Hồn luồng thức giấc giữa đại ngàn xứ Thanh (Bút ký dự thi)
LÊ TRANG
Hồn luồng thức giấc giữa đại ngàn xứ Thanh
Bút ký dự thi
Trận mưa rào bất chợt đến như một cái cớ đầy duyên nợ ngay khi đoàn văn nghệ sĩ đặt chân đến Thiên Phủ. Ngồi trong xe, lắng nghe tiếng mưa rơi rào rạt và nhìn ngắm những vạt luồng xanh mờ nhòe qua ô cửa kính, lòng ai cũng bảng lảng một chút âu lo xen lẫn mong chờ. Cứ ngỡ rằng chuyến đi sẽ nhuốm màu ảm đạm. Nhưng đại ngàn luôn biết cách vỗ về những bước chân du khách. Khi xe vừa dừng bánh trước cổng Ủy ban nhân dân xã Thiên Phủ, đất trời chợt bừng sáng, nắng trưa len lỏi qua từng kẽ lá, vén mở một không gian tinh khôi, mướt mát đẹp như bức tranh vừa vẽ xong. Cơn mưa ấy hóa ra lại là nghi thức đón khách đầy tinh tế của mảnh đất này, rũ bỏ hết bụi đường để gửi tặng tôi một tâm hồn trong trẻo nhất. Phải chăng, đó là sự chuẩn bị cần thiết để chúng tôi sẵn sàng hòa mình vào thế giới của luồng xanh, nơi những câu chuyện đổi đời sắp sửa được kể bằng thanh âm của núi rừng?
Cánh cửa xe vừa mở ra, hơi thở nồng hậu của đất trời Thiên Phủ đã ùa vào, quyện cùng nụ cười hiếu khách của những con người nơi đây. Dẫn đầu đoàn cán bộ xã ra tận xe đón chúng tôi là anh Phan Văn Đại - Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Anh gây ấn tượng với người đối diện bởi vóc dáng cao lớn, thanh thoát cùng nước da trắng, khuôn mặt rạng rỡ. Sau cặp kính trắng thư sinh là đôi mắt như biết nói, luôn rạng ngời niềm vui mỗi khi bắt chuyện. Cách anh đón khách bằng một phong thái tràn đầy năng lượng khiến khoảng cách giữa chủ và khách dẫu mới gặp lần đầu cũng bỗng chốc tan biến.
Quây quần bên bàn họp cùng những chén trà đã được chuẩn bị sẵn, cả đoàn chúng tôi chăm chú lắng nghe anh Đại chậm rãi kể về Thiên Phủ. Qua lời kể của anh, vùng đất này sống động hiện ra qua lăng kính của một người trí thức trẻ. Anh kể về Thiên Phủ không bằng những số liệu khô khan trong báo cáo mà bằng thứ ngôn ngữ tình yêu say mê của một người đã bị mảnh đất này “hút hồn”. Ít ai ngờ rằng, người cán bộ ấy chỉ mới rời miền xuôi lên đây nhận nhiệm vụ chưa đầy một năm. Vậy mà, trong từng câu chữ, từng ánh mắt, tôi thấy cả một sự gắn bó máu thịt, như thể anh đã thuộc về núi rừng này từ bao đời nay.
Cũng phải thôi, có yêu đất, yêu người đến thế thì anh mới thuộc lòng từng nếp nhà, từng con dốc nơi đây. Chính sự nhiệt huyết của anh khiến căn phòng họp như bớt đi vẻ nghiêm nghị thường thấy. Cả đoàn chúng tôi ngồi lặng đi, chăm chú dõi theo từng lời anh Đại giới thiệu về mảnh đất Thiên Phủ.
Thiên Phủ được thành lập trên cơ sở sáp nhập xã Nam Động và xã Thiên Phủ (cũ). Với diện tích rộng gần 150 km2, dân số 6.485 người, gồm người Thái, Mường và Kinh sinh sống tại 13 bản. Địa phương đang tập trung mọi nguồn lực để khai thác những giá trị tự nhiên nguyên sơ và bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào Thái, Mường nhằm kiến tạo một điểm đến du lịch xanh bền vững.
Sức sống của Thiên Phủ gắn liền với con số hơn 6.000 ha rừng luồng, cây luồng phủ xanh gần hết tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã. Chính vì vậy, chính quyền địa phương muốn du lịch Thiên Phủ mang đậm bản sắc văn hóa tre luồng. Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn là tầm nhìn chiến lược dài hạn nhằm biến sắc xanh của rừng luồng thành biểu tượng trỗi dậy, đưa hồn cốt mộc mạc của đồng bào Thái, Mường trở thành một thương hiệu du lịch sinh thái khác biệt, một dấu ấn không thể trộn lẫn của mảnh đất vùng cao Thanh Hóa.
Như để dẫn chứng cho những chính sách cụ thể của chính quyền anh Đại hào hứng chia sẻ những dự án lớn: Con đường nối Quốc lộ 15C với những bản xa nhất của xã Thiên Phủ dài hơn 9 ki lô mét, đang được nâng cấp với vốn đầu tư 60 tỷ đồng của Nhà nước. Một nhóm chuyên gia đã về tiến hành khảo sát làm dự án xây dựng khu homestay rộng 20ha thành bước đệm vững chắc để nhân rộng ra các hộ dân trong toàn xã. Trong kiến trúc của dự án ấy, cây luồng làm linh hồn chủ đạo cho mọi nét kiến trúc, từ những vách nhà mộc mạc cho đến những hàng rào bao quanh, tạo nên một không gian đậm chất bản địa. Du khách tương lai đến đây sẽ không còn là những người đứng ngoài quan sát, mà được thực sự sống trọn vẹn đời sơn cước; đó là trải nghiệm lên rừng hái măng trong sương sớm rồi trở về thưởng thức vị ngọt đắng của món măng luồng giữa bếp lửa bập bùng. Ngoài ra du khách còn được tham gia hành trình khám phá hang Nàng Mọn - một kiệt tác giấu mình trong núi đá vôi bấy lâu nay chưa được đánh thức, nơi những khối nhũ đá lung linh vờn theo mây trắng hòa cùng tiếng suối reo và thác nước đổ rì rầm ngay giữa lòng động. Cùng với những tổ hợp tác dệt thổ cẩm miệt mài gìn giữ bản sắc, Thiên Phủ còn tràn trề nhựa sống với những mô hình nuôi lợn đen, dúi rừng hay những đồi quế, mắc ca đang bén rễ xanh màu hy vọng…
Anh Đại tin rằng, mai này những phiên chợ Thiên Phủ họp đều đặn hai lần mỗi tháng sẽ không còn thuần túy là nơi giao thương, mua bán, mà sẽ hóa thành ngày hội văn hóa thực sự - nơi hội tụ trọn vẹn sắc màu bản sắc, âm thanh khèn, chiêng và lòng hiếu khách của đồng bào Thái, Mường giữa đại ngàn. Bức tranh Thiên Phủ trỗi dậy giữa núi rừng hiện lên đầy mê hoặc qua lời kể của anh Đại, khiến chúng tôi không thể ngồi yên. Tâm trí ai cũng háo hức được mục sở thị cuộc sống vùng cao, được chứng kiến cách đồng bào Thái biến cây luồng thành linh hồn du lịch cộng đồng đã thôi thúc những bước chân vội vã lên đường.
*
Đoàn chúng tôi đến bản Lở vào một buổi chiều khi khói bếp bắt đầu len lỏi qua kẽ lá rừng, mỏng manh như một tiếng thở dài của đất. Con đường bê tông vào bản đủ hai làn xe chạy, uốn lượn như dải lụa mềm vắt ngang sườn núi, dẫn lối tôi vào một thế giới của thời gian ngưng đọng. Bản làng đang chuyển mình, không ồn ào như phố thị, mà râm ran như mạch nước ngầm. Hiện ra trước mắt chúng tôi là hai dãy nhà sàn thẳng tắp, đối xứng nhau. Điểm nhấn làm say lòng người là hàng rào tre luồng nối dài được sắp đặt nghệ thuật qua đôi bàn tay tài hoa của người dân, tạo nên một không gian sống tập thể gắn kết. Ở đây tuyệt nhiên không có những khối bê tông vô hồn làm biến dạng dáng hình của tạo hóa, cũng chẳng có những biển hiệu đèn led lòe loẹt át đi ánh trăng rừng trong trẻo. Tài sản lớn nhất của người dân nơi đây là một vùng nguyên liệu tre luồng bạt ngàn, xanh mướt và lòng hiếu khách chân thành.
Chúng tôi dừng chân tại một ngôi nhà sàn homestay bề thế, gồm bốn gian chính, hai gian phụ dựng trên những hàng cột luồng đại ngàn to khỏe, láng mịn và được sơn bóng loáng. Tối nay cả đoàn sẽ nghỉ lại tại đây. Bước qua chiếc cổng tre thô mộc, tôi chợt khựng lại trước một bóng hình tĩnh lặng dưới gầm nhà sàn. Đó là một cụ già ngồi tựa lưng vào cột nhà, mái tóc già bạc phơ. Già ngồi đó đôi bàn tay nhăn nheo đan chặt vào nhau, bất động như một pho tượng đá cổ của núi rừng, ánh mắt đăm chiêu nhìn ra khoảng sân rộng trước nhà. Ở đó, thanh niên trong bản đang ríu rít khiêng những khúc tre, thân gỗ dài để chuẩn bị cho buổi khua luống tối nay. Tiếng cười nói, tiếng gỗ va chạm vang lên giòn giã. Với tôi đó là âm thanh lạ tai, nhưng với già đó là nhịp đập của cả một đời người.
Thấy khách lạ tới, già khẽ gật đầu, nở một nụ cười hiền hậu làm xô lại những nếp nhăn thời gian trên khuôn mặt sạm nắng gió. Sau khi cất đồ đạc tôi xuống lân la trò chuyện và biết già tên Hà Văn Nghét, 76 tuổi, người Mường, chính là bố của anh Hà Văn Bình chủ homestay. Cuộc sống của già trôi qua bình yên bên người bạn đời trong nếp nhà sàn cũ cách đây không xa, vừa đủ gần để ngày ngày trông ngóng, chở che cho con cháu. Cứ thế, thành một thói quen vô thức, khi sương mù còn giăng khắp các ngả đường và bản Lở vẫn còn chìm trong giấc ngủ, bóng già đã đổ dài trên lối mòn quen thuộc dẫn sang nhà con trai, con gái. Già đến từ sớm, khi những ánh đèn homestay đầu tiên chưa kịp thắp, lặng lẽ phụ giúp con cái những việc không tên. Khi thì già nhặt nhạnh mấy cây củi khô xếp lại góc bếp, lúc lại tỉ mẩn sửa chiếc cổng tre, lau cái bàn gỗ,... Già làm tất cả bằng sự tận tụy, bằng cái tình của người cha muốn góp chút sức nâng đỡ những bước đi chập chững làm du lịch của các con mình. Để rồi, khi mọi việc đã xong xuôi, khi không gian bắt đầu rộn rã tiếng cười nói của khách du lịch, người ta lại thấy bóng già lẳng lặng rời đi, khuất dần. Già cũng là người đã chứng kiến từng nhịp thở thay đổi của mảnh đất này.
Khi tôi hỏi về nguồn gốc của bản, đôi mắt già bỗng rực sáng, giọng già trầm xuống, đưa tôi ngược thời gian trở về nhiều năm trước: “Cái tên bản Lở này, nó bắt đầu từ một nỗi đau cháu ạ”.
Ngày ấy bản cũ nằm sát bên bờ suối, cứ ngỡ dòng suối là nguồn sống, là nơi cung cấp nước cho cái ruộng, cái ngô, nhưng thiên tai chẳng ai ngờ được. Mỗi mùa nước lũ đổ từ đỉnh núi phía sau xã Thiên Phủ xuống, cuốn phăng tất cả và bỏ lại những vạt đất lở loét như vết thương trên da thịt bản làng. Rừng kiệt, đất cằn, cái đói, cái nghèo cứ thế bám riết lấy những mái nhà xiêu vẹo. Đỉnh điểm vào đêm định mệnh năm 2019 khi tiếng đất đá gầm rú át cả tiếng người gọi nhau trong vô vọng, những hộ dân sát bên bờ suối nhiều nhà bị vùi lấp, nhiều người mất tích. Sau đợt sạt lở kinh hoàng ấy, năm 2022 chính quyền vào cuộc vận động và hỗ trợ 34 hộ dân mất nhà di dời vào khu tái định cư an toàn này. Thế rồi, đó cũng là lúc bước ngoặt lịch sử mở ra: bản Lở khu tái định cư được chọn để xây dựng mô hình du lịch cộng đồng. Một cuộc hồi sinh thần kỳ bắt đầu từ những bàn tay kiến tạo. Với nguồn kinh phí từ Nhà nước hỗ trợ khoảng 300 triệu đồng cho mỗi hộ, mặt bằng được san lấp, mở lối, kéo điện lưới thắp sáng và dẫn mạch nước sạch. Mỗi hộ nhận 300m2 đất quy hoạch, người dân bản Lở khu tái định cư như được tiếp thêm luồng sinh khí mới, tự nguyện đồng lòng góp công, góp của dựng lại nếp nhà mới. Sự chung sức ấy đã tạo nên một kỳ tích giữa đại ngàn. Trong 54 hộ hiện tại, chỉ có 8 hộ chọn làm nhà xây, còn lại đều gìn giữ nếp nhà sàn truyền thống. Đó không đơn thuần là chốn che mưa che nắng, mà là những công trình văn hóa sống động, bề thế. Những nếp nhà sàn vốn chỉ mở cửa đón người thân, nay luôn rộng mở, sẵn sàng rộn rã tiếng cười đón bước chân du khách về, viết tiếp cuộc đời ấm no đầy hứa hẹn.
Rồi già chỉ tay ra hiên nhà, nơi những đứa con của già đang tất bật hướng dẫn khách du lịch nấu các món ăn truyền thống. Ánh mắt già bỗng trở nên lấp lánh lạ thường: “Nhà nước cho cái nền móng, chính quyền cho cái hướng đi, còn con cháu mình thì bỏ cái sức, cái tâm. Giờ thì bản Lở không còn lo lở đất, lở núi nữa. Cái tên “Lở” bây giờ nghe không còn thấy buồn, thấy sợ, mà nhắc người ta nhớ về cái gốc rễ gian khó. Những đứa con của già, vốn từng bươn chải đủ nghề dưới xuôi hoặc đi xa quê hương kiếm sống cách đây vài tháng dắt díu nhau về lại bản. Chúng tỉ mẩn sửa sang lại nhà cửa, đánh bóng từng cây cột gỗ để đón khách”.
Dường như trong mắt già Nghét, sự đổi thay không chỉ là việc có được mái nhà vững chãi hơn, mà là cách Nhà nước đã cầm tay chỉ việc, dẫn lối cho cái nghề mới về bản. Từ một nơi “ở tạm” để tránh thiên tai, bản Lở khu tái định cư đã được đầu tư điện, đường, trường, trạm. Và kỳ diệu hơn cả là sự xuất hiện của du lịch cộng đồng.
Chăm chú nghe già kể về hành trình hồi sinh của bản, tôi khẽ hỏi:
- Thế những ngày đầu khi thấy con cái trong nhà, mọi người trong bản bàn nhau làm homestay, đón người lạ từ khắp nơi về ăn, ở, già có thấy bỡ ngỡ hay lo lắng điều gì không?
- Lúc đầu già cũng lạ lẫm lắm, nhưng giờ thì già hiểu rồi. Làm du lịch không phải là bán đi bản sắc, mà là khoe ra cái đẹp của tổ tiên mình. Cháu xem, giờ thì già ưng cái bụng rồi. Không làm du lịch, thanh niên có khi bỏ bản đi làm thuê hết, tiếng khèn, tiếng khua luống này chắc cũng theo người già về với đất thôi. Giờ làm du lịch, người trẻ lại tự hào mặc áo của dân tộc mình, tự tay dệt thổ cẩm, gõ lại điệu khua luống mà tổ tiên truyền lại. Du lịch làm cho người ta biết quý cây rừng, biết giữ gìn nếp sống văn minh và biết tự hào mình là người bản Lở.
Câu nói của già vừa dứt từ dưới bếp cháu trai già đưa lên một ống luồng còn tươi nguyên, khói nóng thanh khiết tỏa ra nghi ngút. Già nâng niu ống luồng, khẽ khàng rót dòng nước xanh ngọc bích vào chiếc cốc tre mộc mạc, cả không gian như ngưng đọng lại trong một nghi thức thiêng liêng. Sau đó, già đẩy chiếc cốc về phía tôi và nói: “Chè xanh hãm trong ống luồng đấy, cháu uống đi cho ấm cái bụng”. Tôi đón lấy chiếc cốc tre, nhấp một ngụm trà nóng hổi, vị chát nhẹ nơi đầu lưỡi nhanh chóng tan đi, nhường chỗ cho vị ngọt hậu thanh tao đọng lại nơi cổ họng. Tôi bỗng nhớ đến con số hơn 6.000ha rừng luồng mà anh Đại vừa chia sẻ ở Ủy ban nhân dân xã khi sáng. Hóa ra, dải lụa xanh thênh thang bao bọc lấy Thiên Phủ không chỉ nằm trên bản đồ quy hoạch hay những dự án vĩ mô, mà nó đang hiện hữu ngay trong lòng bàn tay tôi lúc này. Sắc xanh đại ngàn đã hóa thân thành ngụm trà ấm nóng, tinh túy và nồng hậu. Hình ảnh một ống luồng hãm chè xanh đặt bên cạnh những chiếc cốc cũng được đẽo gọt từ ống tre tươi, sự kết hợp đồng điệu ấy khiến cây luồng như hóa thân thành sứ giả văn hóa đánh thức mọi giác quan của khách khi tới đây.
Gian bếp phía sau nhà tiếng củi nổ lép bép dội ra đều đặn cắt ngang dòng suy nghĩ miên man trong tôi. Tôi đặt chiếc cốc tre còn vương khói xuống bàn xin phép già rồi lui về phía nhà dưới. Chị Lò Thị Nga, con dâu già Nghét đang ở đó, lửa trong bếp nhà sàn hắt những quầng sáng bập bùng lên gương mặt hiền hậu của chị. Thấy có bóng người, chị ngẩng đầu lên, quệt vội vệt than đen trên má rồi bẽn lẽn cười: “Nhà báo đã đói bụng chưa? Chờ chút nữa thôi, cơm chuẩn bị sắp xong rồi”. Tôi kéo chiếc ghế gỗ thấp ngồi thụp xuống đối diện chị, đưa tay giúp chị đẩy thanh củi to vào bếp. Dưới làn hơi nước sôi sùng sục trên bếp, ánh lửa bập bùng của bếp lửa như một cái cớ tự nhiên khơi dòng cho câu chuyện về những ngày xa quê hương qua ánh mắt trầm tư của chị.
Nhiều năm trước vợ chồng chị Nga ra Hải Phòng làm nến công nghiệp, thu nhập của anh chị rất ổn định, tháng nào cũng tích góp được một khoản đều đặn gửi về nuôi con. Thế nhưng cuộc mưu sinh xa quê hương ấy chẳng hề dễ dàng. Có đêm tăng ca muộn, đứng giữa dây chuyền nghe tiếng máy chạy xình xịch, đôi bàn tay chị mải miết luồn bấc, đổ khuôn một cách vô cảm. Những lúc như thế, lòng chị lại thắt lại vì nhớ mùi khói bếp, nhớ ngọn luồng xanh ngắt và nhớ cả tiếng gió của đại ngàn Thiên Phủ. Nhất là những ngày giáp tết nỗi nhớ bố mẹ, thương các con cứ trực trào theo nước mắt. Đồng tiền kiếm được dẫu có dư dả, mà lòng chị lúc nào cũng trống trải, chênh vênh.
Đợt rồi người nhà gọi điện báo tin chính quyền xã đang tuyên truyền, hỗ trợ dân bản làm du lịch cộng đồng. Nghe xong vợ chồng chị mừng lắm. Sau một đêm bàn bạc anh chị đưa ra quyết định về quê, tự nhủ với nhau “có cháo ăn cháo, có rau ăn rau” cốt là được gần bố mẹ và các con. Anh chị mới dọn về từ đợt tết Nguyên đán vừa rồi, tính ra cũng mới làm homestay được vài tháng. Khách khứa còn thưa thớt lắm, bản thân chị lại quen với công việc chân lấm tay bùn nên mỗi lần đón khách đều không tránh khỏi bỡ ngỡ, lóng ngóng, chẳng biết ăn nói sao cho khéo.
Nhưng rồi chị ngước nhìn tôi, giọng chị nhẹ nhàng xen lẫn chút lúng túng: “Nhà mình mới làm, anh em trong nhà tự tay phụ giúp nhau dựng cả nên mọi thứ còn sơ sài lắm. Mọi người tới chơi có gì thông cảm cho nhà mình nhé! Nhưng cô xem, được ngồi bên bếp lửa nhà mình, tay chân tuy có lấm lem nhựa luồng, mà cái bụng nó nhẹ nhõm, thảnh thơi đúng không?”. Chính cái sự lúng túng đầy chân thành ấy khiến tôi nhận ra rằng: người dân bản Lở làm du lịch tự nhiên như chính hơi thở của họ. Không vồn vã, không thương mại hóa, nơi đây chỉ có nụ cười hiền hậu và cái gật đầu chào khách đầy thân thiện.
Bản Lở hiện tại vẫn đang bắt đầu những bước đi chập chững đầy “nhen nhóm”. Nhược điểm của một bản mới làm du lịch cộng đồng hiện lên rất rõ: những cung đường vào bản còn gập ghềnh sỏi đá, dịch vụ homestay còn mang nặng tính tự phát và đầy lúng túng. Những người chủ nhà sàn vốn chỉ quen với cầm dao quắm lên rừng hái măng nay gượng gạo học cách trải giường, cách bày biện mâm cơm lót lá chuối sao cho vừa mắt khách. Thế nhưng, chính trong sự vụng về ấy, người ta lại tìm thấy một sức sống mãnh liệt của cội nguồn. Du khách tìm đến với bản Lở không phải để kiếm tìm những phòng nghỉ sang trọng, mà để được đắm mình trong tiếng khua luống truyền đời, được nếm vị đắng ngọt của bát măng rừng và cảm nhận cái tình chân chất của người dân nơi đây. Việc thế hệ trẻ nơi đây bắt đầu quay lại học đánh khua luống, học dệt thổ cẩm để làm du lịch chính là tín hiệu vui cho thấy “hồn bản” đang thực sự thức giấc từ sâu bên trong gốc rễ.
Hơn hết, người dân bản Lở không hề đơn độc trên con đường đi tìm sinh kế mới. Sự trỗi dậy này không chỉ đến từ khát khao của người dân, mà còn có sự tiếp sức từ những người đứng đầu ở xã Thiên Phủ. Chính quyền địa phương không chọn cách “làm thay” cho dân, mà chọn cách đứng sau để trao cái vốn, dạy cái chữ cho dân. Theo anh Hà Quang Hạnh, Trưởng bản Lở chia sẻ: Những buổi tập huấn làm du lịch cho bà con đều diễn ra ngay dưới gầm nhà sàn. Ở đó, các cán bộ cứ kiên nhẫn chỉ cho dân bản từ những việc nhỏ nhất như cách gấp chăn màn sao cho vuông vắn, sạch sẽ, rồi cách dọn dẹp vệ sinh quanh các bụi luồng. Cùng với đó, những khoản vốn vay ưu đãi để sửa sang lại nhà cửa, nhà vệ sinh như nguồn động lực tiếp sức cho người Thái, Mường nơi đây thay đổi nếp nghĩ, tự tin bước ra khỏi nương rẫy cũ để làm những việc lớn hơn”.
Xe lăn bánh rời bản Lở trong một buổi sáng sớm, khi đất trời đổ trận mưa rào như cái cớ lưu luyến lúc chia tay. Ngoảnh lại nhìn qua ô cửa kính, ngôi bản nhỏ bé và yên bình cứ lùi dần rồi tan vào sắc xanh ngút ngàn của núi rừng Thiên Phủ. Đi giữa không gian ấy, tôi cảm nhận rõ hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững đang từng ngày làm thay đổi diện mạo cuộc sống của người dân vùng cao. Bước chân chúng tôi dẫu phải rời xa, nhưng thanh âm mộc mạc của ngàn xưa vọng lại cùng nghĩa tình son sắt của mảnh đất này sẽ còn vang vọng mãi trong tâm tưởng - minh chứng cho một chương mới đầy hứa hẹn, nơi hồn luồng thức giấc giữa đại ngàn xứ Thanh.
L.T