Tạp chí văn nghệ Xứ Thanh
Trang chủ   /   Ký   /   Thành Nhà Hồ - Một điểm đến (Bút ký dự thi)
Thành Nhà Hồ - Một điểm đến (Bút ký dự thi)


NGUYỄN HUY MIÊN

Thành Nhà Hồ - Một điểm đến

Bút ký dự thi

Vào một ngày hè tháng sáu đẹp trời, tôi đến thăm nhà ông Lê Khắc Tuế và ngỏ ý mời ông cùng đi:
- Bác ơi, sáng nay bác cùng em đi thăm Thành Nhà Hồ nhé!
Ông Tuế cười:
- Thành Nhà Hồ thì còn lạ lẫm gì mà đi hả chú?
Tôi thủ thỉ giải thích:
- Mình đi thăm công trường đang tu bổ lại tường thành phía Bắc bác ạ.
Nghe nhắc đến chuyện xây dựng và trùng tu tường thành, máu “nghề nghiệp” trong người nhà nghiên cứu lập tức trỗi dậy, ông gật đầu đồng ý ngay. Thế là tôi có dịp đồng hành cùng ông, hòa theo dòng người vào thăm Thành Nhà Hồ. Ở vùng đất Tây Đô này, nhắc đến ông Lê Khắc Tuế là nhắc đến một cây đại thụ trong giới nghiên cứu. Ông từng có nhiều năm gắn bó với nơi đây trên cương vị Trưởng phòng Văn hóa huyện Vĩnh Lộc. Nhờ những ngày tháng lăn lộn với cơ sở, đi nhiều hiểu sâu, ông đã tích lũy được một kho tàng tư liệu vô giá qua nhiều năm nghiên cứu. Đặc biệt, ông chính là tác giả của cuốn sách “Thành Nhà Hồ - Di tích và Danh thắng”, một trong những cuốn sách đầu tiên giới thiệu về di sản này đến gần hơn với công chúng.
Dọc theo con đường mang cái tên hoài niệm - Hoa Nhai, lối dẫn vào lòng Di sản Thành Nhà Hồ chính là làng cổ Xuân Giai. Nơi đây như một khoảng lặng của thời gian, những nếp nhà xưa cũ ẩn hiện dưới những vòm cây rợp mát, lưu giữ vẹn nguyên cái hồn cốt hiền hòa của làng quê Việt. Nhưng Xuân Giai không chỉ có thế. Nép mình bên thành quách, ngôi làng còn phảng phất cái long lanh, kiêu hãnh của một miền đất từng mang cốt cách kinh đô. Từ bóng mát của làng nhìn ra, bóng dáng bề thế của tòa thành đá hiện lên giữa một khoảng không gian hồ thành xanh ngắt, mênh mang và tĩnh lặng.
Di sản của hai triều Trần - Hồ đứng đó như một “bảo tàng đá” vĩ đại của lịch sử, mang đến cho du khách một cảm giác choáng ngợp xen lẫn sự trầm mặc. Từ cửa Nam, chúng tôi chọn lối đi dọc theo tường thành ngoài để chiêm ngưỡng trọn vẹn cả bốn cổng thành. Qua năm tháng, tôi nhận thấy tường thành phía Tây và phía Đông là hai dải kiến trúc kiên cố và giữ được vẻ đẹp trọn vẹn nhất. Tường thành được xây bằng những phiến đá lớn. Ông Tuế chỉ cho tôi xem ở cổng thành phía Tây có phiến đá dài 3,56m, rộng 2,23m, cao 1,75m tính ra thể tích đạt 13,89m3, nặng tới 25 tấn. Phía trong thành có phiến đá dài đến 5,10m. Ngắm nghía các khối đá nặng hàng chục tấn xếp chồng lên nhau một cách hoàn hảo, trong tôi bỗng dấy lên một niềm băn khoăn đầy lý thú. Khảo sát bốn phía tường thành, tôi nhận ra ở khoảng giữa của bốn tấm đá liền nhau lại có một tấm đá nhỏ. Tôi mạnh dạn đưa ra giả thuyết: trong kỹ thuật xây dựng người thợ không được để cho trùng mạch. Để tăng độ chắc tiền nhân đã dùng những phiến đá tạo mộng đó để nêm vào khoảng trống, đóng vai trò như chiếc khóa để tăng tính cố kết. Dân gian thường gọi bộ phận này là ngõng. Thực tế, đoạn thành nào có những ngõng đá đều không bị sạt lở. Ngược lại tường thành phía Bắc do dùng đá nhỏ hơn để xây thành, nên đến nay bị sạt lở nhiều. Hiện nay Ban Quản lý di sản đang triển khai dự án chống đỡ tường thành Bắc và tiến hành xây lại một đoạn tường thành theo nguyên bản. Dù có công nghệ mới, máy móc hỗ trợ, nhưng việc thi công vẫn diễn ra thận trọng, tỉ mỉ chứ không thể nhanh chóng. Đọc lại chính sử, kỳ tích xây thành trong ba tháng không chỉ minh chứng cho trí tuệ bậc thầy mà còn để lại một ẩn số lớn của người xưa. 
Có lẽ, điểm chạm lay động lòng người và để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong chúng tôi chính là cổng Nam với ba vòm đá uy nghi, tráng lệ. Những khối đá xanh nặng hàng chục tấn được gọt giũa vuông vức, xếp chồng lên nhau một cách chính xác tuyệt đối mà không cần bất kỳ chất kết dính nào. Vòm cổng được tạo tác theo hình thang cân (hình múi bưởi) ghép lại tạo ra lực cân bằng, trông đồ sộ nhưng vẫn thanh thoát. Theo lời ông Tuế - người đã trực tiếp đo các vòm cổng thành thì cổng Nam rộng 5,82m, vòm cao 5,75m; hai cửa bên rộng 5,45m với chiều sâu hun hút lên tới 15,20m. Các cổng Bắc, Đông, Tây cũng có chiều rộng 5,80m nhưng chiều cao vòm thấp hơn. 
Bước vào trong nội thành, dẫu thời gian và dâu bể cuộc đời đã xóa nhòa dấu tích của những cung điện nguy nga thuở trước, lòng người vẫn không khỏi bồi hồi. Nhìn đôi rồng đá còn hiện hữu cùng những nền móng đã phát lộ sau các cuộc khai quật, chúng tôi càng thêm tự hào và khâm phục tư duy lao động sáng tạo của tiền nhân. Nơi đây, ngoài dấu vết nền móng các cung điện, đền miếu của vương triều còn có lưu dấu hệ thống hồ: Dục Thúy phía Tây Bắc, Dục Tượng phía Đông Nam, Bơi Chải phía Tây Nam và Bán Nguyệt phía Đông Bắc. Chúng không chỉ điều tiết nguồn nước cho kinh thành mà còn là nét chấm phá phong thủy, mang lại vẻ mềm mại cho một không gian toàn đá kiên cố. 
Mùa này, khắp các lòng hồ cổ và những ruộng lầy trong nội thành hoa sen hồng bung nở, tỏa hương thơm ngát, cùng những thửa ruộng lúa xanh rờn làm đẹp cho đất trời Tây Đô, nức lòng du khách. Men theo bờ hồ thơm ngát, tôi tìm gặp anh Vũ Đình Hiến, một người con của thôn Đông Môn đã gắn bó nhiều năm với nghề trồng sen nơi đây:
- Trồng sen có lợi nhuận hơn trồng lúa không anh?
Anh cười, vui vẻ chia sẻ: 
- Trong khu vực thành hiện có đến mười hộ trồng sen, sen cho nhiều sản phẩm từ hoa, hạt, đến tâm sen nên nguồn thu cũng đa dạng. Việc trồng sen, tuy lợi nhuận không cao nhưng cũng góp phần ổn định kinh tế cho gia đình và tô điểm thêm nét đẹp cho Di sản Thành Nhà Hồ.
Lời tâm sự mộc mạc của người nông dân thôn Đông Môn cứ vương vấn mãi trong lòng tôi. Hóa ra, sắc sen ấy không chỉ nuôi sống con người, mà còn đang trở thành chiếc cầu nối đưa du khách trở về với quá khứ. Những đầm sen hồng rực rỡ là điểm chụp ảnh, check in lý tưởng của du khách khi về thăm thành nội. Hiện nay Ban Quản lý di sản đang triển khai tuyến tham quan độc đáo mang tên “Sắc sen thành cổ”, một hướng đi đầy triển vọng nhằm quảng bá sâu rộng hơn hình ảnh, giá trị văn hóa của vùng đất này.
Rời hồ sen lộng gió, chúng tôi được cô Nguyễn Thị Loan, phụ trách bộ phận thuyết minh của di sản, dẫn lối đi thăm “Không gian trưng bày hiện vật ngoài trời”. Tại đây, lịch sử như sống lại qua mô hình súng thần công cùng những tư liệu về cuộc cải cách của triều Hồ, hay không gian trưng bày những khối đá nguyên bản dùng để xây thành. Ngay cạnh cổng Nam uy nghi, du khách không chỉ check in mà còn được tận mắt chiêm ngưỡng hệ thống các chân tảng, vật liệu kiến trúc tiêu biểu được phát hiện trong quá trình khai quật tại khu vực nội thành.
Chạy dọc hai bên đường dẫn vào nhà trưng bày, những bức ảnh tư liệu khổ lớn hiện lên phản ánh kết quả của những đợt khai quật khảo sát trong nội thành Tây Đô, một số đoạn hào thành phía Nam, phía Bắc và khu vực Đàn tế Nam Giao linh thiêng. Nhưng có lẽ, nơi giữ chân du khách lâu nhất lại là “Không gian văn hóa Nông nghiệp vùng Tây Đô”. Tại đây, những nông cụ, đồ gia dụng thô sơ và thân thuộc của tiền nhân như cối xay lúa, chày giã gạo, bếp nấu ăn… được tái hiện một cách sinh động. Không gian này giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu hơn phương thức canh tác truyền thống cùng với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của người nông dân Việt. Đó là nơi lưu giữ những mảng màu văn hóa vùng đất Tây Đô nói riêng và của làng quê Việt Nam nói chung, góp phần chung tay gìn giữ những giá trị di sản văn hóa vật chất, tinh thần của tiền nhân để lại. 
Cùng với du khách, chúng tôi vào nhà trưng bày hiện vật. Giữa không gian trang nghiêm, tâm điểm thu hút mọi ánh nhìn chính là bức chân dung Hồ Quý Ly do họa sĩ Hoàng Hoa Mai phỏng dựng. Hồ Quý Ly là một người văn võ toàn tài, người từng nắm giữ uy thế chính trị khá lớn và tinh thần yêu nước nồng nàn, luôn sẵn sàng chống trả ngoại xâm. Trong những năm giữ quyền bính của triều Trần và cả khi lên ngôi vua, Hồ Quý Ly đã thực hiện một cuộc cải cách toàn diện nhằm canh tân đất nước, cứu vãn nguy cơ sụp đổ của nhà nước phong kiến. Dù đã tổ chức cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược, nhưng tiếc thay, do không tập hợp được sức mạnh đoàn kết của toàn dân nên cuối cùng thất bại. Vương triều Hồ chỉ tồn tại trong vòng bảy năm, nhưng những cải cách tiến bộ cùng tòa thành đá vĩ đại mà Nhà Hồ để lại đã trở thành những giá trị lịch sử đặc sắc của dân tộc.
Bên trong nhà trưng bày, mô hình kinh thành Tây Đô cùng vùng phụ cận được tái hiện tỉ mỉ, giúp du khách có cái nhìn bao quát về hình sông thế núi bao bọc, phòng thủ nơi đây. Bên cạnh đó, nơi này còn trưng bày vô số bi đá phục vụ cho việc xây thành và là vũ khí phòng thủ bảo vệ thành trì. Những viên gạch nung lớn đã tồn tại hơn 600 năm nay vẫn giữ vẹn nguyên được màu hồng tươi. Đặc biệt những tên địa phương được dập trực tiếp vào sản phẩm như “An Tôn xã”, “Yên Định huyện”, “Kẻ Nưa”... minh chứng cho sự tồn tại nhiều địa danh cổ còn lưu dấu đến tận ngày nay. Ngoài ra những hiện vật ngói đất nung, đồ gốm tinh xảo được sưu tầm từ lần khai quật khảo sát khiến người xem trầm trồ. Qua lời thuyết minh truyền cảm của cô hướng dẫn viên cùng những hình ảnh tư liệu trực quan, quá khứ hiện lên rõ nét và chân thực hơn bao giờ hết, tựa như những trang sử hào hùng của dân tộc đang sống lại ngay trước mắt chúng tôi.
Ngược dòng thời gian trở về hơn 600 năm trước, tòa thành đá vĩ đại này thuở ban đầu mang tên: Thành An Tôn. Công trình được xây dựng vào năm Đinh Sửu (1397) dưới triều vua Trần Thuận Tông, do Hồ Quý Ly - khi đấy đang nắm quyền bính cao nhất trong triều cho xây dựng. Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” viết: “Đinh Sửu (1397), mùa Xuân, tháng Giêng, sai Thượng thư Lại bộ kiêm Thái sư lệnh là Đỗ Tỉnh (có sách chép là Mẫn) đi xem xét đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập nhà Miếu, nền Xã, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đấy, ba tháng làm xong”. Ngày 15 tháng 3 năm Mậu Dần (1398), Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Án (tức Trần Thiếu Đế). “Ngày hôm ấy lên ngự điện ở kinh đô mới; lễ mừng xong, ban yến cho các quan từ ngũ phẩm trở lên; cho đàn ông, đàn bà chơi xem ở cửa Nam cả ngày lẫn đêm”. Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400) Hồ Quý Ly chính thức lên ngôi vua, lập nên vương triều Hồ. 
Mặc dù chỉ thi công trong một thời gian ngắn, thành Tây Đô vẫn đạt đến sự hoàn chỉnh với cấu trúc thành ngoại được đắp bằng đất, trồng tre gai phòng thủ bên ngoài và thành nội kiên cố bên trong. Bao quanh thành nội là hệ thống hào sâu rộng (thành trì), kết hợp với lớp hào thiên nhiên từ sông Mã, sông Bưởi. Nét đặc sắc nhất còn hiện hữu trong nghệ thuật kiến trúc là bốn cửa thành cùng hệ thống tường thành xây dựng kỳ công, tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt cho di sản. 
Về kích thước của thành nội, xưa nay có rất nhiều ý kiến khác nhau. Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết: “Thành Tây Đô ở huyện Vĩnh Lộc, mỗi mặt dài 120 trượng, cao 1 trượng 2 thước”. Căn cứ theo đó thì thành có hình vuông nhưng số liệu đo đạc thực tế lại cho thấy thành là gần vuông với chiều Bắc - Nam dài 870,50m; Đông - Tây dài 883,50m. Sự chênh lệch giữa hai chiều là 13m không phải do sai số lúc xây dựng, mà có thể xuất phát từ quan niệm phong thủy của người thiết kế, cũng như cửa Nam lệch 120 độ so với hướng Nam. Thành có bốn cửa nằm chính giữa các mặt tường. Ba cửa Bắc, Đông, Tây được xây theo kiểu đơn môn, cổng phía Nam là hướng chính nên có tới ba vòm cửa cuốn. Là trung tâm chính trị, quốc đô của triều Trần - Hồ, nội thành xưa kia còn nhiều công trình khác như điện Hoàng Nguyên (nơi thiết triều), cung Nhân Thọ (nơi ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, cung Phù Cực, Đông Thái miếu, Tây Thái miếu...
Cách phía Nam Thành Nhà Hồ 3km là Đàn tế Nam Giao, công trình do vua Hồ Hán Thương cho xây dựng năm 1402 để tế trời đất. Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” viết: “Nhâm Ngọ (1402), tháng 8, Hán Thương sai đắp Đàn Nam Giao ở núi Đốn Sơn để làm lễ tế Giao; đại xá thiên hạ”. Đây là nơi triều Hồ tổ chức lễ tế Trời, tôn kính Hoàng Thiên, tôn kính Mẫu Địa, cầu cho quốc thái, dân an, mưa thuận gió hòa. 
Trải qua thăng trầm lịch sử và dâu bể đổi dời, Đàn tế Nam Giao của triều Hồ dần bị hoang phế, mai một. Tuy nhiên, qua những cuộc khai quật khảo cổ, các công trình và nền móng đã dần phát lộ với diện tích khoảng hơn 4ha, lưng tựa Đốn Sơn (núi Đún), tiền án là “cánh đồng Nam Giao”. Tại đây có những dấu tích kiến trúc của năm cấp nền bao. Công trình chủ yếu sử dụng đá xanh kết hợp vật liệu đất nung như gạch, ngói. Hiện nay, vẫn còn dấu tích con đường linh đạo được lát bằng những phiến đá xanh mài nhẵn, trước kia vua đi trên con đường này vào khu vực tế chính. Một công trình được bảo tồn khá nguyên vẹn tại đây là Giếng Vua, còn gọi là Ngự Dục (Ngự Duyên). Giếng có hình vuông, được kè đá theo các cấp bậc nhỏ dần vào lòng. Ở độ sâu khoảng 10m các nhà khảo cổ đã tìm ra mạch nước của giếng cổ.
Kết quả từ các cuộc khai quật, nghiên cứu tổng thể và phục hồi, chỉnh trang các hạng mục thời gian qua đã làm phát lộ nhiều dấu tích nền móng quan trọng trong khuôn viên Đàn tế Nam Giao. Đó là hệ thống nền đàn, tường bao, hệ thống thoát nước và trục Thần đạo xuyên suốt từ dưới lên trên có nhiều ô cửa; nhiều hiện vật được tìm thấy như sành sứ, kim loại có niên đại thời Trần - Hồ. Theo nhà khảo cổ học Nguyễn Hồng Kiên: “Cho đến thời điểm này, đây là Đàn tế Nam Giao còn lại nguyên vẹn nhất và có thể được xem là quý giá nhất Việt Nam”. Đánh giá về tầm vóc này, PGS.TS Tống Trung Tín khẳng định: “Phát hiện và nghiên cứu Đàn tế Nam Giao (Thành Nhà Hồ) chẳng những có ý nghĩa to lớn, góp phần đẩy mạnh nghiên cứu không gian nghi lễ của một kinh đô Việt Nam thời trung đại mà còn khẳng định tinh thần tự tôn dân tộc mạnh mẽ của vương triều Hồ và Đại Việt cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV”. Đàn tế Nam Giao triều Hồ đã được công nhận là Di tích quốc gia năm 2007.
Thành Nhà Hồ chính là chứng  tích của một thời kì quan trọng trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á nhờ quy mô to lớn cùng kiến trúc độc đáo về kỹ thuật. Công trình là kết tinh sức lao động sáng tạo, là truyền thống văn hóa, lịch sử, đấu tranh giải phóng dân tộc của nước ta. Mặc dù ngày nay thành chỉ còn lại bốn cổng, tường thành và các di tích phụ cận như đền Bình Khương, đền Trần Khát Chân, Đàn Nam Giao... nhưng những gì còn hiện hữu khiến người đời sau phải kinh ngạc. Đây là hiện tượng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử xây dựng nước nhà. Đến nay kỹ thuật xây dựng tòa thành đá trong thời gian ngắn vẫn còn nhiều điều khiến các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu. Cho dù triều đình nhà Trần do Hồ Quý Ly chỉ đạo nhằm huy động hết nhân tài vật lực, công trình vẫn là một kỳ tích lưu danh muôn thuở.
