NGUYỄN MINH KHIÊM
Núi rừng hùng vĩ
Bút ký dự thi
Được đi thực tế sáng tác trên miền Tây Thanh Hóa, thượng nguồn sông Mã lần này là một cơ may. Cơ may văn chương. Cơ may bè bạn. Khi nhà văn Lưu Nga, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh, Trưởng Ban tổ chức chuyến đi sáng tác của Tạp chí, điện hỏi “Anh có đi thực tế sáng tác ở Quan Sơn, Quan Hóa lần này với Tạp chí không?”, tôi từ chối làm sao được? Linh cảm mách bảo đây là một dịp may. Không biết khi nào sự may mắn này lặp lại. Tôi phải đến vùng đất ấy. Từ lâu, tôi mong muốn trở lại vùng đất ấy.
Đó là một vùng đất kỳ bí. Đó là nơi sinh ra sử thi “Đẻ Đất đẻ Nước”. Kỳ Tân, Thiết Ống (Bá Thước cũ) có ngọn đồi Lai Li Lai Láng, nơi có cây Chu đá, lá Chu đồng, với những chùm bông Thau quả Thiếc. Có anh em Lang Cun Cần, Lang Cun Khương đã tiến hành cuộc viễn du qua bao sông, bao núi để đi tìm cây Chu thần thoại. Ngọn đồi Lai Li Lai Láng được xem như ngọn núi Thần, núi Mẹ. Nó có vị trí thiêng liêng trong đời sống văn hóa của đồng bào Mường Thiết Ống, người Mường Quan Hóa nói riêng, người Mường Thanh Hóa nói chung. Nơi đó có Mụ Dạ Dần được xem như nhà ngoại giao đầu tiên của người Việt cổ. Bà đã có công kết nối Mường Trời và Mường Đất, kết nối thần linh và con người, kết nối thế giới siêu nhiên và thế giới hiện hữu.
Tôi chợt nhận ra, vùng đất này có rất nhiều cái “hai” như những cặp song sinh của lịch sử và văn hóa. Hai cây cầu bắc qua sông Mã ở hai đầu thị trấn Hồi Xuân (cũ). Cầu Na Sài ở phố Nghiêm (cũ). Cầu Hồi Xuân. Có hai con sông là phụ lưu sông cấp một của sông Mã, cùng bắt nguồn từ huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đổ vào sông Mã ở hai đầu thị trấn Hồi Xuân (cũ). Đó là sông Luồng và sông Lò, phụ lưu của sông Mã trên phía thượng nguồn. Con sông Luồng, dài 117km, lưu vực sông 852km2, xuyên qua trùng điệp rừng núi của huyện Viêng Xay (Lào) vào cửa khẩu Na Mèo, xã Na Mèo, luồn lách qua các xã Sơn Lư, Sơn Thủy, Thiên Phủ, Nam Động, Nam Tiến, Nam Xuân rồi đổ vào sông Mã cách thị trấn Hồi Xuân (cũ) quãng hai cây số về phía Bắc. Con sông Lò, dài quãng 95km, lưu vực sông 487km2, cũng bắt nguồn từ tỉnh Hủa Phăn, nước bạn Lào. Sau độ dài 27km nhận nước nghĩa tình bên đất bạn, bỏ lại cái tên Nam Mo (Nậm Mò) cho nước bạn Lào, sang đất Việt nhận tên mới là sông Lò từ đất xã Tam Thanh, chảy qua thị trấn Quan Sơn, Sơn Lư (địa danh cũ), xuôi xuống Trung Hạ, Trung Xuân, huyện Quan Sơn (cũ) rồi đổ ra sông Mã, cách thị trấn Hồi Xuân (cũ) chừng vài ki lô mét.
Miền Tây Thanh Hóa còn có hai con đường huyền thoại, hai con đường chiến lược kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng và hữu nghị, và cũng là hai động mạch khổng lồ của trái tim lớn miền Tây. Đó là đường 217 và đường Hồi Xuân - Tén Tằn, nay được gọi là đường 15C. Kết thúc hai con đường Hồi Xuân - Tén Tằn, con đường 217 là hai cửa khẩu Việt - Lào. Cửa khẩu Na Mèo với cột mốc 327. Cửa khẩu Tén Tằn với cột mốc 281. Hai cửa khẩu Việt - Lào đều có hai cây cầu bắc qua hai con suối. Lại có hai con đường nhỏ nối đường 217 và đường 15 thông thương liên kết với nhau. Đó là đường Nam Động - Lốc Toong (16km) và đường 16, nối từ Hiền Kiệt sang xã Na Mèo (30km).
Ai cũng biết điểm khởi đầu con đường 217 ở Ngã Ba Đồng Tâm là km số O (số không). Điểm kết thúc ở cửa khẩu Na Mèo là km 88, có chiếc cầu Nậm Xôi, điểm giữa chiếc cầu Nậm Xôi ấy, điểm giữa con suối Nậm Xôi ấy là biên giới Việt Lào. Nhưng không phải ai cũng biết lịch sử con đường. Sau khi hòa bình lập lại ở Đông Dương (21-7-1954), tháng 10-1955, tỉnh Thanh Hóa quyết định xây dựng tuyến đường 217. Ngày đầu khởi công, con đường 217 chỉ bắt đầu từ Thiết Ống (Bá Thước) đi Na Mèo (Quan Sơn) để kết nối miền xuôi và miền ngược. Nhưng sau này, con đường được kéo dài từ huyện Hà Trung, qua Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan Hóa. Vì vậy, từ chiều dài ban đầu là 88km, đường 217 đã nâng chiều dài 200km.
Con đường Hồi Xuân - Tén Tằn, bắt đầu từ km số không, bờ Nam sông Mã, bên kia thị trấn Hồi Xuân (nay là xã Hồi Xuân), chạy qua các xã Nam Xuân, Nam Tiến, Nam Động, Thiên Phủ, Hiền Trung, Hiền Kiệt, Trung Lý, Pù Nhi, Tam Chung, kết thúc ở cửa khẩu Tén Tằn. Theo bản đồ khảo sát thiết kế con đường dài 112km, có 516 cầu cống, ba ngầm, một cầu treo. Điểm giữa con đường là km 56+200m. Hiện nay con đường Hồi Xuân - Tén Tằn có tên đường 15C, nối với quốc lộ 15A. Đường có nhiều cầu bê tông như: Cầu Ken, cầu Nam Động, cầu suối Khiết, cầu suối Táo, cầu Khằm Một, cầu Khằm Hai, cầu Khằm Ba, cầu suối Xim. Điểm giữa con đường, km 56+200m là Cổng Trời. Trên đó có một tảng đá đề “Cổng Trời Mường Lát”. Nhưng đúng tên của nó phải gọi là “Cổng Trời Pù-noọc-coọc”. Theo tiếng Thái, Pù-noọc-coọc có nghĩa là phượng hoàng. Ngày xưa đỉnh đèo này là nơi cư trú chính của chim phượng hoàng. Hàng nghìn con bay lượn rợp thung lũng Táo, thung lũng Khằm. Vì thế nó mới có tên là Pù-noọc-coọc. Ở đây, quanh năm mưa, quanh năm gió, quanh năm rét, quanh năm sương mù. Lính Đội Thanh niên Tình nguyện làm đường 42-12 làm đường qua đây, quần áo phơi suốt tuần vẫn ướt. Họ phải đốt lửa rửa chân. Mùa đông nước đóng băng. Mùa hè không thấy nắng. Vào khu vực này như vào thế giới của thần thánh thâm u, huyền bí, ma mị. Cái tên Cổng Trời đã ra đời như thế.
Vùng núi rừng Tây Bắc Thanh Hóa này còn có hai khu bảo tồn thiên nhiên nằm kề nhau. Đó là khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông nằm ở phía Đông huyện Quan Hóa (cũ) và khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu nằm ở phía Tây huyện Quan Hóa. Hai khu bảo tồn thiên nhiên chỉ cách một dòng sông Mã ở Hồi Xuân. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, với diện tích 17.662ha. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu 23.249,45ha. Rừng nguyên sinh tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là loại rừng kín nhiệt đới thường xanh theo mùa. Năm loại kiểu phụ rừng chính tồn tại do kết quả của sự đa dạng độ cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên núi đá vôi (60-700m); rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch và đất sét (60-1.000m); rừng lá rộng chân núi đá vôi (700-950m); rừng lá kim chân núi đá vôi (700-850m) và rừng lá rộng chân núi Bazan (1.000-1.650m). Khu bảo tồn cũng tồn tại các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất nông nghiệp. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (Thanh Hóa) bảo tồn hơn 50 loài thực vật và 49 loài động vật quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam (2007). Các loài tiêu biểu bao gồm gấu ngựa, mèo rừng, hoẵng, chồn họng vàng, lợn rừng, cùng các loại gỗ quý như lim xanh, giổi ăn hạt, quế ngọc. Nơi đây là điểm nóng đa dạng sinh học với hệ sinh thái rừng núi đá vôi và núi đất độc đáo.
Cái trùng điệp, vô cùng vô tận của vùng rừng miền Tây xứ Thanh bắt đầu từ Pù Luông, Son Bá Mười, giáp Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) nối sang Hồi Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát (những huyện cũ). Những ngọn núi ấy, những dãy núi ấy đẩy nhau cao lên mãi, xanh lên mãi Sơn La, Mộc Châu tạo thành một vùng đá Tây Bắc Thanh Hóa, vùng đá Tây Bắc Việt Nam ngút ngàn hùng vĩ.
Trong cái điệp trùng này, có hai thứ màu xanh hùng vĩ hòa trộn vào nhau. Màu xanh trùng điệp của cây cối rừng nguyên sinh trăm năm, nghìn năm từ cái thuở khai thiên lập địa và màu xanh trùng điệp của những rừng luồng từ Lang Chánh, Bá Thước (huyện cũ) nhập vào Quan Sơn, Quan Hóa hòa quện vào nhau vô cùng vô tận không hết tầm mắt người, không hết tầm tưởng tượng con người.
Dưới cái nền xanh miên viễn ấy đang ôm ấp, chở che, đùm bọc, nuôi lớn và sinh nở hàng trăm bản, nghìn bản của đồng bào các dân tộc Mẹo (nay là Mông), Khơ Mú, Mán đen, Mán trắng (nay là Cao Lan), Dao, Thái, Mọi, Mường, Kinh. Mỗi dân tộc mang một bản sắc văn hóa riêng, có sức hấp dẫn độc đáo. Âm nhạc, ẩm thực, phong tục tập quán, trang phục, lễ hội… của dân tộc này không chi phối dân tộc kia, không pha trộn dân tộc kia. Riêng biệt để thống nhất. Riêng biệt để đa dạng. Nhưng vượt cái âm hưởng hàng ngày, vượt lên cái treo tường, treo vách, vùng đất này cũng đang có ngọn sóng văn hóa giao thoa nhau. Có hai nền văn hóa chuyển tiếp nhau, chắp cánh cho nhau, tạo nên sức sống mãnh liệt, quyến rũ của đại ngàn. Đó là ngọn sóng văn hóa truyền thống cồng chiêng cổ xưa, văn hóa đâm luống cổ xưa, văn hóa khèn bè, sáo ống cổ xưa, văn hóa rượu cần, cọn nước cổ xưa, văn hóa múa xòe, mo, ạu cổ xưa, văn hóa khăn piêu, áo cóm cổ xưa cộng với văn hóa hiện đại ngày nay. Đó văn hóa cơ khí hóa, cơ giới hóa, tự động hóa ngày nay. Âm vang tre luồng, âm vang gỗ, đá cộng hưởng với âm vang của kim khí, của sắt thép. Tiếng sa quay canh cửi, tiếng cối tiếng chày, tiếng cọn nước cộng hưởng với tiếng máy tuốt, máy vò, máy nước, máy xay, máy nghiền, máy in, máy tính. Tiếng dao chặt luồng, tiếng bàn chân kéo luồng, cộng hưởng với tiếng ô tô, xe máy, tiếng máy múc, máy ủi, máy trộn bê tông. Những mái nhà lợp lá gồi, lá cọ pha trộn những mái nhà lợp fibro xi măng, lợp tôn đỏ, tôn xanh, tôn lạnh. Những ngôi nhà sàn cột gỗ đứng bên những ngôi nhà sàn cột bằng bê tông cốt thép. Những ngôi trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông hai tầng, ba tầng; những khu công sở Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã đầy đủ tiện nghi đang vươn lên giữa màu xanh vi diệu của núi rừng.
Như minh chứng cho những cảm nhận ấy, điểm đầu tiên dừng chân của đoàn là xã Thiên Phủ. Đây là xã mới sáp nhập hai xã Thiên Phủ và Nam Động. Từ xa xăm trong lịch sử, vùng đất này có tên là Mường Khăng.
Theo Lịch sử xã Thiên Phủ (cũ), khoảng thế kỷ thứ XIII, người dân cư trú ở đây chưa nhiều, nhưng cũng đã lập thành các bản nhỏ. Họ nương tựa vào nhau chống lại thiên tai, thú dữ, để làm ăn.
Thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược nước ta chúng đã đàn áp, bóc lột nhân dân ta. Ở Quan Hóa, thổ ty Lò Khăm Ban đã chiêu mộ nghĩa quân, tập hợp dưới ngọn cờ của anh hùng dân tộc Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1427. Lò Khăm Ban được phong chức Thượng tướng quân và cấp đất đai, bổng lộc rất lớn. Bia đá xã Hồi Xuân cũng như gia phả họ Phạm Bá ở Pọng Chiềng còn ghi công lao của ông trong việc khai khẩn đất đai lập ra Mường Ca Da. Sau đó người dân từ các Mường khác trong châu Quan Hóa và ngoài châu Quan Hóa (Mường Pi) đến khai khẩn đất đai sinh sống. Thời kỳ này tư liệu sản xuất của người dân còn thô sơ, đất đai cằn cọc, nhiều vùng đất trống, các đồi, núi không có cây, (đồi và đất không có cây to, không thành rừng ở trên đất chỉ có cỏ chanh), (có nghĩa là nhá kha). Từ những khó khăn đó, nên người dân gọi là “Căng kha” (nghĩa là nặng, khó khăn trong sản xuất). “Căng kha” (có nghĩa là Khăng). Từ đó người dân đặt tên là “Mường Khăng”. Và tên “Mường Khăng” được hình thành và phát triển cho đến ngày nay.
Mường Khăng gồm Khăng Nóc và Khăng Cuông (thuộc tổng Đặc Kiệt) (tổng có nghĩa là cụm) gồm 6 bản của xã Bất Thiên và xã Bất Phạt. Khăng Nóc gồm: Pù Pó, Pù Ắn thuộc bản Sài. Pù Sắng, Pù Sông thuộc bản Sắng. Pha Long, Na Chiềng, Cánh Sao thuộc bản Chong (Choong) (gọi xã Bất Thiên). Khăng Cuông gồm: Pù Lúm thuộc bản Háng, bản Hàm, bản Giồi (gọi xã Bất Phạt). Pù Mó, Hang Lực, Pù Khoai, Pù Khăng thuộc Lớt Dồi. Dưới Mường là các bản. Mường có quan lang gọi là Phó Tạo Mường. Phó Tạo Mường là người có quyền cao nhất trong Mường rồi đến Quan bản. Trung tâm điều hành và quản lý xã hội là “Chiềng”. “Mường Khăng” chỉ có duy nhất là xã Thiên Phủ. Từ 1-7-2025, trên cơ sở sáp nhập toàn bộ xã Thiên Phủ và xã Nam Động, Thiên Phủ giảm xuống còn bảy bản: Bản Khương Làng (nhập bản Khương và bản Làng); bản Lớt Dồi (nhập bản Lớt và bản Giồi); bản Sài (nhập bản Sài một và bản Sài hai); bản Háng (nhập bản Nhụng vào bản Háng); bản Sắng (nhập bản Thành Long); và hai bản: bản Hàm, bản Chong (Choong).
Chỉ riêng cái tên “Thiên Phủ” thôi mà huyên náo cả hành trình. Xe càng vào những đoạn đường có địa hình nguy hiểm, phức tạp, hai bên núi dựng đứng, không gian đột ngột hẹp lại, mây từ trên những ngọn núi tràn xuống, sương mù bốn phía ùa vô, sự mờ ảo lấp đầy thung lũng, trời đang sáng bỗng như đêm ập xuống, sự “bàn luận về Thiên Phủ” càng nhiều. Người bảo Thiên Phủ là Cổng Trời. Người bảo Thiên Phủ là Phủ Trời. Người bảo Thiên Phủ là Mường Trời. Người bảo Thiên Phủ là công sở của Trời. Đấy là vui, là trí tưởng tượng, là giải trí để pha loãng cái đậm đặc căng thẳng của đèo dốc, vực sâu, núi thẳm, cua, ngoặt, đá dựng chênh vênh, sông lở rợn người của các nhà văn trên một chuyến đi dài. Nhưng bên trong những ngôn ngữ ấy là sự háo hức, sự tò mò, sự thấp thỏm, sự nóng lòng được đặt chân đến vùng rừng như cổ tích, như truyền thuyết, như thần thoại ấy.
Ra tận đường cái đón đoàn là anh Phan Văn Đại, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thiên Phủ cùng một số cán bộ khác của xã. Anh Đại to cao, đẹp trai. Anh là người gốc Nga Sơn. Phong cách nhanh nhẹn, vui vẻ, nhiệt tình, tươi cười, đầm ấm. Anh tự giới thiệu:
- Em mới được cấp trên bổ nhiệm về đây nhậm chức từ ngày 1-7-2025. Ngày mùng một em có mặt ở cơ sở. Ngày mùng hai, mùng ba, mùng bốn, mùng năm, tháng bảy em đã đi đến tất cả các bản trong xã Thiên Phủ. Em đi mọi con đường. Em đi thăm mọi cây cầu. Em đã đi thăm hệ thống hang động của Thiên Phủ. Hệ thống hang động đa dạng, phong phú.
Giọng anh đầy cảm hứng:
- Thiên Phủ có hai loại rừng. Một loại rừng nguyên sinh trùng điệp và một loại rừng dân sinh. Đó là rừng luồng. Xã thâm canh hơn 870ha luồng.
Anh Phan Văn Đại không nén được mạch cảm xúc. Hình như anh muốn lan tỏa tình yêu luồng, sức mạnh luồng, sức sống luồng, tương lai luồng đến tất cả những nhà văn đang lắng nghe chăm chú ở hội trường công sở xã. Anh bảo, trong bản luồng. Ngoài bản luồng. Trên núi luồng. Dưới núi luồng. Đường chạy trong luồng. Nhà làm dưới luồng. Đồi thấp luồng. Đồi cao luồng. Ăn trong luồng. Ngủ trong luồng. Giao duyên trong luồng. Lễ hội trong luồng. Phong tục, tập quán mang đậm hơi thở của luồng. Mỗi năm, hàng triệu cây luồng từ Thiên Phủ đi khắp mọi miền trong tỉnh. Luồng là một thương hiệu của Thiên Phủ. Truyền thống văn hóa của Thiên Phủ là truyền thống, văn hóa luồng. Tại sao mình không tìm tòi, phát huy hết thế mạnh của luồng? Thiên Phủ phải đi lên từ luồng, phải lớn mạnh từ luồng, phải bền vững từ luồng. Thiên Phủ phải thu hút du lịch bằng luồng. Thiên Phủ có sông Luồng, có hệ thống hang động phong phú, đa dạng. Hơn một chục hang động liên tiếp nối nhau. Có hang nổi tiếng trong làng du lịch và giới khảo cổ như hang Nàng Mọn. Hang có chiều dài hơn hai cây số. Trong lòng hang có suối nước trong vắt và nhiều thạch nhũ độc đáo. Cuối sông Luống có động Hang Ma, nằm ở xã Nam Xuân, ngay cửa đổ ra sông Mã. Hang Ma. Đây là một hang động kỳ dị. Sông Luồng như xuyên thủng, cắt đôi một quả núi để lấy đường đi. Hai bên núi bị nước hàng triệu năm thúc vào, bào mòn tạo nên những hàm ếch khổng lồ. Không biết bao nhiêu bè luồng, bè củi, bao nhiêu người chống bè đã bị những hàm ếch ấy vò nát, nuốt chửng. Có lẽ vì thế mà dân ở đây đặt cho nó một tên gọi khủng khiếp: Hang Ma! Hang Nàng Mọn cộng Hang Ma cùng với cầu vào bản Bâu, cầu Nam Động và sông Luồng uốn lượn diệu vợi tạo sức hấp dẫn khách du lịch rất lớn. Thiên Phủ có tiềm năng du lịch sinh thái từ luồng và hang động, kết hợp du lịch văn hóa cồng chiêng lâu đời trong dân gian.
Mặc dù trời đã trưa, đoàn vẫn đi bản Lớt Dồi thăm khu dệt thổ cẩm của đồng bào Thái. Từ công sở xã Thiên Phủ đi Lớt Dồi quãng chục cây số. Xe đi vào một con đường nhỏ, đổ bê tông. Lòng đường rộng chừng ba mét. Đèo nối đèo. Dốc nối dốc. Cua nối cua. Ngoặt nối ngoặt. Gập ghềnh nối gập ghềnh. Đi đâu cũng gặp người dân khai thác luồng. Luồng từ trên đồi cứ bất chợt lao xuống ta-luy. Những cây luồng dài bảy, tám thước sườn sượt lao xuống. Ô tô thu mua luồng đã chờ sẵn. Trên đồi luồng có những cây cọ xen lẫn. Tôi không khỏi ngạc nhiên, giữa thung lũng sâu, không một nóc nhà, không cơ quan lại có một nhà hàng mang tên “Mộc trà suối On”. Đường vào dốc cao vời vợi. Bốn bề núi bọc. Ấy thế mà quán vẫn tồn tại. Chắc phải có một lượng khách du lịch nào đó? Nếu không có khách, quán không sống được. Nhìn mấy dãy bàn ăn mang tính chuyên nghiệp, tôi đoán khách vẫn đến đây đều đặn lắm. Càng ngạc nhiên hơn, trong lòng rừng sâu thẳm này lại có những xưởng đổ tấm bê tông dày mười lăm, hai mươi phân, đúc cọc bê tông bốn, năm mét rất hiện đại như ở miền xuôi. Ở đây cũng có xưởng đúc ống cống đường kính lớn đến một mét, mét rưỡi. Ngay đầu một chiếc đang thi công dở, bắc qua con suối nhỏ có một chiếc xe chở bê tông đang bị ba-ti-nê. Bánh xe quay tít. Đường quá hẹp. Hai xe khó tránh. Rất dễ lật xuống vực. Có khi nửa đồi cọ trên một đồi luồng. Anh Phan Văn Đại điện cho một chiếc máy múc cỡ lớn đang làm việc ở gần đó đến hộ tống. Khi chiếc xe bồn rời vị trí, xe của đoàn mới từ từ bò xuống dốc. Hai người nhảy xuống đứng đầu xe. Lúc đưa tay phẩy bên này. Lúc đưa tay phẩy bên kia. Lúc giơ tay ra hiệu lùi phía sau. Lúc ra hiệu nhích phía trước. Bùn trơn. Rãnh trượt. Đá nhấp nhô. Ai cũng dựng tóc gáy. Chỉ khi xe qua được bên kia cống tất cả mới thở phào. Anh Phan Văn Đại cho biết, đây là con đường chạy qua các bản Hàm, Háng, Lớt Dồi. Nhậm chức, ngày 1-7-2025, sau khi khảo sát, anh cùng chính quyền quyết định mở con đường này. Con đường dài khoảng 9km. Bà con phấn khởi lắm.
Khu dệt thổ cẩm là một hợp tác xã của bà con người Thái. Địa điểm đặt ở bản Lớt Dồi. Khu sản xuất, trưng bày sản phẩm đặt dưới gầm một nhà sàn lớn. Gần hai chục phụ nữ Thái đón tiếp đoàn. Người đang ngồi dệt. Người đang sắp đặt các sản phẩm. Đoàn nhà văn thì vui hết chỗ nói. Người thì chụp ảnh với các cô gái Thái. Người phỏng vấn. Người nhìn ngắm, vuốt ve, sờ mó các sản phẩm trưng bày. Người ngồi dệt thử.
Ngay bên dưới khu dệt, trưng bày thổ cẩm của Hợp tác xã dịch vụ Lớt Dồi là suối Khăng. Lòng suối chỉ có sỏi. Sỏi như bãi dừa bãi bưởi. Sỏi như bãi chum bãi vại. Không thấy cát. Không thấy nước. Chỉ thấy đá và sỏi. Đống sỏi nọ nối đống sỏi kia. Sỏi đen sì, nhẵn bóng. Có chỗ sỏi dồn đống lại như một đàn hà mã bằng đá. Nắng hắt lên lấp lánh. Đá hai bên bờ suối như bị xé toác từng mảng. Đá bị nước đẽo gọt. Đá bị nước bóc tách từng lớp. Các thớ đá, các vách đá nhẵn thín. Ta có cảm giác như các trận lũ ở đây là lũ sỏi, lũ đá chứ không phải lũ nước. Ngấn bùn của những trận lũ còn in trên đá, trên cây, trên luồng dọc hai bờ suối như nhân chứng của đại hồng thủy. Sông Luồng và sông Lò, cảnh tượng còn dữ dội hơn. Đây là những dòng sông hẹp, các dãy núi đá dựng đứng, lưu vực hẹp, lưu tốc lớn. Những con sông trở thành những nón phóng vật, những khẩu súng phóng vật. Mỗi trận lũ, dòng nước đột ngột cao lên chục mét, vài chục mét. Nó nạo vét tất cả những gì có thể nạo vét được để cuốn phăng đi. Đáy sông gần như không còn cát, không còn sỏi nhỏ. Chỉ còn đá mồ côi. Những hòn đá, những tập hợp đá như những đàn voi, đàn cá mập đá, đàn rùa đá khổng lồ chia lô, chia đoạn chiếm giữ dòng sông. Hai bên sườn núi lại lưu giữ một dấu ấn khác. Hàng chục đồi luồng, đồi bương, đồi cây nguyên sinh hai bờ sông Luồng của các xã Nam Xuân, Nam Tiến, Thiên Phủ, Hiền Trung, Hiền Kiệt bị gió bão vặn xoắn xác xơ, tơi bời, chết trắng hệt như những bó rau muống bị đập rập phơi giữa trưa hè. Hàng chục, vài chục ki lô mét luồng, nứa, bương chạy dọc sông Lò từ Kỳ Tân, Trung Xuân, Trung Hạ lên Sơn Lư, Sơn Điện, Sơn Thủy, Mường Mìn, Na Sài cũng bị bão, giông lốc vặn xoắn chết khô như thế. Luồng gãy, cây gãy cứ như dao chặt bông hôi, dao lia ruộng rạ.
Nhưng từ những ngấn bùn ấy, từ những đứt gãy ấy, từ những thân cây gục ngã ấy, những mầm cây, những chùm hoa, những lộc mới lại bật ra, sinh sôi, nảy nở đầy sức quyến rũ. Những chiếc măng luồng, măng nứa, măng bương, măng vầu tua tủa vươn lên. Bụi luồng, bụi nứa, bụi bương, bụi vầu nào cũng có dăm bảy cây măng. Không gì đẹp bằng rừng luồng, rừng vầu, rừng nứa, rừng bương đang vụ đâm măng. Cả vùng đồi đỏ au. Màu đỏ sáng bừng lên như đuốc, như than, như lửa. Thật mạnh mẽ. Thật quyết liệt. Thật kỳ vĩ.
Tôi chợt nghĩ đến sự khủng khiếp của trận lũ lịch sử ngày mùng 3 tháng 8 năm 2019. Tấm bia tưởng niệm tại bản Sa Ná của xã Na Mèo bị cuốn trôi. Năm mươi mốt ngôi nhà không còn dấu vết. Hơn mười người bị lũ cuốn trôi. Nhiều ngôi nhà của bản Bâu, bản Lở của xã Thiên Phủ bị nằm trong lũ. Bản Choong, bản Sài, bản Sắng, bản Bâu… bản nào cũng như thuyền độc mộc giữa nước, như mảng tre, mảng luồng giữa nước. Thế mà chỉ sau mấy năm, một sự thay da đổi thịt ngoài sức tưởng tượng. Hệt như những đồi luồng kia. Những cây măng tua tủa vươn lên chiếm lấy trời xanh. Cây mới thay cây cũ. Bóng râm lại mát vùng đồi. Trên đồi Pom Ngồ, diện tích 52.000m2 đất tái định cư, cho 51 hộ dân, 1 nhà văn hóa, 2 điểm trường (mầm non và tiểu học) tại bản Sa Ná đã mọc lên. Ông Ngân Văn Kẻm, Trưởng bản Sa Ná cho biết: “Cuộc sống bà con dân bản có nhiều đổi thay, kinh thế khấm khá hơn trước”. Sa Ná hiện trở thành một trong số ít bản về đích nông thôn mới đầu tiên ở huyện biên giới của xã Na Mèo. Xã còn đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt dự án xây dựng cầu bê tông và đường giao thông vượt sông Luồng nối các bản Bo Hiềng, Sa Ná, Son, Ché Lầu, xã Na Mèo đi các bản Mùa Xuân, Xía Nọi, xã Sơn Thủy.
Bản Lở ở Thiên Phủ là một minh chứng nữa cho sức vươn, sức vượt, sức bật, sống kỳ diệu ấy. Ông Lương Văn Yên, bảy mươi lăm tuổi, nhân chứng của những trận lũ kinh hoàng năm 2019 cho biết: Bản Lở cũ cách đây vài cây. Mùa lũ 2019, đất đá lở khủng khiếp. Nhiều nhà bị vùi lấp. Nhiều người mất tích. Đảng, Nhà nước cho dời bản về đây. Chỗ ở mới này là khu tái định cư. Bản có 54 gia đình. Tám hộ ở nhà xây kiên cố như kiểu nhà miền xuôi. Bốn sáu hộ ở theo kiểu nhà dân tộc Thái truyền thống.
Dù trời sắp tối, tôi vẫn kịp quan sát toàn cảnh bản Lở. Bản quá đẹp. Không có một làng bản nào ở miền xuôi đẹp như thế. Các làng du lịch trong tỉnh, ngoài tỉnh, nơi tôi đã đi qua, không có bản làng nào đẹp đến thế. Đường vào bản đổ bê tông. Đủ hai làn xe chạy. Bản có hai dãy nhà thẳng tắp. Dãy trên cách dãy dưới chừng mười thước. Mỗi dãy vài chục nhà. Mỗi nhà cách nhau chừng bốn, năm thước. Trước mỗi nhà là bờ rào trúc được sắp đặt nghệ thuật. Nó vừa giống những ngọn sóng, vừa giống những ngọn núi. Nhà nào cũng một mẫu giống nhau. Nhà sàn bốn gian chính, hai gian phụ. Bốn gian chính có tám cột cái, tròn, đường kính trên 40cm. Mỗi gian xép có hai cột con vuông, đường kính chừng 25cm. Sàn lát gỗ dày. Đi không tiếng rung. Từ dui, mè, sà gồ đến kang, cột đều được đánh dầu bóng. Mái lợp tôn. Bên dưới sàn là nhà vệ sinh, nhà tắm, bàn trà. Điện, nước đầy đủ.
Đoàn nhà văn như bị thôi miên bởi các tiết mục văn nghệ của Thiên Phủ. Các đội Khua Luống, múa lăm tơi, nhảy sạp đến từ bản Lở, bản Sài, bản Choong, bản Sắng. Sau mấy chục năm tôi mới được nghe lại tiếng nhạc khua luống (khua loóng). Hương rượu cần thơm tỏa vào đêm. Trai díu vào trai. Gái díu vào gái. Tiếng kềnh kềnh côông côông, tiếng côông côông kềnh kềnh của chày, của cối cộng hưởng tiếng trống giàm, tiếng cồng chiêng vang động núi rừng. Âm vang của núi, âm vang của rừng, âm vang của sông suối như được nhân lên, như được thăng hoa, như được lên men, như được chắp cánh, như được nhập thần. Ta cảm nhận được cái sâu thẳm của đại ngàn, cái linh thiêng huyền bí của đại ngàn, cái tâm linh ma mị của đại ngàn. Gần gũi mà vời vợi. Dân dã mà hiện đại. Mộc mạc mà sang trọng. Quê kiểng mà cao siêu. Không có sóng mà ta dập dìu trong sóng. Không có men mà ta ngây ngất trong men. Không có núi mà lên cao chót vót cùng núi. Không có biển mà ta bơi đến vô cùng của biển. Cũng sau mấy chục năm tôi mới được thưởng thức điệu nhảy sạp của đồng bào Thái Tây Bắc. Rồi điệu hát lăm tơi của nước bạn Lào. Mắt trong mắt. Tay trong tay. Người Kinh cùng người Thái. Gái bản nhảy. Các nhà văn cũng nhảy. Gái Thái ngân lên “ới chàng trai đó ơi”. Trai Kinh cũng ngân lên “đêm nay dưới trăng sáng, đôi ta biết nhau đây”. Áo cóm, khăn piêu, cạp váy thổ cẩm đủ màu cùng khăn rằn, áo dài hòa quện vào nhau trong ánh điện mờ ảo của nhà sàn bản Lở.
Chỉ có tre nứa đập vào nhau lòng người rạo rực. Chỉ có tre nứa đập vào nhau mà hồn người tuôn chảy như sông như suối. Những bàn chân trần đang hát. Những bàn chân băng đồi luồng, băng đồi bương, băng đồi sắn đang cất lên tiếng hát. Những bàn tay chặt luồng, chặt bương, chặt cọ, chặt lau đang cất lên tiếng hát. Tre nứa đang hát. Bương luồng đang hát. Cây rừng đang hát. Đá núi đang hát. Sông Luồng đang hát. Sông Lò đang hát. Đó là tiếng hát của núi rừng hùng vĩ. Đó là năng lượng vĩnh cửu, là sức sống trường tồn, mãnh liệt của núi rừng hùng vĩ.
Ngày 2-5-2026
N.M.K