Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /     /   Ngược miền Tây xứ Thanh (Bút ký dự thi)
Ngược miền Tây xứ Thanh (Bút ký dự thi)

NGÔ ĐỨC HÀNH 

Ngược miền Tây xứ Thanh

Bút ký dự thi

Xuất phát từ thành phố Thanh Hóa (cũ), hành trình hơn hai tiếng đồng hồ qua Quốc lộ 217 và những cung đường quanh co chúng tôi có mặt tại xã Thiên Phủ. Dù từng chạy xe dọc đường Hồ Chí Minh từ Cao Bằng đến tận Đất Mũi, đây lại là lần đầu tiên tôi thực sự đặt chân và ở lại miền Tây xứ Thanh. Một đêm ngủ lại trên nếp nhà sàn của người Mường mang đến cho tôi những trải nghiệm hoàn toàn khác biệt, thay vì chỉ lướt qua như những chuyến đi trước. Đây là lần đầu tiên tôi được xuyên miền Tây Thanh Hóa, dẫu chỉ là một địa chỉ và lưu lại. 
Chạy dọc những con đường uốn lượn giữa đại ngàn tôi chợt nhận ra Thanh Hóa dường như là một trong những địa phương giữ rừng tốt nhất cả nước. Những cánh rừng nguyên sinh cùng những rặng luồng xanh ngắt cứ thế nối đuôi nhau trùng điệp, trải dài ngút ngàn đến vô tận.
Hành trình đi qua những tuyến đường miền Tây gợi trong tôi nỗi nhớ về hai người con xứ Thanh: Cố nhà văn Kiều Vượng và nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm. Cố nhà văn Kiều Vượng khi còn sống hay kể cho tôi nghe về những năm tháng tuổi trẻ, gian khổ gắn liền với tuyến Hồi Xuân - Tén Tằn (đường 217B). Ông từng xót xa tâm sự: “Cái thời chúng tôi, mở tuyến đường Hồi Xuân đi Tén Tằn suốt năm năm ròng cũng chỉ được hơn một trăm cây số mà đã để lại quá nhiều đau thương, quá nhiều đau xót”(*). 
Trong chuyến “ngược ngàn” miền Tây cùng Đoàn văn nghệ sĩ xứ Thanh lần này, tôi thật vui khi có sự đồng hành của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm. Nhìn cảnh vật ngoài cửa xe, chắc hẳn ông đang nhớ về những câu thơ trong bài thơ “Dắt biên giới vào xuân” mình từng viết: “Ký ức bật lên những chòm Chiềng, chòm Poọng/ Pha Đén, Na Tao, Pù Nguộc, Pù Ngùa”. 
Cố nhà văn Kiều Vượng lúc sinh thời và nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm là những người “giàu có” về ký ức. Mà suy cho cùng, ký ức chính là cốt lõi của văn hóa. Thời đại thế giới đa biến, người ta có thể vẽ lại bản đồ giữa các quốc gia bằng bom đạn, có thể viết lại lịch sử một dân tộc, nhưng không thể viết lại được ký ức của một dân tộc.
*
Xã Thiên Phủ hiện nay được thành lập từ ngày 01-7-2025, trên cơ sở sáp nhập xã Thiên Phủ cũ và xã Nam Động của huyện Quan Hóa cũ. Sau sáp nhập xã mới có tổng cộng 13 bản, trải rộng trên diện tích hơn 147 km2 với quy mô dân số 6,485 người. Cơ cấu cư dân nơi đây khá đặc biệt với hơn 60% là người Thái, trên 30% người Mường và chỉ có 6% là người Kinh. Sự chênh lệch này khiến người Kinh ở Thiên Phủ vô tình trở thành “dân tộc thiểu số”, hay gọi theo cách mới là “dân tộc ít người”.
Từ thuở xa xưa, mảnh đất này đã có dấu chân người Thái đến khai hoang và lập nghiệp. Họ khai hoang, khẩn hóa những vùng đất rậm rạp, núi non hiểm trở bồi đắp thành những bản làng. Những dòng họ đã có mặt ở đây ngay từ buổi đầu ấy chính là họ Hà, họ Vi...
Theo chia sẻ của cán bộ Ủy ban nhân dân xã Thiên Phủ thì người Kinh chỉ bắt đầu bén duyên với vùng đất này từ ngày cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau những năm hòa bình lập lại, phần lớn họ là những người con từ huyện Thiệu Hóa, Hậu Lộc (cũ) ngược ngàn lên đây, tập trung đông nhất ở bản Chong. Đấy là thời gian, cán bộ “lên ngược” làm nhiệm vụ đem chữ lên vùng cao, đi xây dựng kinh tế mới, hiện thực hóa chủ trương hồi đó của Đảng và Bác Hồ là “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt”.
Cái tên Thiên Phủ nghe thật độc đáo và gợi nhiều tò mò. Trong tiếng Thái, Thiên Phủ mang ý nghĩa là “Trời phù hộ”, hay có thể hiểu theo nghĩa khác là sự giao thoa giữa trời và đất. Cha ông đặt tên như vậy bởi bao đời nay, ước vọng lớn nhất của người dân nơi đây vẫn là mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ. Đứng giữa đại ngàn lộng gió, tôi lại chợt nghĩ Thiên Phủ còn có thể hiểu là “Nhà trời” - cao vời vợi, vun đầy mơ ước của con người vùng cao.
Đảm nhiệm vị trí Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thiên Phủ, là anh Phan Văn Đại - một người con của vùng đất Nga Sơn “dưới xuôi”. Từng có nhiều năm công tác tại Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa, sau dấu mốc sáp nhập ngày 1-7-2025, anh tình nguyện “lên ngược” để nhận nhiệm vụ làm “ông xã trưởng” nơi biên viễn.
Tôi khá ấn tượng với Phan Văn Đại, không chỉ ở đẹp trai, phong cách gần gũi, miệng nói tay làm, mà còn ở “tinh thần” cống hiến hết mình. Anh nhớ lại: “Tôi cơm nắm muối vừng lên đây, từ trước ngày chính quyền hai cấp chính thức sáp nhập. Bạn bè chia sẻ nên có hỏi, lên Thiên Phủ có buồn không? Tôi bảo không còn thời gian để buồn đâu”. Ánh mắt rạng rỡ cùng nụ cười lộ chiếc răng khểnh, anh chân thành: “Bây giờ, em đã coi Thiên Phủ là quê hương thứ hai”. 
Theo lời giới thiệu của Chủ tịch Phan Văn Đại, Thiên Phủ sở hữu tỷ lệ rừng luồng lớn nhất Thanh Hóa với 90% diện tích là rừng tự nhiên và rừng trồng. Người dân bao đời nay bảo vệ rừng, sống dựa vào rừng. Giàu ô xy và dưỡng khí, mảnh đất khởi sinh của cây luồng này có một đặc điểm kỳ lạ: dù đời sống kinh tế bà con Thiên Phủ còn khó khăn, nhưng lại là nơi có “Chỉ số hạnh phúc” cao nhất nhờ sự gắn bó, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.
Để khắc phục thế yếu ít ruộng bậc thang, xã đang tập trung triển khai năm mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp trọng điểm: trồng và chăm sóc cây mắc ca; nuôi nhím, dúi; chăn nuôi lợn đen; nuôi vịt cổ xanh và trồng cây quế. Chủ tịch Phan Văn Đại khẳng định, đây là hướng đi phù hợp với tiềm năng địa phương, giúp tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho bà con.
Hình ảnh vị chủ tịch xã cùng các cán bộ chính quyền thay nhau xuống từng bản làng ngoài giờ hành chính là minh chứng rõ nét nhất cho một bộ máy hiện đại. Tinh thần gần dân, sát dân và phục vụ nhân dân đã và đang được lan tỏa rộng khắp, tạo diện mạo mới cho Thiên Phủ hôm nay. 
- Hàng ngày em chỉ kết thúc công việc khi 22 giờ đêm. Cuối buổi chiều, ai muốn tìm em thì phải xuống bản. Về Thiên Phủ chưa được một năm nhưng tình cảm nồng ấm của bà con nơi đây đều coi em như người thân đã tiếp thêm cho em năng lượng tích cực - Phan Văn Đại chân thành chia sẻ.
Với đồng bào các dân tộc, sự chân thành là chìa khóa vạn năng, bởi triết lý “Một lần bất tín, vạn lần bất tin” luôn in sâu trong nếp nghĩ của họ. Nhìn tác phong của Đại, tôi tin anh đã chạm được vào lòng dân. Mảnh đất biên viễn này, như câu thơ của Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, nay đã trở thành một phần máu thịt trong tâm hồn người cán bộ trẻ, năng động này.
