Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /     /   Na Mèo, gần lại những xa xôi (Bút ký)
Na Mèo, gần lại những xa xôi (Bút ký)

NGUYỄN XUÂN THỦY

Na Mèo, gần lại những xa xôi

Bút ký

Chuyến lên Na Mèo của tôi lần này mọi thứ đều xuôi thuận. Thời tiết đẹp, Quốc lộ 217 đã được nâng cấp đi lại nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Tôi nhẩm tính, cứ đi hết con đường này là sẽ tới Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. Điểm đến của chúng tôi nằm ở phía đầu con đường, hay chính xác hơn là ở đầu mút tiếp giáp với Lào. Đường biên thường là nơi bắt đầu với một quốc gia, được đánh dấu bằng con sông, con đường chạy vào cương thổ Tổ quốc. Tôi đã từng ở nơi bắt đầu chảy vào đất Việt của sông Mã, của nơi bắt đầu Quốc lộ 15C, và bây giờ, lên Na Mèo là sông Luồng và Quốc lộ 217. Những ý niệm đầu tiên về Na Mèo trong tôi là qua những câu chuyện của Đại tá Hồ Ngọc Thu, Chủ nhiệm Chính trị Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa. Anh Thu có bốn năm làm Chính trị viên Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. Trong những câu chuyện của anh Thu, Na Mèo hiện lên vừa xa xôi diệu vợi nhưng cũng thật gần và sinh động, như sờ nắn được. Trên cung đường êm ái, xe chạy qua những ruộng lúa xanh rì đương giai đoạn trổ đòng, qua những dãy núi bảng lảng mây bay, qua làn sương như đưa người ta vào thế giới hư thực. Tôi tự hỏi, sông núi rộng dài này, tuyến đường này đã đón đưa biết bao người lính biên phòng ở cuối dòng sông, ở cuối con đường nơi đồng bằng Thanh Hóa, dọc theo các dòng sông Mã, sông Chu, sông Luồng, sông Lò lên với Na Mèo và tuyến biên giới phía Tây Thanh Hóa!
Chuyến đi này gợi nhắc tôi nhớ về những chuyến đi của năm 2023, khi đó Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa phối hợp với Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh tổ chức cuộc thi viết ký “Biên cương một dải vững bền”. Hai chuyến đi thực tế do Phó Chủ nhiệm Chính trị Hồ Ngọc Thu đích thân dẫn đoàn đã khép kín tuyến biên giới trên bộ xứ Thanh. Trên xe và trong bữa cơm dọc hành trình năm ấy luôn là những câu chuyện, những trải nghiệm của cá nhân anh. Nay anh Thu ở cương vị cao hơn phải gác gôn ở nhà, thành ra trong chuyến đi lên vùng biên của chúng tôi có một chút thiếu thiếu, ai cũng nhắc đến những câu chuyện anh kể về Na Mèo. Kỷ niệm nào của người cán bộ biên phòng nguyên là Chính trị viên miền biên ải cũng đáng nhớ, trong đó có câu chuyện cười chảy nước mắt về dân vận, về sự tếu hài đậm chất lính, có câu chuyện cảm động về những đứa trẻ vùng cao, và có câu chuyện như cào vào ký ức bởi nỗi đau do thiên tai bão lũ. Ấy là chuyện về trận lũ tháng 8 năm 2019 tại bản Sa Ná của Na Mèo.
Mỗi cái tên ở đây dù trí nhớ tốt đến mấy thì cũng rất khó để mà nhớ và phát âm cho chuẩn xác. Tôi cũng phải mất nhiều lần mới nhớ chính xác cái tên Sa Ná ấy để không đọc nhầm thành Na Sá. Sa Ná năm 2019 lũ quét về, 24 hộ dân bị thổi bay nhà cửa, ruộng bị vùi trong những đá lổn nhổn, ao lớn ao bé bị vỡ, bao nhiêu cá mú tích sản, bao nhiêu tích cơ phòng cốc phút chốc vỡ òa cuốn theo dòng nước. Loài cá dốc đồng bào người Thái quen nuôi dù nước vào nước ra thường xuyên nhưng chúng chẳng bỏ ao đi bao giờ, ấy thế mà lũ sục tung bờ bắt di cư cưỡng chế. Ngày ấy Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh đã cùng chung tay kêu gọi trợ giúp cho đồng bào bản Sa Ná. Khi lên đến nơi, anh chị em lặng người trước những cảnh tượng hoang tàn. Những căn nhà bị lũ cuốn trôi, trong đống đổ nát, đất đá vùi lấp, thứ còn lại duy nhất để nhận ra nơi đây từng là một gia đình là chiếc nhà vệ sinh còn lại với bồn nước innox gắn bên trên, vì chỉ duy nhất nhà vệ sinh được xây kiên cố nên bão lũ đi qua còn trụ vững. Ngày ấy Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo hay tin lũ dữ tàn sát bản Sa Ná, Chính trị viên Hồ Ngọc Thu đã cử ba tổ công tác vào giúp đồng bào. Thông tin liên lạc bị gián đoạn, các tổ đi cả ngày trời không thấy tin tức gì về, ở nhà trực mà ruột gan anh như lửa đốt. Thì ra giao thông bị chia cắt, lũ vây tứ bề, hai tổ không vào được bản, một tổ phải cắt rừng vòng sang phía Lào rồi mới vòng lại Sa Ná, không có sóng điện thoại nên anh em không thể báo cáo về. Đúng lúc ruột gan cồn cào vì lo cho anh em thì anh Thu nhận được tin báo một tổ đã vào được bản. Cho đến giờ, sau bảy năm, trong bữa cơm tiễn chúng tôi lên biên giới, nhắc lại chuyện cũ anh Thu vẫn nhớ nguyên cảm giác lo lắng và bất an khi anh em Bộ đội biên phòng Đồn Na Mèo vào Sa Ná hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai. 
Mang theo những câu chuyện như thế chúng tôi đến với Na Mèo. Và cũng bởi những ký ức về cơn lũ kinh hoàng năm ấy được nghe kể lại, việc đầu tiên tôi đã xin phép được vào bản Sa Ná hôm nay. Con đường từ Quốc lộ 217 rẽ vào bản đã được trải bê tông sạch sẽ, một cây cầu đang được xây dựng nên chúng tôi vẫn phải đi xe máy xuống lòng suối để vượt qua đoạn đang thi công. Qua đoạn cầu Sông Luồng, tôi nhận ra đoạn suối trong một video clip đã xem về trận lũ cuốn theo dòng nước những bụi tre, những cây cổ thụ trôi lừ lừ tiến về hạ nguồn năm ấy. Đang đi, Thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Lê Văn Long, người dẫn chúng tôi vào bản chợt dừng xe bên đường, chúng tôi cùng dừng lại theo. Đây chính là khu vực hiện trường của cơn lũ. Anh Long chỉ cho chúng tôi vị trí cánh đồng Piềng Héo bên con suối nơi cơn lũ tràn qua bảy năm trước. Kề con đường bê tông mới trải là một khu tưởng niệm nhỏ dành cho 10 nạn nhân đã ra đi trong trận lũ. Anh Long bùi ngùi cho biết, hiện tại vẫn còn hai trong số mười nạn nhân không tìm thấy di cốt. Thắp hương tưởng nhớ các nạn nhân xong, đứng ngắm cánh đồng lúa trải một màu xanh mát, lòng suối được kè ngay ngắn, chúng tôi không thể hình dung về cơn lũ dữ tràn qua đây bảy năm trước. 
Bản mới Sa Ná sau đó được nhà nước khảo sát và lập mới trên một khu đất đảm bảo an toàn dành cho 51 hộ dân bị thiệt hại cùng các hộ vị trí nhà ở có nguy cơ xảy ra sạt lở, bão lũ. Mươi phút chạy xe từ vị trí bản cũ chúng tôi đã có mặt tại bản tái định cư Sa Ná. Bản được xây dựng đẹp đẽ, khang trang. Ở đây chúng tôi vẫn bắt gặp những mảnh ký ức về trận lũ năm 2019 ở những người dân Sa Ná. Trong ký ức của anh Vi Văn Linh, sinh năm 1982, trước ngày xảy ra tai họa, đêm hôm trước nước suối đã dâng cao, nước đổ về cuồn cuộn. Nhà anh ở cao hơn nên một số hộ dân tập trung tại đây để tránh lũ. Cảm thấy bất an nên ba, bốn giờ sáng anh gọi vợ cùng hai con dậy gom ít quần áo vào hai túi lớn sơ tán mọi người lên nhà văn hóa. Sau đó tiếp tục lên cao ở khu nghĩa địa của bản nằm sâu trên rừng. Ai ngờ sáng hôm sau anh cùng vợ là chị Phạm Thị Lan và hai con trai Vi Thanh Sơn, Vi Lâm Phú tận mắt chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng. Con nước hung dữ ào ào cuốn theo những cây to, những bụi vầu phi với tốc độ không gì ngăn cản nổi. Dòng thủy quái nhanh chóng xâm lấn bãi Piềng Héo là nơi bản Sa Ná cư ngụ, nước dữ trong chớp mắt ngoạm cả căn nhà của gia đình anh, sản nghiệp tích lũy bao năm bỗng chốc tan thành mây khói. Chứng kiến cảnh ấy, cậu con trai Vi Lâm Phú vốn rất sợ ma nhưng đã co cẳng chạy sâu vào nghĩa địa tìm nơi trú ẩn. May mắn là anh cùng hơn chục người dân đã kịp sơ tán khỏi nhà. Bỗng chốc trở thành tay trắng, 11 chỉ vàng tích cóp bao năm anh chị cũng chẳng kịp mang theo, cuộc sống phía trước mông lung, cảm giác như không còn có ngày mai. Anh trai anh Vi Văn Linh là Vi Văn Tuấn cũng bị trôi hết nhà cửa, thành ra anh em đều tay trắng không thể trợ giúp gì cho nhau. Tuy thế thì anh chị vẫn thấy mình còn may mắn, có gia đình như nhà ông Hà Văn Vân, cả nhà sáu người bị cuốn trôi chỉ duy nhất mình ông sống sót. Cuộc sống của người đàn ông ấy sau này chìm trong những cơn say. Khi lập gia đình mới, ông Vân đã bỏ bản ra ở nhà vợ dưới Quan Sơn vì không chịu được ký ức buồn đau đeo bám. 
Với gia đình ông Ngân Văn Piến, sinh năm 1953 và bà Ngân Thị Suối, sinh năm 1955 thì trận lũ năm 2019 tuy không gây thiệt hại về người nhưng cũng làm họ tiêu tán gia sản lớn. Vốn là người thức thời, lại biết làm ăn nên gia đình ông bà được coi là có của ăn của để ở bản Sa Ná. Hai chiếc ao một chiếc hai nghìn mét chuyên nuôi các loại cá trắm, cá mè, cá dốc còn chiếc nhỏ hơn rộng một nghìn mét chuyên để vợt cá cho ao lớn. Nhờ nhạy bén ông Piến học nghề nuôi nhím ở Quan Hóa rất sớm và đã làm thành công, ngày ấy nhím bán giá rất cao, một đôi lên đến 30 triệu đồng. Cũng từ nuôi nhím mà ông mua được xe tải IFA để làm dịch vụ chuyên chở vầu luồng cho bà con trong bản. Cuộc sống khấm khá, mô hình làm ăn của gia đình ông được huyện coi như tiêu biểu, các đoàn khách về được dẫn đến tham quan. Gia đình ông cũng là gia đình chính sách, chú ruột ông Piến là Ngân Văn Vun là liệt sĩ chống Pháp, hi sinh ở chính Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo năm 1954. Thế rồi cơn lũ dữ đã cuốn trôi tất cả. Có những gia đình khá giả như nhà ông Lương Văn Uốn mất hai chiếc xe ô tô chở gỗ cùng két sắt đựng của cải và toàn bộ gia sản. Còn với bà Hà Thị Điện, sinh năm 1956 cùng ông Lương Văn Inh, sinh năm 1955 cũng ở diện mất trắng cơ nghiệp. Nhà bà khi ấy đã có xe máy, có máy xay xát. “Chúng tôi đã không kịp mang ra khỏi nhà dù là một hạt muối” - nhớ lại việc chạy lũ kinh hoàng bà Điện nói. Thiên tai năm ấy đất trời đã biến gia đình bà thành những kẻ vô gia cư, vô sản nghiệp. Còn bây giờ bà đã có mái ấm mới trong căn nhà sàn tại bản tái định cư, những cây nhãn, cây mít trồng mới đã cho mấy mùa quả ngọt. Dọc con đường bê tông, bên những lá cờ Tổ quốc thắm đỏ tung bay, bà Điện cứ bần thần nắm tay chúng tôi khi gợi nhắc về những kỷ niệm cũ.
Sa Ná trước đây vốn là một bản tập hợp nhiều người dân biết làm ăn, kinh tế khá giả. Trận lũ dù khốc liệt cũng không thể quật ngã ý chí của những con người đã hàng trăm năm bám núi rừng mà sinh kế, cuộc sống và văn hóa gắn liền với núi, với ruộng đồng, sông suối. Sau khi được Nhà nước hỗ trợ về định cư tại bản mới, họ nhanh chóng ổn định cuộc sống và tiếp tục làm ăn. Ông Ngân Văn Piến dẫn chúng tôi ra thăm chuồng nhím của gia đình. Hiện tại hai người con trai của ông đã ở riêng tại bản mới, việc làm ăn đều khá giả, các con ông đều có xe ô tô tải tiếp tục công việc vận tải chở vầu luồng từ rừng ra cho bà con. Nhà chỉ còn hai vợ chồng, kinh tế cũng không quá khó khăn nhưng ông Piến, bà Suối vẫn chăm lo phát triển kinh tế. Hai chiếc ao bị lũ vun đầy đá, chiếc lớn đã được khơi thông trở lại để nuôi cá, còn chiếc nhỏ ông bà dành để trồng cỏ cho cá ăn. Dẫn chúng tôi ra thăm chuồng nhím tại nhà, hiện có tám con, mỗi con nặng cả yến, ông Piến cho biết vẫn tiếp tục duy trì nghề nuôi nhím, dù giá bây giờ đã giảm hơn trước nhưng mỗi cặp nhím cũng có giá gần chục triệu đồng, vẫn là một nghề kiếm tiền không quá vất vả, phù hợp với người cao tuổi. Anh Vi Văn Linh thì hiện là Phó Trưởng bản Sa Ná kiêm Tổ trưởng An ninh. Hai cậu con trai của anh, cậu đầu Vi Thanh Sơn đang ở Nhật Bản vừa lao động vừa học tập, còn cậu con trai thứ hai Vi Lâm Phú thì đang là sinh viên ngành xã hội của Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa. Cuộc sống của các gia đình đã ổn định trở lại trong khu tái định cư quây quần làng xóm. Nhìn những căn nhà sàn bằng gỗ của người Thái được chuyển về dựng lại trong bản mới, nhìn những con đường trải bê tông chạy dọc ngang, những cây trái trong vườn đơm hoa kết trái, ngẩng lên là núi, nhìn xuống là đồng, cuộc sống nơi bản mới đã hình thành nên cảnh quan mới, ấm áp và xôm tụ. Thiệt hại lớn nhất, vết thương khó lành nhất vẫn là những gia đình mất đi sinh mạng người thân. Tôi nhớ lời kể của Đại tá Hồ Ngọc Thu, khi bước vào thắp hương cho gia đình ông Hà Văn Vân, sáu di ảnh trên ban thờ không khỏi làm các anh choáng váng, số ảnh của người mất nhiều đến mức khoảng tường nhà nhỏ bé trước ban thờ chẳng đủ chỗ mà treo. Người duy nhất còn lại là người gánh phần ký ức ám ảnh dai dẳng. Tôi hiểu vì sao người đàn ông ấy sau này đã không thể sống tiếp ở bản cũ, ngay cả khi bản ấy đã được dời đến một nơi mới. 
Ngày ấy, bộ đội biên phòng đã về với bà con, cùng chung tay dựng lại nếp nhà, vớt vát những cây lúa, vét đất đá khỏi ruộng đồng, kêu gọi sự chung tay của cộng đồng về tiền của để giúp người dân gây dựng lại cuộc sống. Bảy năm là một khoảng thời gian để mọi vết thương tạm khép miệng, mọi xây xát tạm liền da. Lớp cán bộ chiến sĩ ngày ấy nhiều người cũng đã chuyển đến đơn vị mới, những cán bộ từ các đồn biên phòng dọc dải biên giới xứ Thanh lại về với Na Mèo, tiếp tục công việc của đồng đội, tiếp tục nghe và kể những câu chuyện vùng biên. Thiếu tá Lê Văn Long là một người như thế. Anh lặng lẽ, ít nói. Bộ đội vốn là những người nói bằng hành động nhiều hơn là ngôn từ. Quãng đường vào Sa Ná vì mắc đoạn cầu đang xây dựng nên ô tô không thể vào, Thượng tá Hoàng Ngọc Bình, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo đã giải quyết bằng cách cử Thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp Lê Văn Long dẫn chúng tôi đi bằng xe máy. Hai người một xe, anh chở phóng viên Quỳnh Thơm của Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh. Không nói gì nhiều, trước khi nổ máy Long nhẹ nhàng cởi chiếc áo gió đi đường đang mặc đưa cho Quỳnh Thơm, bảo chị: “Mặc vào đi, lạnh đấy”. Quỳnh Thơm đùn đẩy không mặc, một phần vì nếu cô mặc thì Long lại thành chỉ có áo quân phục. Khi ấy trời chưa lạnh, nhưng trên cả cung đường, và nhất là lúc quay về khi trời đã tối, quả tình chiếc áo gió trở nên ấm áp và cần thiết biết bao. 
Cái tình cái nghĩa, sự gắn bó giữa bộ đội biên phòng với đồng bào Na Mèo xưa nay thì nhiều, kể mãi mà không hết. Cán bộ chiến sĩ của đồn nhiều thế hệ còn kể cho nhau nghe mãi về câu chuyện hòa giải của người lính làm công tác vận động quần chúng Chá Văn Hòa. Người con Quảng Xương ấy đã hiểu đồng bào đến chân tơ kẽ tóc, trong công tác vận động quần chúng anh đã xuất chiêu là điểm huyệt. Có lần anh được kêu cầu đến hòa giải giúp một cặp vợ chồng người Mông, do bất hòa người vợ dọa ăn lá ngón tự tử. Khi anh đến thì người chồng đang ngồi khật khừ uống rượu ở nhà ngoài, còn người vợ thì cố thủ ở buồng trong. Qua nắm tình hình anh nhận định người vợ còn tỉnh táo, lời dọa chủ yếu để gây áp lực cho chồng. Anh mới ngồi xuống mâm rượu bên người chồng giả vờ hỏi han vài câu rồi nói rõ to: Cứ để cho nó ăn lá ngón chết đi, em sẽ giới thiệu cho anh lấy vợ khác trẻ hơn, đẹp hơn. Người vợ nghe thấy sôi máu chạy ra quát, còn lâu mới chết nhé. Thế là tất cả cùng cười, vợ chồng không còn hờn giận, hòa cả làng. Tất nhiên không dễ để xuất chiêu mạo hiểm như vậy nếu không hiểu rõ văn hóa, tập tục và tâm lý của đồng bào. Anh Hòa đã có những trải nghiệm cùng ăn, cùng ở, cùng đồng cam cộng khổ với bà con. Ngay cái họ Chá của anh cũng là do được bà con người Mông ban cho như một thành viên trong họ tộc. Theo lệ đó, mỗi năm anh cũng được phát hai bộ quần áo của người Mông. Tất cả đều có nguyên do của nó. Nếu không được coi như người con của bản thì anh Hòa đã không dám chọn một giải pháp đi trên dây như vậy. Từ những ngày xa xôi đó, ba bản người Mông là Mùa Xuân, Xía Nọi và Ché Lầu đã hình thành để quy tụ cộng đồng người Mông di cư ở Pù Nhi sang, từng bước dẫn dắt để cuộc sống của đồng bào đi vào quy củ. Ngay cả tục người chết để trong nhà làm ma tới dăm bảy ngày, bón cơm bón canh, thịt trâu bò đãi khách cả vài con, vừa tốn kém vừa mất vệ sinh cũng được bộ đội biên phòng từng bước hóa giải. Ban đầu là tuyên truyền vận động, sau đó là đi đôi với chính sách hỗ trợ mỗi gia đình có người chết một cỗ áo quan, gia đình nào có người chết là mang áo quan đến hỗ trợ khâm liệm, động viên nhập quan ngay tránh để qua ngày. Dần dần mọi thứ đã thay đổi. 
Dòng suối Son, một nhánh chảy ra sông Luồng chính là con suối chảy qua bản Sa Ná gây ra trận lũ thảm khốc tháng 8 năm 2019 ấy. Đại tá Hồ Ngọc Thu nhớ lại, ngay khi sự việc xảy ra, Ban chỉ huy đồn được báo cáo sự việc đã xác định mục tiêu cao nhất là cứu người. Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo ngoài việc cử ba tổ công tác vào Sa Ná nắm bắt tình hình và hỗ trợ đồng bào đã cho kiểm kho gạo ngay. “Tôi chỉ đạo anh em huy động 2,2 tấn gạo còn lại trong kho, đồn còn gì ăn được đều chở vào bản cứu trợ bà con. Lúc bấy giờ cứu đói là quan trọng nhất”, Đại tá Hồ Ngọc Thu nhắc lại câu chuyện trước khi chúng tôi lên biên giới. Đó là mệnh lệnh đúng đắn, cần kíp tức thời. Vào được bản, việc đầu tiên là đơn vị cho dồn dân, gom gạo vào những nhà cao ráo để nấu ăn cứu đói cho bà con. Những lúc khó khăn nhất, chông chênh nhất luôn có bộ đội ở bên. Cuộc sống ở vùng biên luôn là như vậy. Trong lạnh lẽo của bão lũ, của những mất mát về người về của vẫn có những khoảnh khắc ấm áp, nghĩa tình. Đó là tài sản, là chỗ vịn để mỗi người dân, mỗi gia đình đứng dậy sau thiên tai. 
*
Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo là một đồn lớn, quản lí 37,6 kilomet đường biên thuộc hai xã Na Mèo và Sơn Thủy. Bảy mươi phần trăm quân số luôn bám bản, bám đường biên, bám cửa khẩu thành thử ở đồn cũng chẳng mấy khi đủ người, dù cửa khẩu luôn tấp nập xe lên xe xuống. Ba bản người Mông là những bản Mông cao nhất vùng biên giới, xa xôi nhất của Na Mèo và Sơn Thủy giờ đây đã đổi mới, cuộc sống của bà con ổn định, văn minh hơn. Thượng tá Hoàng Ngọc Bình cho biết, hiện nay một tổ công tác của đồn vẫn bám bản, nắm bắt tình hình và giúp đỡ, đồng hành cùng bà con khi cần thiết. 
*
Nhớ lần lên Na Mèo năm 2023, chúng tôi đã được đến bản Cha Khót nơi chốt biên phòng 331 đứng chân. Nơi đây rừng vầu lan mãi từ chân lên đỉnh núi Pom Bấu, những làn gió lay động vẽ lối đi trên tán lá rừng khiến chúng lay động như hát ca. Dân bản Cha Khót kể rằng tên ngọn núi ấy nghĩa là báu vật, tương truyền xưa người ta đào ở trên đấy được một cái khuôn đúc bạc. Bản Cha Khót cũng là nơi lưu giữ những mảnh ký ức vùng biên Na Mèo. Nơi đây có những câu chuyện về công tác bảo vệ biên cương, cột mốc của những đồng bào người Thái thật đẹp. Cụ Vi Văn Hợi, sinh năm 1946, gia đình cụ từ Lang Chánh vì loạn lạc, giặc giã mà bỏ cả gia sản, ruộng vườn chạy lên hướng Bắc từ những năm 1950 của thế kỷ trước, sau khi phiêu dạt vài nơi, khi miền Bắc hòa bình, theo lời kêu gọi của Chính phủ Cụ Hồ gia đình cụ đã chọn Na Mèo làm quê hương mới để ổn định cuộc sống. Sau hòa bình, Quốc lộ 217 mở ra, việc giao thương đi lại cũng dễ dàng hơn, gia đình cụ cùng một số hộ khác mới vào bản Cha Khót khai hoang, là những người đầu tiên khai thiên lập địa ở đất này. Ngày ấy bản nằm giữa rừng già, hươu nai, bò tót, lợn lòi vẫn còn, thiên nhiên hoang dã, cây cối dây leo đan kín lối, dần dần bản mới được kết nối với thế giới văn minh để đến một ngày con đường bê tông trải dài tới Cha Khót như bây giờ. 
Nhà cụ Hợi cách đường biên hai cây số, đã nhiều năm nay tên tuổi của cụ gắn với cột mốc 331. Giữ gìn cột mốc biên cương đã trở thành truyền thống của người dân bản Cha Khót. Con trai của cụ Vi Văn Hợi, anh Vi Văn Tuấn, sinh năm 1975 là người bảo vệ cột mốc kế tiếp mốc của cha, mốc 332. Còn mốc 331 do cụ Hợi đang bảo vệ dự kiến sẽ được “kế thừa” cho người cháu trong họ là Vi Văn Sao. Mốc 331 nằm bên bờ suối Cha Khót, con suối phân giới Việt - Lào, nằm giữa Na Mèo và huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn. Mốc nằm trên độ dốc cao đến 50 độ, đi lại khó khăn. Cung đường biên giới ấy đã ghi dấu những năm tháng cuộc đời của cụ Hợi suốt gần nửa thế kỷ tham gia bảo vệ cột mốc, từ thuở thanh xuân đến khi trở thành một bậc cao niên. 
Mốc 331 gắn bó với cụ Vi Văn Hợi bằng rất nhiều kỷ niệm. Trong trí nhớ của cụ là cả một biên niên sử về cột mốc này. Cụ Hợi cho biết, vào thời điểm trước năm 1981 chưa có cột mốc ở khu vực này giữa hai nước Việt - Lào, mãi đến mùa hè năm 1981, đường biên giới mới được Chính phủ Việt Nam, Lào tiến hành đo đạc để cắm mốc. Thời điểm đó, đồng chí Lê Chí Anh, phụ trách Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo đã cho cán bộ xuống mời cụ đi theo vì không ai rành rẽ đường bằng cụ. Cụ còn nhớ phía đoàn Việt Nam có anh Ngần đoàn trưởng, anh Thịnh đoàn phó, phía Lào do Chủ tịch tỉnh Hủa Phăn dẫn đầu. Đại diện Chính phủ hai nước cùng hợp lại đi một đoàn lên khu vực giáp ranh, cụ dẫn đoàn trèo dốc đến Pha Mường, dốc cao, cây cối um tùm, vừa đi vừa phát cây mà mở lối. Phía Việt Nam gùi cõng lương thực cho cả ta và bạn, đồ ăn nước bạn gồm bánh chưng, xôi, phía Việt Nam mang theo cơm tẻ, cá khô. Cụ Hợi còn nhớ mãi đêm nghỉ lại Pha Mường, sương giăng bốn bề, lạnh thấu da thấu thịt khiến nhiều người trong đoàn không ngủ được, nước uống không có, phải chặt gốc cây giang lấy nước để uống. Sáng hôm sau cả đoàn đi theo lòng suối nhỏ, ngang dốc Pù Sê thì tụt xuống để xuống suối Cha Khót. Hai bên làm việc và lấy đoạn xuống suối Hoa, suối Cha Khót làm đường phân thủy, đo từ ngã ba hai dòng suối để xác định vị trí mốc 331 hiện tại là 49 mét. Ba ngày sau, phía Lào huy động bản Chía của bạn khuân đá, sỏi, cát, phía Việt Nam dân bản Cha Khót do cụ Hợi dẫn đầu gùi xi măng, bộ đội biên phòng đưa ngựa lên thồ vật liệu vào điểm đã xác định để dựng mốc. Oái oăm thay, vị trí đặt mốc lại có một cái cây to đùng, đến ba bốn người ôm mới kín gốc, phía ta và phía bạn lại phải dùng rìu hợp sức lại để chặt cây lấy chỗ dựng mốc. 
Có mốc rồi thì cụ Vi Văn Hợi lại là người trông nom, bảo vệ cùng với các chiến sĩ biên phòng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. Đối biên bên kia là bản Chía của bạn Lào. Bản Chía cũng là người Thái. Cũng vì kết nghĩa, qua lại thăm hỏi, cùng chăm nom mốc giới mà cụ Hợi quen biết với ông Bon Si, Trưởng bản Chía. Cùng khai sinh ra mốc, lại gắn bó với mốc bao năm tháng nên có việc gì bộ đội biên phòng đều hỏi cụ. Nhiều cán bộ đến rồi đi, từ thời Đồn trưởng Lê Chí Anh đến Đồn trưởng Hoàng Ngọc Bình bây giờ đã cả hàng chục người, nhưng cụ Hợi thì vẫn mãi bên cột mốc thân thương. Thuở mới dựng chỉ có mốc 331 bằng bê tông cốt thép, được đặt tên là H3. Sau này hai nước mới cấy dày thêm các mốc khác mới có 330, 331, 332. Năm 2011, Chính phủ hai nước đã xây lại cột mốc bằng đá hoa cương bóng sáng như bây giờ. Mấy chục năm trôi qua, vật đổi sao dời nhưng mốc giới thì vẫn đứng đó, bản Chía của người Thái giáp biên giới ở phía nước bạn Lào nay cũng đã dời đi nơi khác, thay vào đó là bản Lan Thọn của người Mông, vì thế cụ Hợi cũng mất liên lạc với ông Bon Si. 
Đều đặn mỗi năm hai đến bốn lần, cụ lên cột mốc để quét dọn, khi thì lên một mình, khi thì dắt cả vợ con theo. Vật dụng quen thuộc khi lên mốc của cụ là một con dao đi rừng, một bị xách đeo chéo trong có cơm nắm, đồ ăn. Từ nhà cụ đi bộ gần hai tiếng đồng hồ mới tới mốc. Mỗi lần như thế nếu thấy có vấn đề gì cụ lập tức báo cho bộ đội Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo. Trong một lần như thế, khi cụ dọn dẹp mốc xong, tầm năm giờ chiều, trời bỗng đổ cơn mưa tầm tã, mưa trắng xóa phủ mênh mang núi đồi, như tưới nước xuống những ngọn vầu. Con suối Cha Khót hiền lành bỗng trở nên hung hãn, nước từ đâu dồn về như thác lũ. Cụ Hợi biết không thể về được liền chặt cây che chắn làm chỗ ngủ. Đêm hôm đó, cụ ngủ lại ngay trên mốc, áo quần sũng nước, bụng đói cồn cào, chỉ biết mong trời mau sáng. Mưa suốt đêm, đến gần sáng trời mới tạnh, nước rút dần, cụ mới men theo bờ suối để về nhà. Hình ảnh khiến cụ Vi Văn Hợi nhớ mãi, đó là về đến nhà vợ con nhào ra ôm chầm lấy cụ khóc như mưa vì cả đêm không thấy cụ về tưởng cụ gặp nạn ở trên rừng rồi. 
Năm tháng cứ trôi qua như thế để từng trang sử đường biên được viết nên bởi bộ đội và bởi chính những người dân như cụ Hợi để Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo ngày một chính quy bên cửa khẩu quốc tế giao thương giữa hai nước, bên dải biên giới với những cột mốc đá hoa cương tô son đỏ số hiệu luôn được vệ sinh sạch sẽ, gọn gàng, để tuyến đường tuần tra biên giới kết hợp dân sinh như một nét vẽ khắp dải biên cương, nối gần hơn những bản làng vùng biên thấp thoáng bóng nhà sàn ngày một thêm ấm no, trù phú. Mấy mươi năm để một vùng biên trở mình mang diện mạo của một cửa khẩu quốc tế như hôm nay. Hàng đoàn xe container nối đuôi nhau lên cửa khẩu khiến Quốc lộ 217 đoạn Na Mèo như chật lại, xe máy tôi đi trong hành trình từ bản Sa Ná về đồn nhiều đoạn phải len lách mới lên được. Na Mèo đã chuyển mình, miền ngược miền xuôi gần nhau hơn.
*
Câu chuyện về cụ Vi Văn Hợi thì đã nhiều người biết đến, ai đến dải biên cương này bộ đội biên phòng đều kể về cụ như một nhân chứng sống. Cụ Hợi được coi như một cột mốc sống, xuất hiện nhiều trên báo đài với những đóng góp cho vùng biên ải, sống chết cùng mốc giới. Nhưng lần lên Na Mèo này chúng tôi còn có dịp gặp những người dân khác ở kề ngay cửa khẩu và câu chuyện về họ cũng gợi trong tôi nhiều suy ngẫm.
Ở kề cửa khẩu Na Mèo có một khu chợ đường biên mỗi tuần họp một lần vào sáng thứ bảy. Chợ dành cho đồng bào Lào sang ta mua bán, trao đổi hàng hóa dân sinh. Ở đây có nhiều mặt hàng rất đặc trưng mà có lẽ đặc biệt nhất là các loại côn trùng. Từ tờ mờ sáng, khi còn chưa rõ mặt người, cửa khẩu mở là bà con từ bên kia biên giới tất tả ào sang, vội vã và hoan hỉ, có người vừa đi vừa chạy. Thượng tá Hoàng Ngọc Bình đã cho chúng tôi mục sở thị một phiên chợ như thế. Khi cửa khẩu vừa mở, trước mắt tôi là cảnh người mang vác bao tải, người đẩy xe đẩy, người đeo sọt nhộn nhịp nhập cảnh. Đa số các bà các chị chỉ có một giỏ tre đeo sau lưng, trong ấy là rau cỏ, vài món kiếm trên rừng hay ở vườn nhà mang ra chợ bán, mỗi món chỉ vài nghìn đến vài chục nghìn đồng. Cảm giác không có gì nhiều trong những hành trang đến chợ của đồng bào. Bãi đất trống chờ họp chợ khi chúng tôi qua còn vương màu bóng tối và hoang hoải vắng, khi chúng tôi ra cửa khẩu chờ xem cảnh bà con qua họp chợ rồi quay lại thì như đã có một phép màu, đủ thứ hàng hóa, con người choán kín với những màu sắc, âm thanh, tiếng bán mua nhỏ nhẹ mà rạng rỡ, vui tươi, chứa đựng đầy sinh khí. Có một thứ người ta mang đến đây để bán mua mà hoàn toàn miễn phí cho nhau đó là nụ cười, là mua vui bán vẻ. Chẳng mấy ai đi chợ mà buồn, dù hàng bán được hay không, dù trời mưa hay nắng thì cứ được giao lưu, được gặp gỡ, được lọt thỏm trong cái chộn rộn nói cười, trong khói bay từ các hàng ăn, trong cái ngọ nguậy của những con vật, trong cái va quyệt với người anh em nước bạn giữa tiếng Việt, tiếng Lào đã cảm thấy mình đang thực sống. 
Trong cảnh tất bật ấy, một người đàn ông mặc áo bộ đội cũ bê một khay bánh rán đi về cuối chợ rồi quay lại với cái khay không. Tôi để ý thấy ông, trước đó, ngồi ở căn bếp dựng cuối một nhánh ngõ nhỏ rán bánh. Đầu nhánh ngõ nối với chợ là một căn nhà có kê bộ bàn ghế trước hiên. Một tầm view khá đẹp để ngồi chiêm ngắm cảnh bán mua cận kề, tôi bèn rẽ vào tính ngồi nhờ nhưng ngó nghiêng mãi không thấy gia chủ đâu để mở lời. Trên bàn có một bình trà mới pha còn ấm. Tôi mạo muội ngồi xuống rót xin một cốc trà ngồi nhâm nhi ngắm chợ. Thế rồi khi gia chủ xuất hiện chính là người đàn ông vừa ngồi rán bánh. Ông đem mẻ bánh nóng hổi ra tiếp tế cho vợ bán ở khu ẩm thực. Thay cho lời chào làm quen và xin lỗi vì sự thất thố, tôi mua vài chiếc bánh và xin phép được ngồi nhờ. Việc vãn một chút người đàn ông vào ngồi bắn một điếu thuốc lào, uống trà cùng chúng tôi. Và câu chuyện mở ra. Thật bất ngờ, ông là Nguyễn Hữu Tiến, một cựu binh chống Mỹ nay đã ở tuổi bảy lăm. 
Sinh năm 1952 trong một gia đình có tới 13 người con ở Ngọc Lặc cũ, tỉnh Thanh Hóa, năm 1970, khi vừa tròn 18 tuổi, chàng trai xã Ngọc Khê Nguyễn Hữu Tiến nhập ngũ vào Trung đoàn 14 tại Thanh Hóa. Đây là đơn vị chuyên huấn luyện quân vào Nam chiến đấu. Huấn luyện xong đoàn của ông hành quân vào Quảng Nam, rồi lại chia nhỏ một số đi chiến trường B2, một số đi chiến trường B3, ông nằm trong số ở lại Quảng Nam, tức chiến trường B1, về Trung đoàn 31, Sư 2. Sau đó ông được điều về Tiểu đoàn đặc công Tỉnh đội Quảng Nam. Từng tham gia trận đánh đồn Phước Lâm, Tiên Phước, Quảng Nam trong Chiến dịch Quảng Trị. Cũng ở trận đánh đó hầm của ông bị pháo địch đánh sập, ông may mắn nằm dưới cột hầm nên vẫn còn một khe nhỏ dưới đất đá vùi lấp để khi đồng đội đào bới được ông vẫn còn thoi thóp thở, còn hai chiến sĩ khác hy sinh. Sau một thời gian ông về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn huấn luyện, Sư 442, Quân khu 4. Giải phóng miền Nam, ông được đơn vị cho đi an dưỡng tại Hà Nam, trở về Thanh Hóa ông được giữ lại Trung đoàn 858 mới thành lập chuyên huấn luyện quân đi biên giới Tây Nam. Năm 1988 ông phục viên về quê mang theo vợ con. 
Trở về, ông Tiến tham gia công tác tại địa phương, làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thị trấn Ngọc Lặc cũ. Người khác làm ở vị trí ấy có chế độ hơn hai trăm nghìn mỗi tháng, còn ông vì đã có chế độ nên chỉ có phụ cấp 16 nghìn đồng, tuy vậy ông vẫn nhiệt tình cống hiến. Cuộc sống khó khăn nên vợ ông, bà Lê Thị Lộc, sinh năm 1961, vốn cũng là y tá của Sư 442 phục viên phải ngược xuôi chạy chợ kiếm thêm thu nhập. Bà theo xe đem những chuyến hàng lên vùng cao dọc tuyến Quốc lộ 217. Trong một chuyến như thế vào năm 1993, vì hàng nhiều hơn thường lệ mà ông Tiến phải đi theo đỡ vợ. Đó là lần đầu tiên ông biết tới Na Mèo. Không ngờ chuyến đi ấy thành duyên để ông bà gắn bó với vùng đất này. Năm 1994, ông Nguyễn Hữu Tiến và bà Lê Thị Lộc cùng ba con chính thức rời quê hương bồng bế nhau lên Na Mèo lập nghiệp. Khi gia đình ông gia nhập bản Na Mèo, làm hộ dân thứ 17 thì bản lúc đó mới thành lập được bảy năm. Bây giờ thì cộng thêm 33 năm nữa là 40 năm rồi. 
Bốn mươi năm tròn khi người lính trở về. Hiện tại ngồi trước mặt tôi là người đàn ông bên cửa khẩu Na Mèo, thương binh hạng ¾, mất 45% sức khỏe. Chế độ thương, bệnh binh của ông cộng lại mỗi tháng được mười triệu đồng. Bây giờ thì Na Mèo đã trở thành quê hương thứ hai. Mảnh đất có ngôi nhà mà ông bà và hai cậu con trai đang ở là mua từ ngày mới lên với giá 1,2 triệu đồng. Tiếng là ở vùng cửa khẩu nhưng việc buôn bán cũng chật vật. Chỉ đỡ việc không còn phải đi lại ngược xuôi theo mỗi chuyến hàng ngồi xe xóc nẩy cả ngày trời, làm cư dân vùng biên cuộc sống cũng tạm đủ. Bà Lộc vẫn cất hàng dưới xuôi lên bán, ông vừa phụ giúp vợ vừa tham gia công tác tại bản. Suốt chừng ấy năm ông Tiến vẫn là Phó trưởng bản Na Mèo, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh. 
Cuộc trò chuyện của chúng tôi bị gián đoạn bởi ông Tiến phải gọi cháu nội dậy đi học thêm, rồi tiếp tục mang bánh ra cho vợ. Trong những khoảng ngắt ấy chúng tôi đứng lên vào nhà ngắm nghía. Cả cuộc đời của người cựu binh vùng biên gói gọn trong căn phòng khách, trên những tấm huân chương giải phóng hạng Nhì, hạng Ba, tôi đếm cả thảy bốn chiếc và vô số những huân huy chương đóng khung treo trang trọng. Căn nhà đủ rộng cho cả ông bà và hai cặp vợ chồng của hai người con trai cùng sinh sống. Còn người con gái thì lấy chồng mãi Quảng Ninh, từ vùng xa này nối tới vùng xa khác. Một người con trai hiện cũng đi làm ngoài Quảng Ninh, ông bà ở nhà vừa làm vừa giúp con trông nom, nuôi dạy các cháu. 
Ông Tiến chia sẻ, chợ phiên Na Mèo trước đây mỗi tuần họp hai buổi vào thứ bảy, chủ nhật nhưng gần đây đường sá thông thương, hàng hóa có thể đến mọi nơi mọi chỗ, mọi ngóc ngách, người ta không cần phải nhất nhất đến chợ nên chợ chuyển qua họp một buổi một tuần. Cũng một buổi một tuần ông bà làm bánh rán mặn, bánh rán ngọt để bán. Mỗi phiên chợ ông bà ngồi rán hết mấy chục cân bột, kiếm thêm thu nhập phụ đỡ cho con cháu, còn phần lớn chi phí sinh hoạt vẫn trông vào tiền thương binh, bệnh binh và cả tiền gia đình có công của ông, bà thì phục viên không có chế độ gì, tiền về một lần mua được chiếc xe đạp, đi đã hỏng từ lâu. Hai người lính trở về từ biệt quê hương tiếp tục lên vùng biên lập nghiệp. Tuy ông coi việc đó là bình thường nhưng qua những gì ông đã trải thì nơi đây cũng chẳng khác nào một chiến trường mới. Bảo ông bà là cột mốc sống thì nghe có phần gượng gạo, vì cũng là mưu sinh, cũng là câu chuyện cơm áo gạo tiền nhưng thực sự những đóng góp vô hình của họ cho biên giới là có thật. Đến bây giờ, khi cuộc chiến đã đi qua hơn nửa thế kỉ thì nó vẫn như nối dài trong ông bà, đi qua chiến tranh, đi qua thời đổi mới, đi qua thời hội nhập, ông bà nếm trải cả. Dù là vùng cao nhưng mảnh đất ông bà sinh cơ lập nghiệp lại là cửa khẩu quốc tế, nên cái sự hội nhập cũng không khó để mà quan sát, vẫn nhìn thấy sự đổi thay hàng ngày. Dù thế thì hai con của ông bà vẫn thuộc diện hộ nghèo, sinh kế bền vững cho một tương lai cũng vẫn mang màu biên tái. Mấy năm trước, tỉnh Quảng Nam đã cử đoàn ra thăm gia đình ông Tiến, vì ông nằm trong danh sách người có công của tỉnh. Chứng kiến gia cảnh khó khăn nơi vùng biên của người cựu binh, đoàn của tỉnh Quảng Nam đã hỗ trợ gia đình 50 triệu đồng để sửa sang ngôi nhà đang ở, nhờ thế ngôi nhà cũng khang trang, tươm tất hơn. 
Câu chuyện của tôi với người cựu binh xoay quanh vùng đất Na Mèo mấy chục năm nay. Vì sao có tên gọi Na Mèo? Theo cựu chiến binh Nguyễn Hữu Tiến với trên ba mươi năm gắn bó với dải đất vùng biên đặc biệt này thì ông cho rằng, Na tiếng Thái nghĩa là ruộng, ở khu vực ruộng giáp biên thuở xưa có nhiều hổ, bà con bản địa kiêng gọi tên chúa sơn lâm thường gọi tránh đi là mèo. Khu ruộng có nhiều mèo là tên gọi sơ khởi dân gian để rồi cái tên Na Mèo đã chính thức là tên gọi hành chính gọi tên vùng biên vời vợi xa nơi địa đầu xứ Thanh, đầu mút của Quốc lộ 217. Những năm trước để lên Na Mèo, từ thành phố Thanh Hóa phải mất bốn ngày đường. Trong xã Na Mèo có bản Na Mèo, chính là bản cửa khẩu giáp biên nơi có gia đình cựu chiến binh Nguyễn Hữu Tiến. Năm 1993, khi vợ chồng ông từ Ngọc Lặc lên định cư và làm ăn nơi đây, khi ấy cả bản Na Mèo mới có 17 hộ dân, chủ yếu là người Kinh, vì là bản mới. Bây giờ thì bản đã lên tới 300 hộ với 1.200 nhân khẩu, là bản lớn nhất của huyện Quan Sơn trước đây. Mọi việc vùng biên bộ đội biên phòng phối hợp cùng nhân dân giải quyết, những người dân như ông Tiến chính là chỗ dựa vững chắc và tin cậ


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 240
 Hôm nay: 5498
 Tổng số truy cập: 16807559
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa