếu Nhà Lê về ngự ở đây. Thái Miếu Nhà Lê nơi thờ 27 vị vua triều Hậu Lê và các bậc khai quốc công thần như Nguyễn Trãi, Lê Lai đã trở thành di tích đặc biệt cấp quốc gia, là nơi đi về kính ngưỡng của bao con dân Việt Nam trên khắp mọi nẻo đường Tổ quốc.
Thanh Hóa (清化), với ý nghĩa sâu sắc mà vua Lý Thái Tông ban tặng: vùng đất thanh tú, đẹp đẽ (thiên nhiên), chính trực, thanh cao (con người), sẽ là vùng đất của kỷ cương, bình yên, thịnh vượng. Cái tên ấy đã đi vào lịch sử dân tộc với tầm chót vót nhất của ý nghĩa, trở thành đất "Thang Mộc", đất "Quý Hương".
Hạc Thành - Hạc Phố trái tim của Thanh Hóa từ hơn hai trăm năm trước, trái tim ấy vẫn giữ nhịp đập mạnh mẽ trong một cơ thể ngày càng cường tráng, rắn rỏi, khổng lồ!
Tháng 5-2026
T.H.M
(*) Tất cả các ý này là quan điểm của nhà địa phương học H.Le Breton trong cuốn "Thanh Hóa tươi đẹp", bản dịch của Nguyễn Xuân Dương - Lâm Phúc Giáp, (2022), NXB Thanh Hóa.