Tôi đã từng có cơ hội đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều học giả và nhà nghiên cứu, nhà sinh thái... nên trong đầu đã quen với khái niệm “dư địa ô xy”. Đúng là Việt Nam là nơi dự trữ sinh quyển đáng quý của loài người. Đã có nhiều người nói đến phải biến được sinh quyển thành tiền. Từ cách đặt vấn đề này, các loại hình du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái... trong chuỗi giá trị logistics về du lịch những năm gần đây đã phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước.
Tận dụng lợi thế đó Thiên Phủ đang hướng tới việc thiết lập một hệ thống định giá carbon hiệu quả, minh bạch theo tiêu chuẩn quốc tế. Thị trường giao dịch tín chỉ carbon không chỉ nhằm giảm thiểu phát thải mà còn là động lực để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của Thiên Phủ trong việc kêu gọi đầu tư.
Phan Văn Đại cho biết, nhiều doanh nhân lớn ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã tìm đến Thiên Phủ để khảo sát, lên kế hoạch xây dựng các khu nghỉ dưỡng sinh thái, homestay... Ngay thời điểm tôi viết bài ký này thì một đoàn công tác của chính quyền xã Thiên Phủ cũng đang có mặt tại thành phố Hồ Chí Minh để xúc tiến đầu tư.
Trước những đòi hỏi khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu, nếu không chủ động chuyển mình, bất kỳ địa phương nào cũng có nguy cơ ở lại phía sau. Không chỉ rừng, sinh thái, Thiên Phủ còn có kho tàng “dư địa” văn hóa đậm đà bản sắc Thái, Mường - một tài nguyên vô giá chờ được đánh thức.
*
Phát triển kinh tế và văn hóa là hai trong những nhiệm vụ then chốt của Thiên Phủ. Văn hóa là nền tảng tinh thần, đồng thời là động lực nội sinh quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. 
Định hướng này càng trở nên rõ nét khi vào ngày 07-01-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định phát triển văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, đồng thời thúc đẩy công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng quốc gia. Trong bối cảnh ấy một đoàn nhà văn, nhà báo do Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh tổ chức đến địa phương mà không đi sâu tìm hiểu và bàn về câu chuyện văn hóa, thì còn nói về điều gì khác?
Là một lãnh đạo trẻ thông minh và nhạy bén Chủ tịch Phan Văn Đại nắm rất rõ tinh thần này. Anh cho biết: “Lĩnh vực văn hóa - xã hội của địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được bà con tổ chức sôi nổi, rộng khắp các bản làng”.
Từ những lời bộc bạch của anh, tôi thầm nghĩ và nhận ra nhiều “lớp lang” ẩn sau tư duy định hướng ấy. Chưa bàn đến nghĩa rộng của văn hóa với tư cách “nội hàm”; theo nghĩa hẹp, văn hóa được coi là mặt đời sống tinh thần của bà con các dân tộc nơi đây; là cách giao tiếp, cách ứng xử trong xã hội giữa con người với con người, giữa con người và xã hội, loài người với thiên nhiên... cùng với các thiết chế tương ứng. Minh chứng rõ nét nhất là trong 13 bản thì có 6/13 bản đạt chuẩn nông thôn mới. Trong cái “chuẩn” ấy, đâu chỉ có hạ tầng “điện, đường, trường, trạm” mà cốt lõi và bền vững nhất vẫn là những tiêu chí về văn hóa.
Thiên Phủ không chỉ có rừng. Nơi đây còn giấu trong lòng mình cả một kho tàng huyền sử được lưu giữ qua những trang thư tịch người Thái, người Mường. Trong dòng chảy lịch sử Thiên Phủ xưa kia có tên là Mường Khăng. Từ thế kỷ XIII, Thổ ty Lò Khăm Ban đã chiêu mộ nghĩa quân tập hợp dưới ngọn cờ của anh hùng dân tộc Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh xâm lược. Đến nay, bia đá ở xã Hồi Xuân cũng như gia phả dòng họ Phạm Bá ở bản Pọng Chiềng vẫn còn ghi dấu công lao của ông trong việc khai khẩn đất đai lập ra Mường Ca Da thuở ấy.
Dân tộc Thái chiếm đa số, có truyền thống lịch sử, văn hóa, chữ viết riêng. Do đó cộng đồng dân tộc Thái đã có nhiều tác phẩm như: “Xống chụ xôn xao” (Tiễn dặn người yêu), “Khún Lú - nàng Ủa” (Chàng Lú nàng Ủa), “Quân quán húa mương” (Chuyện bản Mường).
Đi giữa đại ngàn tôi nhớ mãi câu nói của Đại: “Người Thiên Phủ có chỉ số hạnh phúc cao”. Đúng vậy chất lượng sống của họ không chỉ đo ở dưỡng khí từ núi, các dòng suối Cang, suối Khiết mang đến; cũng không chỉ nằm ở hệ thống 13 hang động nguyên sơ kỳ vĩ giấu mình trong lòng núi - mà tiêu biểu là hang Nàng Mọn đẹp như một sơn nữ đang say ngủ; hạnh phúc của người Thiên Phủ còn được kết tinh từ mạch nguồn bản sắc văn hóa và các lễ hội độc đáo của đồng bào Thái, Mường.
Hàng năm, người Thái ở Thiên Phủ tưng bừng tổ chức nhiều lễ hội và lễ tục, tưng bừng nhất phải kể đến là Kin chiêng boọc mạy (Ăn mừng hoa ban nở) hay hội Pôồn Pôông... Đây cũng là dịp để ba dân tộc Thái, Mường, Kinh được tham gia Hội thi Khua Luống, giải bóng chuyền, giải chạy Olympic... Những ngày đó, không khí múa hát say sưa, tiếng cồng, tiếng chiêng... rộn rã bản làng, khu tái định cư mới.
- Bọn em đang xây dựng văn hóa luồng anh ạ.
 Lời chia sẻ của Đại khiến tôi bất ngờ. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến khái niệm “văn hóa luồng”. Với người Thái, người Mường ở đây từ khi sinh ra, lớn lên, chết đi đều gắn với luồng. Một ý tưởng thật hay, nhân văn. Là cộng đồng dân cư miền núi, ai không biết thần núi, thần sông, thần suối. Đời sống tâm linh của bà con mang nặng tấm lòng tri ân tiên tổ, mạch nguồn.
Dù thời gian ở Thiên Phủ không nhiều, nhưng chúng tôi đã được mục sở thị tổ hợp tác dệt thổ cẩm, được đắm mình trong đêm văn nghệ giàu bản sắc và men rượu cần. Các tiết mục do đội văn nghệ bản Lở và bản Sài biểu diễn là: “Tiếng khèn bản làng”, “Mời anh về Tây Bắc”, “Nét đẹp bản làng”... cùng tiếng cồng, chiêng, tiếng khua đuống rộn rã.
Gặp Phạm Hồng Lý - cô gái tươi tắn như bông hoa ban trong trang phục dân tộc Thái, em khoe: “Hai đội văn nghệ của chúng em được thành lập cũng được ba năm. Bây giờ cả 13 bản trong xã đều có đội văn nghệ riêng. Được xã và bản quan tâm, động viên nên mọi người ai cũng vui và hào hứng lắm anh ạ!”. Câu trả lời khẽ khàng mà chứa chan niềm hạnh phúc của Lý như một minh chứng cho nét đẹp văn hóa đang nảy nở trên mảnh đất Thiên Phủ.
Nhìn các cháu trong hai đội văn nghệ, trong tâm hồn tôi bỗng vang vọng câu thơ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo: “Hoa ban nở thành người con gái Thái/ Đám mây bay trong thau nước gội đầu”.
Giữa đại ngàn lộng gió, vẻ đẹp ấy hòa cùng giai điệu ngân vang:
Hòa vào làn sương mờ
Vương theo làn mây trắng
Hoa ban hoa mai rừng nở bừng muôn sắc xuân
Miền vùng cao em đây mà
Gửi yêu thương vào câu ca
Đem anh người khách lạ từ miền xuôi tới chơi nhà.
Ca từ trong bài hát “Tiếng khèn bản làng” lay thức mãi, với ai từng đến Thiên Phủ. Tiếng hát không làm ra mùa vàng, nhưng giúp bà con ba dân tộc cùng sống trên mảnh đất này niềm hy vọng.
                                N.Đ.H


(*) Kiều Vượng: Những con đường, những cuộc đời, NXB Hội Nhà văn, trang 281.


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 237
 Hôm nay: 5495
 Tổng số truy cập: 16807556
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa