Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /     /   Mùa rẫy trong sương mù (Ghi chép)
Mùa rẫy trong sương mù (Ghi chép)

KHĂM KẸO THA NA SỦN THON

Mùa rẫy trong sương mù

Ghi chép

Có những mùa vụ không tính bằng ngày tháng, mà tính bằng nhịp thở của rừng già và độ dài của những cơn mưa rào đổ xuống mái tranh. Lúa nương của người Thái ở miền sơn cước Thiên Phủ, Quan Hóa, Thanh Hóa những năm 1990 trở về trước cũng vậy. Nó không vội vã như lúa ruộng dưới đồng bằng. Nó thản nhiên bén rễ, ngậm sương, rồi ròng rã cả năm trời mới chịu trổ bông, mới chịu chín vàng trên những sườn dốc cheo leo. Suốt mùa vụ dài đằng đẵng ấy, tuổi thơ tôi gói gọn trong chòi canh nhỏ bé, nơi ranh giới giữa thực tại nhọc nhằn và thế giới huyền mị của đại ngàn mong manh tựa làn sương khói.
Cuộc sống nương rẫy là chuỗi ngày lao động bền bỉ, từ lúc phát cây cho đến những buổi trồng trọt, làm cỏ, thu hái rồi gánh lúa về. Tôi nhớ đôi bàn chân nhỏ bé của mình đã quen với cái lạnh buốt của buổi sương mai, quen cả những con vắt, con muỗi nơi rừng già Thiên Phủ cứ chực chờ bám lấy da thịt. Giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng người gọi nhau vọng vào vách đá, tan vào hư không như một sợi dây vô hình, kết nối những con người bé nhỏ.
Nhưng rừng già luôn có những luật lệ ngầm mà kẻ làm rẫy phải thuộc lòng. Tôi nhớ mùa vụ năm ấy, mẹ chợt tỉnh giấc giữa đêm sau giấc chiêm bao kinh hãi. Trong mơ, một cụ già mắt vàng rực như hổ hiện ra, giọng khê nồng lời cảnh báo: “Con không được phát rẫy lên quá chỗ này, nơi đó là chốn thiêng. Nếu cố tình phạm vào, con sẽ phải trả giá đắt”. Mẹ bàn với bố dừng ngay lưỡi rìu phát nương đúng ranh giới được chỉ bảo. Nhưng nhà hàng xóm thì không tin. Họ tham cái bụng, muốn mở rộng nương nên đã vung rìu đốn hạ những cành đa cổ thụ trên đỉnh rẫy để lấy chỗ tra hạt. Khi lúa bắt đầu trổ đòng, tai họa giáng xuống đúng như lời nguyền: Người phụ nữ nhà ấy đổ bệnh nặng rồi qua đời khi mùa gặt còn chưa kịp tới.
Để bảo vệ hạt ngọc của đất trời, bố tôi dựng một hệ thống mõ tre kỳ công. Chỉ cần ngồi trên sàn chòi khẽ rung lắc sợi dây thừng, cả cánh rừng bỗng vang lên tiếng lạch cạch xua tan lũ chim rừng. Đêm về, tôi cuộn mình trong vòng tay mẹ, chiếc chòi lá trở thành pháo đài bình yên. Mỗi khi gió mưa thét gào giữa màn đêm, bà tôi thường vội vã ném nắm muối và bồ kết vào đống lửa, kèm theo những lời chú bí ẩn, những nắm gạo trắng tung ra với một niềm tin vào sức mạnh linh thiêng. Tiếng muối nổ lép bép lẫn trong hương bồ kết hòa tan trong mưa gió dựng lên một vòng kiết giới linh hiển. Người rẻo cao kiêng kỵ tuyệt đối việc thui lông thú ban đêm, tránh đánh thức bản năng khát máu của tà ma. Nỗi sợ ấy hiện hình qua những dấu chân quái dị của “Con Còi” (Phỉ Coong Còi) với bàn chân lật ngược, hay những tảng đá vương xác tôm cá còn vấy máu.
Đồng hành cùng tôi là con chó mực trung thành. Bộ lông đen tuyền của nó như tan vào bóng tối của rừng già, chỉ có đôi mắt sáng quắc là luôn canh chừng những điều bất định. Tôi nhớ mãi những buổi tảng sáng, khi trời còn mờ đặc sương đêm, nó đã đứng bật dậy ngoài cửa chòi, sủa vang đanh thép để xua đuổi những thứ chẳng lành đang lẩn khuất đâu đó.
Ám ảnh nhất trong ký ức tôi là căn chòi của người đàn bà bị dân bản nghi là ma cà rồng nằm lọt thỏm giữa triền dốc. Đó là một nơi kỳ quái, dẫu nắng hay mưa thì mái nhà lúc nào cũng lờ mờ nhòe đi, mờ mờ, trăng trắng, không biết là sương mù hay khói bếp đang lởn vởn tựa hồ đã lắng đọng từ trăm năm. Chẳng ai dám bén mảng đến gần, bởi họ đã từng bắt gặp bà ta xõa mái tóc bạc trắng trong những đêm trăng rằm, ngồi bên bờ suối nhai sống những ếch nhái, rắn rết còn vấy máu, nơi khóe miệng bà còn dính vẩy rắn tanh... Người ta bảo, nếu lỡ ăn đồ bà ta đưa, dính phải nước bọt của bà ta thì sẽ bị lây nhiễm cái "nghiệp" ma quái ấy. Có lần đi ngang bìa rừng, gặp tôi, bà ta chìa bàn tay đưa nắm xôi cốm thơm lừng gói trong lá chuối xanh. Con mực lập tức xù lông, hít hà trong gió rồi bỗng ngoe nguẩy cái đuôi. Tôi run rẩy ngước nhìn, chỉ thấy gương mặt bà có nhiều đốm rỗ thành sẹo, nhưng dưới mái đầu bạc kia là đôi mắt buồn tựa ánh hoàng hôn. Rồi chẳng hiểu sao tôi lại đưa tay nhận lấy. Ánh mắt ấy chợt lóe lên một niềm vui kỳ lạ. Tôi lắp bắp nói lời cảm ơn rồi cùng con mực bỏ chạy trối chết, nhưng nắm xôi trong tay vẫn còn nóng hổi, thơm mùi nếp mới - một mùi hương thanh sạch đến lạ lùng, khác hẳn với mùi máu tanh và những lời đồn thổi âm u nơi rừng thẳm. Những chiều mẹ mải đi bắt cua suối chưa về, tôi ngồi trên chòi nhìn bóng tối dần nuốt chửng cánh rừng, đưa mắt về phía căn chòi "nhòe mờ" kia mà khóc nấc vì sợ hãi sự im lặng thâm u đang bủa vây lấy những kiếp người cô độc bị ruồng bỏ nơi bìa rừng lạnh lẽo. Lúc ấy, con mực lại tiến sát bên, dịu dàng liếm lên đôi bàn chân lấm lem của tôi an ủi. Tôi ôm chặt lấy cổ nó mà nức nở đợi mẹ.
Hành trình gánh lúa về bản là thử thách qua những con thác ma ám của suối Huổi Khuyênh, nơi linh hồn đứa trẻ lạc mẹ vẫn than khóc. Bà kể, thuở xưa, khi dân bản Na Chiêng cùng dân các bản Choong, bản Sài, bản Xắng chạy giặc, có những đứa trẻ rơi xuống thác nước dữ dội rồi chết mất xác, đêm đêm vẫn cất tiếng khóc đòi mẹ ai oán. Khi có người bị “ma thác” ám, bà tôi lại sắm lễ sa nhân, gạo muối ném đi bốn phương tám hướng để dàn xếp. Tôi thường đứng cạnh “đọc đón đầu” lời chú khiến bà móm mém cười: “Sao cháu lại đọc trước bà?”, tôi đáp: “Đằng nào bà chả đọc thế, cháu đọc trước cho bà đỡ mệt ạ”. 
Sau khi thụ lộc thịt vịt trên tảng đá giữa dòng nước xiết, hai bà cháu tiếp tục lên đường trở về. Bên cạnh tôi, con mực nép sát vào để canh chừng đầy tin cẩn dẫn lối. Trên đầu chúng tôi, những tiếng ve rừng não nuột vang vọng như cuống cuồng gọi ánh chiều tàn tan biến để bóng tối bao trùm lấy vạn vật. Tiếng ve mỗi lúc một dày, xoáy vào không gian như muốn quét sạch những tia nắng cuối cùng còn sót lại trên ngọn lau, vách đá. Tôi nắm chặt lấy cánh tay gầy guộc của bà, bước đi dứt khoát, lòng thắt lại vì một nỗi sợ không tên. Tuyệt đối không ai dám ngoái đầu nhìn lại, bởi tôi biết chỉ cần một ánh mắt lỡ làng, tiếng khóc ai oán nơi thác ma hay bóng hình nhòe mờ của căn chòi trên triền dốc sẽ lập tức vươn dài những ngón tay sương khói để níu lấy gót chân. Phía sau lưng là đại ngàn đang đổ ập xuống như một tấm lưới đen khổng lồ, nhưng chui qua đoạn rừng tối om, bản Na Chiêng hiện ra với những làn khói bếp lãng đãng vờn bay trên các nóc nhà sàn - thứ khói ấm áp vị đoàn viên khác hẳn với khói bồ kết trừ tà nơi rừng thẳm.
Nhưng rồi bà tôi qua đời. Sự ra đi của bà để lại một khoảng trống mênh mông. Chính sau đó, định mệnh nghiệt ngã mới tìm đến bố. Một buổi chiều đi tìm sâu măng rừng, ông gặp mưa và vào trú tại một hang động. Thấy phiến đá bằng phẳng ngay cửa động, bố nằm ngủ thiếp đi vì mệt mỏi. Trong cơn mơ màng, ông thấy có người rủ đi uống rượu cần, đưa đến nơi toàn người ăn mặc diêm dúa. Giữa thứ ánh sáng mờ tỏ, chập chờn lướt qua những vách đá vôi, tiếng khèn sáo bỗng cất lên dìu dặt, người người dập dìu ca múa như trong một lễ hội của cõi thâm u nào đó. Tỉnh dậy, bỗng thấy rã rời như vừa bị rút cạn nhựa sống. Bố trở về nhà thì lên cơn sốt nặng, thuốc thang mãi không khỏi. Gia đình phải mời thầy cúng Khăm Lả về làm lễ. Thầy trầm ngâm bảo: “Đợt này cúng chỉ tạm được thôi, chứ chưa hoàn toàn cắt đứt được duyên âm mà chủ nhà đã vướng mắc nơi cửa hang đó”. Quả nhiên, ba năm sau ngày bà mất, căn bệnh cũ tái phát trầm trọng, ông cũng rời bỏ mẹ con tôi mà đi.
Bố đi rồi, ngôi nhà sàn cũ dường như cũng gầy rộc đi vì thiếu hơi người. Ngày chuẩn bị dựng ngôi nhà mới để mẹ con có chỗ nương thân, con chó mực bỗng có những biểu hiện lạ. Nó không còn sủa vang đanh thép như trước mà thường ngồi lặng lẽ ở ngưỡng cửa, đôi mắt buồn rượi nhìn xa xăm vào đại ngàn, như thể nó đang lắng nghe một lời nguyền nào đó từ rừng thẳm vốn đã đeo bám từ mùa vụ năm xưa.
Sự nghiệt ngã ập đến ngay trong ngày dựng nhà mới. Khi những cây luồng lớn được kéo về, con chó mực, có lẽ vì quá quấn quýt bên chân chủ, hoặc giả như nó đã nhìn thấy một "vận hạn" nào đó đang lao đến phía mẹ con tôi, nó đã lao ra đúng lúc bánh xe luồng trượt dốc. Tiếng luồng va vào đá chát chúa, và rồi tất cả lịm đi. Nó nằm xuống lặng lẽ ngay ngưỡng cửa ngôi nhà mới, máu thấm sâu vào đất. Cái chết của nó đột ngột như một sự thế thân cuối cùng. Tôi sững người, tim đau nhói, nhận ra mình vừa mất đi một "người bảo vệ" trung thành.
Đôi khi tôi tự hỏi, liệu đó có phải là cái giá cuối cùng mà gia đình tôi phải trả cho rừng già? Hay con chó mực ấy đã tình nguyện nằm xuống để trở thành một "vật hiến tế", hóa giải cho lời nguyền của rừng thiêng?
Giờ đây, mỗi khi đứng trước một làn sương hay ngửi thấy mùi khói bồ kết hăng nồng, tôi lại nghe như có tiếng mõ tre lạch cạch vang vọng từ một miền xa thẳm. Những mùa rẫy đã lùi vào dĩ vãng, bà và bố cũng đã tan vào đại ngàn nhưng hình bóng con mực vẫn đứng đó, sủa vang giữa màn sương mờ đặc trong ký ức để xua đuổi những điều không may.
Hóa ra, chúng ta không bao giờ thực sự rời khỏi cánh rừng ấy vì nó vẫn luôn ở trong tim, với tất cả những lời nguyền, nỗi sợ và cả những tình yêu thương đã hóa thạch. Có những người ra đi là để canh giữ, và có những cái chết là để những người còn lại được sống tiếp trong sự bình yên. Ký ức về mùa rẫy không phải là một câu chuyện đã kể xong, mà là một bản ghi âm vĩnh cửu, cứ lặp đi lặp lại tiếng bước chân ngược của Con Còi, tiếng niệm chú của bà và sự vỗ về của người bạn bốn chân. Tất cả như nhắc nhở tôi rằng: Giữa đại ngàn bao la, con người nhỏ bé nhưng chưa bao giờ cô độc, chừng nào họ còn biết kính sợ và yêu thương.
                       

 K.K.T.N.S.T


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 245
 Hôm nay: 5529
 Tổng số truy cập: 16807590
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa