NGUYỄN THANH GIANG
Nơi đầu nguồn sông Mã
Bút ký dự thi
Rời những con đường chen chúc xe cộ, dứt bỏ cảm giác oi bức do nắng nóng đầu hè nơi phố thị, chúng tôi hòa mình vào màu xanh dịu mát của vùng trung du, miền núi. Màu xanh của lúa xuân đang thì con gái tiếp nối màu xanh của rừng trồng, của đại ngàn lan tỏa mênh mang và dâng mãi lên những ngọn núi cao. Lâu rồi, tôi lại được theo đoàn văn nghệ sĩ tham gia chuyến đi thực tế vùng cao do Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh tổ chức.
Điểm đến đầu tiên là Công sở xã Thiên Phủ, nằm cạnh Quốc lộ 15C, tuyến đường trải nhựa phẳng phiu, kẻ vạch phân làn nhưng nhỏ hẹp, quanh co. Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Thiên Phủ Phan Văn Đại cùng nhiều cán bộ xã ra tận xe chào đón niềm nở. Phan Văn Đại có vóc người cao lớn, da trắng, mặt sáng, khi nói chuyện, miệng cười, mắt cười sau cặp kính trắng, phong thái luôn tràn đầy năng lượng, cuốn hút người đối thoại với mình. Qua lời giới thiệu của anh, chúng tôi hình dung khá sinh động về xã Thiên Phủ, nơi đang “hút hồn” người cán bộ trẻ mới được điều động từ miền xuôi lên công tác chưa đầy một năm.
Xã Thiên Phủ hiện nay (bao gồm xã Thiên Phủ và xã Nam Động, thuộc huyện Quan Hóa cũ) có số dân hơn 6.400 người, đông nhất là người Thái, rồi đến người Mường, người Kinh, sinh sống tại 13 bản. Thiên Phủ có hơn 6.000ha rừng luồng. Cây luồng phủ xanh gần hết tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã. Bao đời nay người dân Thiên Phủ, Nam Động sống gắn bó với rừng luồng. Sinh ra, lớn lên trong rừng luồng, trong mái nhà cùng bao vật dụng làm từ luồng, khi về với tổ tiên, người Thiên Phủ lại yên nghỉ dưới bóng che xanh mát của rừng luồng. Vậy nên Phan Văn Đại quả quyết: Du lịch của Thiên Phủ phải mang đậm bản sắc văn hóa tre luồng!
Tranh thủ lúc trời tạnh ráo, anh Phan Văn Đại đưa chúng tôi đi thăm những bản sẽ tham gia tạo nên những sản phẩm du lịch bằng tiềm năng vốn có của mình. Anh tâm sự, công việc rất bận rộn. Một ngày làm việc bắt đầu từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Vài ba tuần, anh mới tranh thủ về thăm nhà ở phường Hạc Thành, thành phố Thanh Hóa (cũ). Tiêu chí đánh giá nhân viên thuộc quyền và cộng sự của Phan Văn Đại gói gọn trong bốn chữ: “năng lực” và “năng lượng”, trong đó “năng lượng” được chú trọng hơn, nghĩa là người cán bộ phải thể hiện mình, phải cháy sáng, tỏa nhiệt trong công việc, qua công việc, hơn hẳn thứ năng lực tiềm tàng, tiềm ẩn. Phan Văn Đại cùng đội ngũ cán bộ cơ sở đồng sức, đồng lòng lăn lộn với công việc, làm cho xã Thiên Phủ chuyển biến rõ nét chỉ sau mười tháng sáp nhập hai xã Thiên Phủ, Nam Động làm một và vận hành theo mô hình chính quyền hai cấp. Giờ đây, xã Thiên Phủ đang chuyển mình từ sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp là chủ yếu sang phát triển kinh tế đa dạng, trọng tâm và mũi nhọn là phát triển du lịch, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, dựa trên những tiềm năng và bản sắc của vùng đất này.
Con đường nối Quốc lộ 15C với những bản xa nhất của xã Thiên Phủ dài khoảng 9 ki lô mét, đang được nâng cấp với vốn đầu tư 60 tỷ đồng của Nhà nước. Các nhà thầu đang khẩn trương thi công cống thoát nước dọc con đường, thi công cống tiêu nước từ khe núi qua đường. Quả là “đường lối đi vào đời sống bằng đường sá”. Con đường đưa chúng tôi đến với những bản người Thái, người Mường nguyên sơ, đến thăm Tổ hợp tác xã dệt thổ cẩm tại bản Lớt Dồi. Tổ hợp tác xã dệt thổ cẩm này thu hút hàng chục chị em tham gia. Chị Hà Thị Ngân, một thành viên của tổ, cho biết, tính ra một ngày công, một người dệt được hai tấm khăn, thu về khoảng 150 nghìn đồng. Nghề dệt truyền thống giúp chị em tận dụng thời gian nhàn rỗi, có thêm thu nhập. Chưa có nhiều du khách đến tham quan, mua hàng tại cơ sở dệt, nên sản phẩm làm ra được đem bán ở chợ Thiên Phủ.
Gặp được đoàn văn nghệ sĩ, nhà báo quan tâm trúng những việc mà mình đang tâm huyết, Chủ tịch xã Phan Văn Đại hào hứng làm “hướng dẫn viên du lịch tự nguyện” cho đoàn. Dừng xe trước một khoảng đất bằng ven núi (người dân địa phương gọi là “piềng”), anh giới thiệu: “Xã đang mời các chuyên gia làm dự án xây dựng khu homestay rộng 20ha tại đây. Sau đó sẽ nhân ra nhiều homestay khác dọc con đường mới được nâng cấp này. Tất cả các ngôi nhà, tường rào, các vật thể kiến trúc, cảnh quan của mọi homestay đều dùng cây luồng là vật liệu chính. Chưa hết, Thiên Phủ còn cho du khách trải nghiệm việc hái măng, thưởng thức các món ăn từ măng luồng, còn đầu tư cơ sở chế biến luồng thành ván ép, đồ mỹ nghệ... Đến Thiên Phủ, du khách có thể thăm hang Nàng Mọn trong núi đá vôi, vừa có động nhũ đá lung linh sắc màu, vừa có suối và thác nước ngay trong lòng động. Ngoài tổ hợp tác dệt thổ cẩm, Thiên Phủ đang xây dựng các mô hình nuôi lợn đen, nhím, dúi, trồng cây quế, cây mắc ca... Hiện nay, xã tổ chức cho chợ Thiên Phủ họp hai phiên một tháng, vừa giao lưu buôn bán hàng hóa, vừa giới thiệu văn hóa ẩm thực, giới thiệu các hoạt động văn nghệ, thể thao truyền thống của người Thái, người Mường”.
*
Không phải đến bây giờ mà từ trước đây nhiều năm, xã Thiên Phủ đã nhìn ra định hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Điều đáng mừng là định hướng ấy đang được đội ngũ cán bộ xã Thiên Phủ hôm nay xúc tiến mạnh mẽ hơn, với quyết tâm cao hơn. Năm 2022, xã Thiên Phủ đã được đầu tư xây dựng khu tái định cư cho các hộ dân bản Lở theo hướng làm du lịch cộng đồng. Theo đó, tại bản Lở tái định cư, nhà nước đầu tư khoảng 300 triệu đồng một hộ, để làm quy hoạch, san lấp mặt bằng xây dựng hệ thống điện, hệ thống cấp nước sạch. Mỗi hộ được nhận 300m2 đất trong mặt bằng quy hoạch và tự bỏ tiền của, công sức, vật liệu làm nhà sàn. Toàn bản có 54 hộ, chỉ 8 hộ làm nhà xây, còn lại là nhà sàn, nhiều căn nhà có kích thước mỗi chiều tới 14m, có thể đón đoàn khách đông vài chục người. Ông Lương Văn Yên cùng người con trai Lương Văn Hoan, chủ một căn nhà sàn lớn, tiếp chúng tôi tại bàn nước đặt ngay dưới gầm sàn thoáng đãng, sạch sẽ. Không gian gầm sàn đủ rộng rãi để tổ chức cho đoàn khách ăn uống, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ cộng đồng. Ông Yên năm nay 76 tuổi, cả gương mặt và dáng người thanh thoát, nói năng nhỏ nhẹ, giống một nhà giáo nghỉ hưu hơn là một nông dân gắn bó với rừng, với đất trồng rừng từ tấm bé. Gia đình, họ tộc của ông vốn là người Mường ở Lạc Thủy, Hòa Bình, lưu lạc rồi định cư tại Thiên Phủ đã nhiều đời. Hiện, ông bà ở cùng gia đình người con trai Lương Văn Hoan. Đất ruộng rất ít, trồng lúa không đủ gạo ăn, nguồn thu nhập của gia đình ông chủ yếu trông vào 700 bụi luồng mình trồng, mình khai thác trên đất lâm nghiệp được giao và tiền nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng. Ông cùng các con đều nghĩ, theo điều kiện ở bản Lở này, muốn khấm khá lên chỉ có cách làm du lịch cộng đồng. Được bố trí vào khu tái định cư, gia đình bố con ông Yên dốc hết vốn liếng, mua vật liệu, thuê thợ, riêng công thợ tới 250 triệu đồng, dựng nên căn nhà sàn vào hàng lớn nhất của bản, đủ để... chờ đón khách. Nói “chờ đón khách” bởi lập bản mới đã gần bốn năm rồi mà số đoàn khách đến bản đếm chưa hết đầu ngón một bàn tay, thường là “khách ta” và thường là ghé thăm, ít người trú lại. Đúng ra là có một đoàn “khách Tây”, nhưng đó là người của Tổ chức Tầm nhìn về làm việc với xã, tài trợ cho tổ hợp tác xã dệt thổ cẩm! Ông khẽ cười và điềm tĩnh vỗ yên những vị khách đang tỏ vẻ lo thay cho tình cảnh làm du lịch của bản ông: “Rồi sẽ đông khách mà”. Gia đình ông từng dày công tìm hiểu, xem xét cách làm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng ở những nơi đã làm thành công cả trong và ngoài tỉnh. Ông Yên bảo: “Khách Tây thích nhà sàn lợp lá hơn nhà sàn lợp tôn, thích ăn thịt gà mềm hơn thịt gà đồi, thích trải nghiệm cuộc sống như dân bản địa nhưng phải an toàn...”. Vậy, sự tự tin làm du lịch mà ông Yên có được là do “biết người biết ta; biết ta, biết Tây”!
Buổi chiều ở bản Lở, đoàn chúng tôi được dân bản cho đi bè, bắt cá suối, đi thăm các bản còn nguyên sơ khác. Anh Lương Văn Chuyền, một thanh niên khỏe mạnh, linh lợi chở tôi bằng xe máy và dẫn đầu nhóm đi xe máy vào bản Bâu. Chuyền năm nay 26 tuổi, chưa lấy vợ, hơi muộn so với trai bản vùng cao. “Để có việc làm tốt, cháu mới lấy vợ. Cháu nghĩ, bản Lở chưa có nhiều khách du lịch như cơ sở của A Béo dưới kia, vì view không đẹp, không có ruộng bậc thang, không biết quảng cáo qua mạng. Khách ít đến vì đường sá ở đây không an toàn, hay bị sạt lở từ núi, mùa lũ nước ngập đường, chia cắt, cô lập bản làng”.
Dừng chân trên một đỉnh dốc, ngắm cảnh, tôi nghĩ: Bản Lở chưa thu hút được khách không phải vì “view không đẹp”, vì không có ruộng bậc thang. Nơi đây có vẻ đẹp riêng của một vùng sinh thái miền núi cao trù phú, đa dạng. Sông Luồng mùa khô, nước tràn qua các ghềnh đá tung bọt trắng, hoặc tràn thành từng lớp sóng nhấp nhô, uốn lượn quanh co, vang vọng thanh âm rì rào, êm ả. Thi thoảng, từng đôi chim lang cang(*) đuôi dài bay từng đoạn thẳng băng, kẻ thành khung nhạc trên nền xanh tươi của rừng luồng, phủ xanh từ ven sông lên đỉnh non cao.
Chiều tối, trở về bản, mang theo dư âm cảm xúc từ cuộc đi trải nghiệm ban chiều, chúng tôi sà vào những chiếu cơm bày sát nhau dưới gầm sàn. Thức ăn được đặt trên mẹt đan bằng tre, luồng, lót là chuối tươi. Xôi nếp nương nhuộm màu tím từ lá rừng, thịt lợn, thịt gà, rau xanh, muối ăn, nước chấm và cả món cá anh em quăng chài bắt về từ sông suối đều được nấu nướng theo cách chế biến truyền thống của người Thái, người Mường Thiên Phủ. Màu sắc bắt mắt, hương vị hấp dẫn, thêm chút rượu men lá, bữa ăn mang đậm đà bản sắc ẩm thực vùng cao.
Sau khi tráng miệng bằng hoa quả, uống nước chè xanh nấu trong ống vầu, ống luồng mới chặt từ rừng về, chúng tôi lại hòa mình vào “bữa tiệc của âm thanh, sắc màu” - giao lưu văn hóa văn nghệ, với các sơn nữ trẻ trung của bản. Uống rượu cần, khua luống, nhảy sạp, trình diễn trang phục dân tộc, khặp Thái, ru Mường, đan xen những tiết mục ngẫu hứng của khách.
Đêm muộn, chúng tôi trở về ngả lưng trên các tấm nệm mềm êm, trải trên sàn nhà. Dư âm, dư vị từ những trải nghiệm ban ngày, cùng tiếng suối, tiếng lá cây rừng vọng đến mơ hồ trong đêm đưa mọi người vào giấc ngủ sâu ngon lành.
*
Chúng tôi rời bản Lở, rời Thiên Phủ vào sáng sớm, khi những ngọn núi còn trùm kín mây mù. Từ Quan Hóa sang Quan Sơn có hai con đường vắt qua dãy núi cao, nối Quốc lộ 15C với Quốc lộ 217. Theo con đường bắt đầu từ ngã ba Hiền Kiệt, xe chúng tôi leo dần lên cao, mặc sức ngắm non xanh, nước biếc ẩn hiện sau những khúc quanh. Sau hơn một giờ, xe lên đến đỉnh dốc cao nhất, vừa may gặp những đám mây đang tràn lên từ thung lũng, khiến những vị khách thèm săn mây xuýt xoa, thích thú. Không lâu sau, mây mù phủ hết núi non, cách mấy mét nhìn không rõ mặt người. Xe bật đèn vàng, thận trọng lần đường xuống núi, để gặp Quốc lộ 217 rồi ngược tiếp lên Na Mèo.
*
Thượng tá Hoàng Ngọc Bình, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo tiếp đoàn chúng tôi. Đơn vị của anh quản lý đường biên giới Việt - Lào và khu vực biên phòng thuộc hai xã Na Mèo, Sơn Thủy. Dù vận quân phục chỉnh mỉnh, quân hàm, quân hiệu oai phong, nhưng Hoàng Ngọc Bình vẫn mang dáng vẻ thư sinh, có “tướng” cán bộ chính trị - quan văn hơn là cán bộ quân sự - quan võ. Trong gần 30 năm làm lính biên phòng, anh có gần nửa thời gian (12 năm) đóng tại đây, qua ba lần luân chuyển công tác. Do vậy, anh hiểu tường tận đời sống xã hội, tiềm năng, điều kiện phát triển kinh tế của địa bàn vùng biên này, thêm nữa, anh cũng rất quan tâm đến định hướng phát triển du lịch tại Na Mèo, Sơn Thủy. Trên thực tế, Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và chợ phiên Na Mèo chưa là điểm đến hấp dẫn của du khách, bởi hoạt động đối ngoại, ngoại giao nhân dân, giao thương hàng hóa, giao lưu văn hóa còn đơn điệu, nghèo nàn so với các cửa khẩu biên giới khác. Tuy nhiên cả hai xã Na Mèo, Sơn Thủy đều có tiềm năng phát triển hoạt động du lịch, bởi có cảnh quan thiên nhiên núi non, sông suối, rừng cây, nhất là rừng phòng hộ biên giới, rất tươi đẹp, có các bản làng lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mông. Đặc biệt, xã Sơn Thủy có động Bo Cúng đang dần trở nên nổi tiếng, bản Ché Lầu, Na Mèo có rừng đào cổ thụ. Nếu kết hợp với các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan thiên nhiên trong vùng, thì động Bo Cúng và rừng đào cổ thụ sẽ là hai điểm du lịch hút khách.
Đang sôi nổi, hào hứng, Thượng tá Hoàng Ngọc Bình bỗng trầm ngâm: “Nhưng việc phát triển hoạt động du lịch ở Na Mèo, Sơn Thủy, cũng như ở miền núi, vùng cao biên giới nói chung, không hề dễ dàng. Có hai cái khó lớn, là hạn chế về cơ sở hạ tầng và hạn chế về nguồn nhân lực, do đó, chưa đáp ứng được nhu cầu, chất lượng dịch vụ của du khách, nhất là khách nước ngoài. Đương nhiên, khó cũng phải làm, vì đó là cách phù hợp nhất để nâng cao đời sống của đồng bào”.
Theo anh Bình: Nhà nước chăm lo việc đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng, duy trì, nâng cấp hệ thống đường giao thông hiện có. Người dân, các bản, các xã chủ động tạo ra nguồn nhân lực làm du lịch cộng đồng. Là “đội quân công tác”, Bộ đội biên phòng đảm nhận việc giữ bình yên cho vùng biên giới; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về chủ trương, kế hoạch, cách thức phát triển du lịch trên địa bàn; thực hiện quy định nhà nước đã ban hành và tham mưu, đề xuất quy định, quy chế đặc thù, tạo thuận lợi cho du khách nước ngoài xuất nhập cảnh tại khu vực biên giới.
Cũng như ở Thiên Phủ, các xã vùng biên giới Quan Sơn có khá nhiều tiềm năng phát triển du lịch, không thua kém những điểm du lịch cộng đồng, sinh thái nổi tiếng trong nước mà chúng tôi từng đến. Bỏ quên, chậm khai thác, hay khai thác kém hiệu quả những tiềm năng ấy, dù với lý do gì, cũng đều là sự lãng phí đáng tiếc, đáng buồn. Đáng tiếc vì tiềm năng du lịch không thuộc loại tài nguyên bị tiêu hao do khai thác, không thuộc loại “của để dành, không ăn còn đó”, đáng buồn vì trong khi có tài nguyên để làm giàu mà dân mình vẫn thúc thủ chịu nghèo. Không thật hồ hởi, song chúng tôi vẫn thấy mừng vì những tiềm năng du lịch ở nhiều nơi thuộc miền núi, vùng cao Thanh Hóa đang được đánh thức, đang được khơi dậy theo chiều hướng khả thi, hiệu quả hơn.
Chúng tôi kết thúc chuyến đi thực tế đúng vào ngày khai mạc hè Sầm Sơn 2026. Lại một mùa hè nữa, thấy Sầm Sơn là “biển người”, đông đặc khách, hẳn là Thanh Hóa tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về lượng khách du lịch. Song chủ yếu là khách du lịch biển, mang tính mùa vụ, chủ yếu là khách nội địa, thưa vắng khách nước ngoài.
Nhớ lại, khi gặp gỡ cán bộ, người dân ở Thiên Phủ, Na Mèo, chúng tôi từng tìm hiểu xem họ sẽ làm thế nào để thu hút du khách, nhất là du khách nước ngoài. Để đón được khách nước ngoài, Thượng tá Hoàng Ngọc Bình, Đồn trưởng Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo và ông Lương Văn Yên, bản Lở, cho rằng: Đi du lịch sinh thái, khách nước ngoài không đòi hỏi cao như nghỉ dưỡng cao cấp, họ thích cảnh quan tự nhiên, nguyên sơ, thích trải nghiệm các hoạt động của người bản địa, đồ dùng, thức ăn thức uống không cầu kỳ nhưng phải tiện lợi an toàn, thủ tục hành chính không rườm rà, phiền hà... Cách của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Thiên Phủ Phan Văn Đại là: Chú trọng xây dựng trang thông tin mạng quảng bá du lịch Thiên Phủ. Chọn một số hộ có nhà sàn lớn ở bản Lở, đầu tư thêm đồ dùng, cơ sở vật chất, đáp ứng chất lượng dịch vụ theo yêu cầu của khách nước ngoài. Thông qua nhóm bạn chuyên làm tour du lịch, đưa đoàn khách nước ngoài về Thiên Phủ trải nghiệm. Sự hài lòng của khách nước ngoài sẽ có tác dụng làm cho danh tiếng du lịch Thiên Phủ lan tỏa tốt nhất, rộng nhất...
Khi du lịch ở miền núi, vùng cao phát triển, Thanh Hóa càng đón thêm nhiều khách, hạn chế tình trạng du lịch mùa vụ và khi đón được nhiều khách nước ngoài, bức tranh du lịch Thanh Hóa sẽ tươi tắn hơn, đậm nét hơn sắc màu du lịch quốc tế.
Chúng tôi trở về xuôi theo Quốc lộ 217, con đường uốn lượn theo hình sông, thế núi, chợt nhận ra, chuyến đi thực tế diễn ra trong không gian nơi đầu nguồn sông Mã. Nơi ấy, nhiều con suối từ nguồn sinh thủy ở rừng già, từ mó nước trong núi đá vôi, từ suối Pùn, Nậm Xôi, suối Đang, suối Khiết dồn nước vào sông Lò, sông Luồng. Hai con sông này hợp lưu với sông Mã mênh mang, ào ạt xuôi xuống đồng bằng rồi hòa nước vào đại dương vô bến, vô bờ.
N.T.G
(*) Chim lang cang: Còn gọi là chim lãn phướn, chim phướn.