QUỲNH THƠM
Nơi mạch nguồn còn thức
Bút ký dự thi
Những ngày hè oi ả, cái nóng đặc quánh giăng khắp phố xá. Những dãy nhà bê tông im lìm dưới cái nắng đổ lửa, mặt đường hắt lên những làn hơi hầm hập. Giữa cái ngột ngạt ấy, tôi lại thấy nhớ núi, nhớ rừng. Tôi thèm cảm giác được bước thật chậm dưới những tán cây xanh mát, hít căng lồng ngực mùi của đất đai và hương rừng thoảng đưa trong gió. Bản Bút bình yên dưới chân núi chợt hiện lên trong tôi. Đã nhiều tháng trôi qua kể từ chuyến đi ấy, nhưng mỗi khi nhớ đến bản Bút lòng tôi lại dâng lên cồn cào, da diết. Khi ký ức ùa về, hình ảnh đầu tiên hiện ra không phải mặt hồ Pha Đay xanh biếc giữa đại ngàn, những nếp nhà sàn truyền thống thấp thoáng bên sườn đồi. Thứ trở lại trước tiên lại là âm thanh. Những âm thanh vọng về từ một miền xa thẳm. Tiếng thoi đưa lách cách bên khung cửi dưới gầm sàn. Tiếng chiêng, tiếng khua luống ngân vang giữa màn đêm mịt mùng. Tiếng củi nổ lép bép bên ché rượu cần dậy thơm mùi men lá... Những âm thanh mộc mạc, tồn tại như một phần của bản làng vùng cao. Ấy vậy mà khi ở bản, tôi không mấy để tâm đến. Chỉ khi rời đi, chúng mới lần lượt rủ nhau trở về trong ký ức tôi. Rõ ràng đến lạ!
*
Từ trung tâm huyện Quan Hóa (cũ), chiếc xe chậm rãi men theo cung đường khúc khuỷu, quanh co ôm lấy sườn núi, hướng về phía Tây. Chưa đầy chục cây số, bản Bút hiện ra giữa thung lũng hạ lưu sông Luồng, nép mình dưới chân núi Pha Đeng. Những triền đồi xanh ngút ngàn, ruộng bậc thang như những vạt thổ cẩm gối đầu lên nhau trải dài. Những nếp nhà sàn thấp thoáng dưới tán cây. Hơn 1000ha rừng nguyên sinh bao bọc quanh bản, tạo nên không gian xanh thẳm, mát lành quanh năm. Con suối Bút và Hang Dàm róc rách ngày đêm như khúc tự tình của đại ngàn. Bản Bút hiện có 106 hộ dân, trong đó 98% là đồng bào dân tộc Thái. Họ quần tụ nơi đây từ bao đời, sống dựa vào rừng núi, gắn bó với thiên nhiên và gìn giữ văn hóa dân tộc mình.
Đón chúng tôi là anh Hà Công Chức, Bí thư chi bộ kiêm Trưởng bản Bút, người dân tộc Thái. Dáng người cao to, rắn rỏi, làn da sạm màu nắng gió và đôi mắt sáng, anh gây ấn tượng đặc biệt với tôi. Anh không vội đưa chúng tôi đi ngắm những cảnh đẹp của bản. Bước chân thong thả của anh dẫn lối chúng tôi trên con đường bê tông xuyên bản. Vừa đi anh vừa kể chuyện bản, chuyện làng.
Thuở trước bản Bút có tên gọi là bản Yên, nghĩa là yên vui, êm ấm. Già làng vẫn truyền nhau câu chuyện về ba ông Bụt bằng đá tại chân núi Pha Yên (nay còn gọi là Pha Bụt, Pha Khí Sút) nằm ngay cạnh làng về phía Tây Nam. Các ông Bụt luôn che chở, phù hộ cho bà con dân bản, cho mùa màng tươi tốt và cuộc sống bình yên. Vì thế, bản từng mang tên bản Bụt. Sau, cái tên bản Bụt mang màu sắc tâm linh, người dân trong bản trình lên quan trên xin đổi tên từ bản Bụt sang bản Bút. Và cái tên bản Bút có từ đó đến nay.
Đi được một quãng, anh Chức dừng chân, cúi nhặt mấy cành củi khô nằm vắt ngang lối đi rồi đặt gọn vào mép đường. Chỉ tay về phía những mái nhà sàn lẫn trong sắc xanh đại ngàn, anh nói:
- Điều quý nhất ở bản Bút không phải là cảnh đẹp. Cảnh thì nơi nào miền Tây Thanh Hóa cũng có. Cái khó là làm sao giữ được nếp sống của người Thái từ bao đời nay. Khách lên đây cũng vì điều đó. Họ thích được ở nhà sàn, ăn cơm cùng bà con, ngồi bên bếp lửa và nghe già làng kể chuyện bản, chuyện người Thái mình.
Nghe những chia sẻ của anh, tôi biết chuyến đi này sẽ khác. Hơn chục năm gắn bó với nghề viết cùng hàng trăm chuyến đi khắp đó đây, miền Tây xứ Thanh với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ mà thơ mộng, luôn có một sức hút đặc biệt với tôi. Cảnh sắc có thể khiến người ta mê đắm. Nhưng điều khiến người ta muốn quay trở lại thường là con người và cách họ nâng niu, trân trọng, giữ gìn nếp sống của dân tộc mình. Ở bản Bút, tôi không thấy những khu nghỉ dưỡng sang trọng, tiện nghi, cũng chẳng thấy những công trình hoành tráng cố dựng lên để hút khách. Chỉ có hơn một trăm ngôi nhà sàn nằm rải rác theo sườn đồi. Chiều xuống, làn khói bếp bảng lảng bay lên từ các mái nhà, rồi tan vào không gian tím ngắt. Đêm đến, tiếng chiêng, tiếng khua luống lại ngân dài, điệu xòe lại rộng mở quanh ngọn lửa bập bùng.
Nhìn những căn homestay bằng gỗ mộc mạc bên triền ruộng bậc thang xanh mướt, con đường bê tông sạch sẽ chạy vào tận bản, tôi hiểu để có được diện mạo như hôm nay, bản Bút đã đi qua bao mùa mưa nắng. Trước kia, bản Bút nằm giữa thung lũng bốn bề là rừng núi thâm u, hẻo lánh. Đường vào bản quanh co, cách trở, mùa mưa nhiều đoạn lầy lội, đi lại khó khăn, vất vả. Người dân sống chủ yếu nhờ ruộng nương, trồng luồng, chăn nuôi nhỏ lẻ. Có những năm mưa lũ ập đến, ruộng đồng ngập ngụa trong biển nước, mùa màng thất bát. Cái đói, cái nghèo cứ quẩn quanh dưới những mái nhà. Những bước chân thanh niên rời bản dài hơn, xa hơn, mang theo những khoảng trống lặng lẽ phía sau lưng núi. Bước ngoặt đến vào năm 2019, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Quan Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Trong định hướng này, bản Bút được xác định là một trong những điểm ưu tiên đầu tư nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch cộng đồng trên địa bàn. Năm 2020, xã Nam Xuân đã chọn 5 hộ người Thái bản Bút làm thí điểm dịch vụ du lịch homestay. Những quyết sách đó mở ra hướng đi mới cho vùng đất này.
Khi bắt đầu làm du lịch cộng đồng, người dân bản Bút không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng. Nhiều người nghĩ muốn hút khách phải khoe ra cái mới, cái đẹp. Thế nhưng, càng làm họ càng nhận ra điều khách quý nhất lại là những gì bản làng vốn có từ bao đời nay. Nhà sàn không chỉ là nơi che nắng, che mưa. Khung cửi dưới gầm sàn không còn là công việc của các bà, các chị lúc nông nhàn. Ché rượu cần men lá, điệu dân ca, điệu xòe, tiếng chiêng, tiếng khèn, tiếng khua luống,… tất cả những thứ vốn quen thuộc với người Thái, bỗng có khách phương xa tìm đến để được nghe, được xem, được trải nghiệm.
Anh Chức bước chậm trên con đường bê tông uốn lượn quanh sườn đồi. Gặp ai anh cũng dừng lại vài câu hỏi thăm. Nào chuyện mùa màng, chuyện sửa sang homestay, rồi chuyện giữ gìn cảnh quan, bảo vệ rừng, giữ gìn bản sắc… Trong tiếng gió rừng u u thổi về từ triền núi, anh Chức chậm rãi nói: “Việc phát huy các giá trị văn hóa bản địa đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực, vừa góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường sinh thái, vừa tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân”. Những lời được chắt ra từ gan ruột của người “cầm trịch” bản làng cứ theo tôi suốt quãng đường. Quả thật, bản Bút đang tìm thấy con đường phát triển của mình từ chính những gì vốn có. Thiên nhiên nguyên sơ hòa quyện với bản sắc văn hóa Thái đã tạo ra sức hút riêng của du lịch cộng đồng bản Bút. Hơn 50 lao động trong bản đã có việc làm từ du lịch. Nhiều gia đình mở homestay, gắn lưu trú với dịch vụ trải nghiệm như dệt thổ cẩm, làm rượu cần men lá, biểu diễn văn nghệ dân gian… Qua đó văn hóa không chỉ được gìn giữ, mà còn trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng. Bản làng đang khoác lên mình chiếc áo mới, nhưng hồn cốt người Thái vẫn vẹn nguyên trong mỗi mái nhà sàn, bếp lửa, điệu xòe,…
Tôi bước chậm, thư thả ngắm nhìn những nếp nhà sàn bằng gỗ của đồng bào Thái. Trước hiên nhà, từng vạt thổ cẩm phơi mình rực rỡ dưới nắng sớm. Một bà cụ trong trang phục người Thái, đầu vấn khăn Piêu, ngồi xe sợi trước hiên nhà. Thấy chúng tôi, cụ khẽ ngẩng lên, khuôn mặt dằng dịt những nếp nhăn, miệng bỏm bẻm nhai trầu. Xa xa vài đứa trẻ rượt đuổi nhau trên con đường nhỏ quanh co, tiếng cười giòn tan trong gió núi. Cuộc sống miền sơn cước bình yên đến lạ! Tôi bỗng thấy anh Chức nói đúng. Du khách nhớ đến bản Bút không phải là một điểm check-in, mà là cảm giác chạm vào một bản làng nguyên sơ, còn giữ được nhịp sống của nó.
*
Lách cách… Lách cách… Tiếng khung cửi. Giữa buổi sớm yên ắng, âm thanh ấy rõ đến lạ. Tôi bước về phía âm thanh ấy.
Tôi dừng lại trước một căn nhà sàn nép mình dưới tán cây xanh. Một cô gái Thái lưng đeo chiếc gùi chất đầy những đọt măng rừng, đi ngang qua, nói:
- Nhà bà Lương Thị Nhã đấy cô. Giờ này bà thường ngồi bên khung cửi.
Tôi tò mò bước vào ngôi nhà sàn ấy. Dưới gầm sàn, một bà cụ đang lặng lẽ ngồi bên khung dệt. Thấy có khách, bà khẽ ngẩng lên. Tôi bước lại gần chỗ bà ngồi dệt. Lúc này tôi mới nhìn kĩ bà. Gương mặt bà hằn nhiều nếp nhăn nhưng đôi mắt vẫn sáng, mái tóc bạc quá nửa được búi gọn. Đã bước qua cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng trông bà hẵng còn nhanh nhẹn lắm.
Bà vừa dệt vừa thủng thẳng nói: “Già rồi nhưng bỏ khung cửi lại nhớ. Ngày nào không dệt vài đường là thấy trong người thiêu thiếu cô ạ!”. Tôi lặng nhìn bà dệt. Đôi bàn tay hằn những vết chai sạn, đường gân xanh nổi lên dưới làn da nhăn nheo. Tay trái giữ sợi. Tay phải đưa thoi. Mỗi động tác đều chậm rãi, chính xác. Chỉ một lát sau, từ đôi bàn tay của bà, những sợi chỉ xanh, vàng, đỏ dần hiện thành hoa văn tươi tắn. Với đồng bào Thái, mỗi họa tiết không chỉ mang giá trị trang trí mà còn gửi gắm những ước vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự gắn bó với thiên nhiên.
Tôi đã đi qua nhiều bản làng người Thái ở miền núi xứ Thanh, từng gặp nhiều nghệ nhân dệt thổ cẩm. Có người say sưa kể chuyện nghề. Còn bà Nhã thì khác. Bà vẫn lặng lẽ bên khung cửi. Thi thoảng bà ngẩng lên nhìn tôi, khóe mắt nheo lại khi cười. Giọng bà chậm rãi, ấm áp:
- Ngày xưa con gái Thái ai cũng phải biết dệt. Cứ nhìn mẹ làm mà học. Rồi đến khi có gia đình lại chỉ dạy cho con cháu mình.
Ngay từ tấm bé, người con gái Thái đã được mẹ, được bà dạy cho cách cầm kim, khâu chỉ, dạy cho cách dệt vải, thêu hoa văn trên vải. Lớn thêm chút nữa thì tự dệt váy áo cho mình. Các cô gái Thái khi về nhà chồng đã tự tay làm đầy đủ váy áo, khăn Piêu, chăn gối… mà độ tinh tế, sự chăm chỉ, khéo léo thể hiện trong từng sản phẩm thổ cẩm ấy.
Nói chuyện dệt thổ cẩm một lúc, bà Nhã đứng dậy, bảo: “Đi, tôi cho cô xem cái này”. Tôi lững thững theo sau bà đến một góc nhà. Những chiếc chum được xếp gọn gàng, ngay ngắn sát vách. Góc bên cạnh những chiếc khăn, túi xách thổ cẩm… được treo thành hàng, với đủ hoa văn, sắc màu rực rỡ. Bà khẽ nhấc nắp một chum rượu cần. Mùi thơm thoang thoảng lan khắp gian nhà sàn. Thấy tôi hít hà, bà nhoẻn cười: “Men này làm từ lá rừng đấy. Mỗi nhà có một bí quyết riêng nên rượu cũng chẳng nhà nào giống nhà nào cả”. Bà không kể tỉ mỉ từng công đoạn làm rượu. Chỉ chậm rãi lấy những viên men cho tôi xem. Tôi vân vê viên men trên tay. Nó nhỏ, khô và mộc mạc. Nhưng đằng sau đó là bao nhiêu kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ của người Thái. Để làm ra những viên men ấy, người phụ nữ ấy phải lặn lội vào rừng từ lúc mặt trời chưa mọc. Lá phải hái lúc sương chưa tan, khi rừng núi còn đọng linh khí. Mỗi loại lá góp một hương vị, một tính, tạo nên men nồng mà dịu, cay mà ngọt.
Với người Thái rượu cần không đơn thuần là thức uống. Rượu cần luôn hiện diện trong đời sống và sinh hoạt của mỗi người ở các bản làng người Thái. Nó gắn liền với chu trình sinh trưởng của cây trồng, mùa vụ, gắn liền với vòng đời người và các lễ thức của họ. Kể từ lúc đứa trẻ ra đời, khi làm lễ thôi nôi, lớn lên và trải qua các lần làm vía, đến khi lấy vợ, lấy chồng, cần rượu lại vít cong trong những ngày lứa đôi ngập tràn hạnh phúc và rồi đến lúc phải từ giã cõi đời trở về với mường Ma, men rượu đã nhạt chỉ còn lại vị chát đắng đưa tiễn linh hồn người quá cố. Mỗi người Thái dù nam hay nữ, dù trẻ hay già đều quý rượu cần. Thời gian đi qua biết bao lời ca, điệu khặp đã nói về thứ rượu đặc sắc này: “... Nước ở suối nguồn xa/ Rót vào chĩnh thành ra rượu ngọt/ Người già hóa ra người trẻ/ Tay nắm tay nghiêng ngả cả sàn...”.
Có những năm cuộc sống còn nhiều khó khăn, tiếng thoi đưa lách cách bên khung cửi thưa dần. Nhiều nhà phải cất khung cửi lên gác sàn. Ngoài chợ, vải công nghiệp rẻ lại nhiều mẫu mã, người ta ít nghĩ đến chuyện tự dệt thổ cẩm như trước. Rượu bán sẵn cũng có mặt khắp nơi, nên những chum rượu cần men lá nơi góc nhà sàn cũng vơi dần. Nhớ lại quãng thời gian đó giọng bà chùng xuống: “Có lúc tôi cứ nghĩ rồi nghề dệt, nghề làm rượu cần của người Thái cũng mai một mất thôi”. Thế nhưng bà chưa từng cất khung cửi, cũng không thôi vào rừng hái lá làm men ủ rượu.
Mấy năm gần đây khách du lịch đến bản Bút nhiều hơn. Họ thường ghé nhà xem bà dệt, rồi xin thử dệt vài đường. Xem dệt xong, họ lại tò mò mở chum rượu cần, nhấp thử ngụm nhỏ, rồi ngồi nghe bà kể chuyện lên rừng hái lá làm men, ủ rượu. Trước khi ra về, nhiều người chọn mua túi xách, khăn thổ cẩm hay chum rượu nhỏ làm quà. Điều khiến bà vui không chỉ là bán thêm được sản phẩm. Mỗi tấm thổ cẩm, mỗi chum rượu cần theo chân du khách rời bản cũng mang theo một phần câu chuyện, một phần nếp sống người Thái. Chiều chiều, vài cô gái trẻ trong bản lại sang nhà bà học dệt thổ cẩm, học cách làm rượu cần. Không phải vì bản làng làm du lịch mà tiếng khung cửi mới cất lên, rượu cần mới dậy hương vị núi rừng. Tiếng khung cửi còn đó, rượu cần vẫn còn đó nên người ta mới tìm đến bản Bút.
Mỗi khi nhắc đến lớp trẻ, đôi mắt dăn deo của bà lại sáng lên: “Tôi già yếu rồi, chẳng biết còn làm được bao lâu nữa. Chỉ mong sau này vẫn còn người biết dệt thổ cẩm, biết làm rượu cần để mỗi dịp lễ hội, cưới hỏi hay có khách phương xa, bản mình vẫn còn hương vị của ngày xưa”. Nói đoạn, bà lom khom bước lại khung dệt, đôi tay nhăn nheo vuốt nhẹ lên tấm thổ cẩm. Sự nâng niu, trân trọng ấy khiến tôi hiểu rằng điều bà gìn giữ suốt cuộc đời mình không chỉ là nghề truyền thống, mà là ký ức và hồn cốt của dân tộc Thái.
*
Từ nhà bà Nhã, con đường nhỏ dẫn tôi len qua vài nếp nhà sàn rồi dừng trước Homestay Minh Huy. Tôi bước qua chiếc cổng tre uốn cong, mở ra trước mắt là những nếp nhà sàn nép mình dưới tán cây xanh mát. Ngay cạnh homestay là những thửa ruộng bậc thang xanh mướt uốn lượn mềm mại theo triền đồi.
Chủ homestay là chị Hà Thị Tuôn, người dân tộc Thái. Khi tôi đến, chị đang lúi húi trong gian bếp cũ. Khói bếp cứ quẩn quanh dưới mái nhà sàn. Mùi thịt lợn cỏ nướng quyện với mùi mắc khén thơm nồng.
Ít ai nghĩ rằng người phụ nữ xinh đẹp tất bật bên bếp lửa ấy lại là cô giáo dạy âm nhạc. Yêu bản, yêu làng và mong muốn đưa câu chuyện văn hóa của dân tộc mình đến gần hơn với du khách, chị quyết định mở Homestay Minh Huy. Trước đó, chị đã nhiều lần khăn gói lên một số tỉnh miền núi phía Bắc như Hòa Bình, Sơn La học cách làm du lịch cộng đồng. Những chuyến đi ấy giúp chị học thêm kỹ năng đón khách, tổ chức lưu trú… Chị cười, bảo: “Đi học người ta, về làm phải giữ được bản sắc của mình”. Những ngày đầu làm du lịch cả gia đình chị loay hoay đủ việc. Nào đón khách thế nào, sắp xếp chỗ ở ra sao, nấu món ăn sao cho vừa miệng khách mà vẫn giữ được hương vị người Thái. Tất cả vừa làm vừa học, vừa làm vừa chỉnh. Chị nhận ra: “Sau rồi tôi nghĩ đơn giản thôi. Nhà mình sống thế nào thì đón khách thế ấy. Có gì thật thì mang cái đó ra”. Chị không cố dựng lên một không gian khác. Chỉ là mở cánh cửa ngôi nhà mình, để người khác bước vào đời sống vốn đang diễn ra.
Đôi tay chị thoăn thoắt vừa trở những ống cơm lam trên than hồng, vừa luộc măng rừng. Từ gạo nếp nương, măng, gà đồi, cá suối đến rau rừng... đều của bà con trong bản mang đến. Vừa làm, chị vừa kể, khách đến đây thích xuống bếp lắm. Có người học cách nướng cơm lam, có người lại hỏi cách làm chẩm chéo. Mấy cô gái trẻ thì xin mặc váy Thái để chụp ảnh. Ngọn lửa bập bùng hắt ánh sáng lên gương mặt lấm lem vệt than của người phụ nữ Thái. Tiếng củi nổ lép bép. Mùi nếp nương, mùi cá suối nướng, gà đồi hấp, măng luộc… thơm lừng khắp nhà.
Rời căn bếp đậm hương vị núi rừng, tôi dạo quanh homestay. Từ màu sắc, cách bài trí đến từng vật dụng sinh hoạt đều mang đậm chất văn hóa Thái. Trong một góc nhà, chủ homestay dành riêng không gian trưng bày cồng chiêng, khua luống, khung dệt, trang phục truyền thống… để du khách không chỉ ngắm mà còn được mặc, được trải nghiệm. Văn hóa hiện diện tự nhiên trong từng góc nhà, từng bữa cơm và cái cách ứng xử với khách…
Đêm xuống rất nhanh. Tiếng à uôm của ếch nhái vọng lên từ những bờ ruộng, hòa vào hơi gió se lạnh thổi về từ vách núi. Khoảng sân trước Homestay Minh Huy rộn vang tiếng trống chiêng, tiếng khua luống. Những cô gái Thái trong trang phục truyền thống uyển chuyển bước ra. Âm nhạc vang lên, không theo khuôn khổ của một sân khấu, tất cả như tràn ra từ đời sống. Điệu múa này nối tiếp điệu múa khác. Những làn điệu dân ca mộc mạc cất lên, làm say lòng bao lữ khách. Tôi ngồi giữa bà con và du khách, thưởng thức đêm văn nghệ bản Bút. Ở góc sân, bà Nhã lặng lẽ ngồi xem. Bà không lên biểu diễn, chỉ mỉm cười, thi thoảng gật đầu. Ánh mắt người đàn bà cả cuộc đời gìn giữ nghề dệt thổ cẩm và rượu cần ánh lên niềm vui khi thấy lớp trẻ tự tin mang văn hóa dân tộc mình đến gần du khách.
Đống lửa bập bùng giữa sân. Những chàng trai, cô gái Thái bước xuống nắm tay du khách. Vòng xòe cứ thế rộng ra. Tôi đứng ngoài vòng xòe một lúc. Không phải vì ngại, mà vì muốn ngắm những bàn tay đang nối nhau dưới ánh lửa rực sáng giữa màn đêm. Chẳng còn phân biệt được đâu là người trong bản, đâu là khách. Những gương mặt rạng rỡ cùng xoay theo từng nhịp. Bỗng một chàng trai bản chạy lại nắm lấy tay tôi: “Vào đi em”. Tôi còn chưa kịp từ chối thì đã bị kéo vào vòng. Bước chân tôi cứ quýnh lấy nhau. Bước nhanh bước chậm. Bàn tay chàng trai bên cạnh siết nhẹ. Tôi chẳng còn bận tâm mình bước đúng hay sai nữa. Chỉ còn tiếng reo hò vang lên giữa thung lũng mịt mùng.
Vòng xòe khép lại, mọi người quây quần bên chum rượu cần. Người làm “chám” cầm sừng trâu mời rượu từng lượt khách. Tôi vít cần uống một hơi. Hương men rượu ngọt, cay, nồng đánh thức đầu lưỡi, rồi lan xuống cổ, ấm lên trong lồng ngực. Tiếng trống chiêng, tiếng cười nói rộn rã. Đêm bản Bút say trong men rượu, say cả tình người.
*
Từ bản Bút nhìn lên, hồ Pha Đay nằm ẩn mình trên đỉnh núi cao, như chiếc gương khổng lồ soi bóng trời mây. Hồ có diện tích khoảng 2,2ha, nằm ở độ cao khoảng 1.200m so với mực nước biển. Trong tiếng Thái, Pha có nghĩa là núi, Đay có nghĩa là bậc thang. Tên hồ đã gợi mở một không gian tầng tầng lớp lớp, vừa hùng vĩ vừa trữ tình. Hồ Pha Đay như một nàng sơn nữ ngủ quên giữa đại ngàn. Và rồi khi con đường mở lối, nàng sơn nữ ấy cũng tỉnh giấc, gọi bước chân du khách tìm về.
Muốn chạm đến “nàng sơn nữ” ấy, từ bản Bút lên phải vượt quãng đường rừng chừng 4 cây số. Con đường đã được bê tông hóa nhưng vẫn nhỏ hẹp, chỉ vừa đủ một chiếc xe bán tải len qua. Dẫu không dài, nhưng quanh co, dốc ngược, nhiều đoạn dựng tới 30 - 40 độ. Muốn chinh phục cung đường này phải là những “tay lái ra hoa” (chữ của nhà văn Nguyễn Tuân). Tôi ngồi sau một chiếc xe máy số do một thanh niên trong bản chở đi. Hai tay tôi cứ bám chặt vào hông người lái xe, cảm giác chông chênh ban đầu dần nhường chỗ cho sự choáng ngợp. Càng lên cao, mây càng gần hơn. Những mảng mây trắng xốp lững thững trôi ngang sườn núi. Những mái nhà sàn dưới thung sâu nhỏ dần. Đại ngàn ngút ngàn xanh mở ra trước mắt chúng tôi. Có những đoạn, bức tranh sơn cước đẹp quá, chúng tôi dừng xe để thưởng ngoạn. Tôi mở toang lồng ngực hít hà hương rừng dịu nhẹ thoang thoảng cùng mây ngàn, gió núi. Cứ như thế mà bao nhiêu mệt mỏi, ưu phiền chẳng đuổi tự dưng bỗng thấy tiêu tan.
Khoảng hai mươi phút đi xe máy, chúng tôi chạm đỉnh núi Bút - nơi hồ Pha Đay hiện ra. Mặt hồ phẳng lặng, trong xanh. Bao quanh hồ là những cánh rừng nguyên sinh, trong đó có nhiều mảng rừng trên núi đá vôi đã tồn tại từ hàng trăm đến hàng nghìn năm, tạo nên hệ sinh thái gần như còn nguyên vẹn.
Nếu văn hóa là “linh hồn” của bản Bút thì hồ Pha Đay là “trái tim xanh” đang lặng lẽ đập giữa đại ngàn. Theo lời người dân bản địa kể, xưa kia quanh hồ chỉ là piềng bãi, tức vùng bằng phẳng, xung quanh có các núi đá vôi với các khe suối chảy xuống nên người dân cải tạo, mở hồ chứa nước phục vụ thủy lợi. Qua thời gian, diện tích của hồ ngày càng mở rộng. Để ghi nhớ công lao người khai phá, mở hồ, trước đây, dân bản từng lập đền thờ Hiên Tai - người đầu tiên phát hiện, đào hồ Pha Đay. Miếu thờ không còn, nhưng mỗi lần đi rừng, nhiều người vẫn nhớ thắp nén hương tưởng niệm người đã mở nguồn nước nuôi bản làng bao đời.
Từ mặt hồ ấy, dòng nước âm thầm chảy xuống thung lũng, tưới mát đồng ruộng, phục vụ sinh hoạt của bà con. Có lẽ hàng trăm năm trước, dòng nước Pha Đay chảy xuống đã thôi thúc người xưa khai hoang, đào rãnh, đắp bờ, dần hình thành cánh đồng ruộng bậc thang bát ngát hơn mười héc ta trải dài từ đầu bản đến cuối bản. “Bờ xôi ruộng mật” ấy đã nuôi dưỡng bản làng qua bao thế hệ.
Chúng tôi xuống chiếc thuyền độc mộc - một thân cây lớn, hai bên buộc thêm những thân luồng để giữ thăng bằng. Chỉ cần khua nhẹ mái chèo, con thuyền chậm rãi rời bờ, lướt đi trên mặt nước trong xanh và phẳng lặng như gương. Bốn bề là núi rừng trùng điệp, những dãy núi xanh thẫm ôm lấy mặt hồ như vòng tay của đại ngàn. Trên cao, mây trắng lững lờ trôi qua nền trời xanh biếc, phản chiếu xuống mặt nước lấp loáng. Không gian nơi đây như thực như mơ. Trong lòng tôi bỗng ngâm nga những giai điệu.
Người chèo thuyền dõi ánh mắt về phía rừng xanh, giọng chậm rãi:
- Mấy năm nay, khách du lịch đến bản Bút đông hơn. Hầu như ai đến đây cũng muốn lên hồ Pha Đay. Bà con hiểu rằng, muốn giữ được vẻ đẹp ấy, phải bảo vệ rừng, giữ cho mặt hồ mãi trong xanh.
Tôi ngắm nhìn trời mây, non nước. Lòng gợn lên những suy tư. Với người bản Bút, rừng, hồ và bản làng chưa bao giờ tách rời. Rừng giữ nước cho hồ. Hồ giữ nước cho đồng ruộng. Ruộng nuôi sống con người. Rồi chính con người lại quay về giữ rừng. Và với họ, rừng và hồ không chỉ là cảnh quan. Chúng là một phần của sự sống, là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản làng từ bao đời.
Con thuyền vẫn chậm rãi lướt trên mặt hồ. Không ai nói thêm gì. Chỉ còn tiếng mái chèo khua rất khẽ, tiếng gió lùa qua rừng già, tiếng chim gọi lại từ triền núi...
*
Sau chuyến đi đến bản Bút, tôi lại tiếp tục đi qua những bản làng miền Tây xứ Thanh. Có nơi tôi mang theo về vài tấm ảnh, những dòng chữ chi chít trong cuốn sổ tay, rồi ký ức cũng nhạt nhòa theo năm tháng. Riêng bản Bút vẫn ở lại trong tôi theo một cách riêng. Mỗi khi nhớ đến nơi ấy, tôi lại nghe trong mênh mang gió núi những âm thanh quen thuộc của bản làng. Rồi sẽ có ngày tôi trở lại. Khi ấy, con đường vào bản sẽ rộng hơn, những homestay mới sẽ mọc lên, khách tìm về nơi ấy đông hơn. Chỉ mong giữa những đổi thay, dưới gầm sàn vẫn còn lách cách tiếng thoi đưa bên khung cửi, trong căn bếp cũ ngọn lửa vẫn đỏ mỗi chiều, và khi đêm xuống, vòng xòe vẫn tự nhiên mở ra, như mạch nguồn vẫn âm thầm chảy qua năm tháng.
Q.T