Tiếp tục hành trình, chúng tôi ghé thăm các di tích phụ cận đã được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh, đó là đền nàng Bình Khương, đình Đông Môn và nhà cổ Tây Giai... Đền Nàng Bình Khương tọa lạc ở phía Đông thành, ngôi đền gắn với truyền thuyết thật cảm động. Chuyện kể rằng khi vương triều thúc ép tiến độ thi công gấp rút nghiêm ngặt, đoạn thành phía Đông do Cống sinh Trần Công Sỹ phụ trách cứ xây gần xong lại bất ngờ bị sụt đổ, không ai rõ nguyên nhân. Hay tin, Hồ Quý Ly nghi ngờ Trần Công Sỹ có mưu làm phản, cố ý chậm trễ công việc xây thành, nên ban lệnh xử tử ông ngay tại công trường. Nhận hung tin chồng, nàng Bình Khương đau khổ và uất hận vô cùng. Nàng đến công trường khóc than vật vã. Trong những giây phút đau khổ tột cùng, nàng không biết làm gì hơn liền lao tới bức tường đá nhằm xô đổ bức tường để thấy được thi thể chồng. Nàng xô mạnh tới mức mười đầu ngón tay chảy máu và lõm sâu, in hằn vào mặt đá. Bình Khương đập đầu vào đá để cùng được chết theo chồng. Kì lạ thay, khi nàng đập đầu vào tảng đá thì khối đá lớn lõm xuống và nàng cũng tắt thở. Xót thương cho đôi vợ chồng bạc mệnh, nhân dân địa phương đã lập miếu thờ nàng Bình Khương ngay tại nơi họ ngã xuống. Buổi đầu nơi thờ bà chỉ là một miếu nhỏ nhưng gương sáng tiết liệt, linh thiêng, mọi nơi đều biết danh tiếng, đến xem và chiêm bái. Các tao nhân mặc khách khi đến thăm viếng đã cảm xúc đề thơ vào các bia đá ca ngợi nàng. Bà Vũ Thị Lựu, thủ nhang đền nàng Bình Khương đọc cho chúng tôi nghe một đoạn thơ viết về nàng: “Bình Khương vỗ đá kêu oan/ Vết tay còn đó muôn ngàn đời sau/ Trăm năm bia đá chẳng mòn/ Ngàn năm danh tiết sắt son một lòng...”. Đền nàng Bình Khương là điểm đến tâm linh của du khách, khi về thăm Thành Nhà Hồ.
Nếu đền nàng Bình Khương là nốt trầm thiêng liêng về tình nghĩa phu thê, thì đình làng Đông Môn lại là nơi lưu giữ linh hồn và hơi thở ngàn năm của đời sống làng xã. Ở làng quê Việt Nam, mái đình từ lâu đã trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng - nơi dân làng họp việc công, đón tiếp quan trên hay thu gom sưu thuế. Đình cũng là chốn tôn nghiêm thờ phụng Thành hoàng, vị thần che chở cho cả cộng đồng, để rồi dệt nên những câu ca dao đi sâu vào tâm thức bao thế hệ: “Qua đình ngả nón trông đình/ Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.
Đình làng Đông Môn hiện là một trong những ngôi đình có quy mô lớn nhất tỉnh Thanh Hóa. Theo truyền ngôn, đình làng khởi dựng từ thời Lê sơ, tọa lạc theo hướng Tây ngay trên bờ hào thành và nhìn ra cửa Đông của Thành Nhà Hồ. Đình có kiến trúc năm gian hai chái với cấu trúc bốn mái bề thế. Nền đình dài 23m, rộng 12m; toàn bộ sân và nền đều được lát loại gạch có niên đại thời Trần - Hồ. Sự vững chãi của ngôi đình được minh chứng qua hệ thống 44 cột trụ. Trong đó, 20 cột trụ bằng đá được đục đẽo vuông vức tạo khung diềm kiên cố, cùng 24 cột cái và cột quân bằng gỗ lim to cỡ một người ôm. Hệ thống cột phân bổ đều ở 6 vì, gánh vác toàn bộ trọng lượng của mái đình đại khoa.
Điểm đặc biệt là ngôi đình chỉ có cấu trúc một tòa duy nhất, bốn mặt để trống hoàn toàn chứ không xây tường bao. Thiết kế này giúp gió lộng bốn phương tự do lùa vào, mở ra một không gian tâm linh khoáng đạt, giao hòa cùng trời đất. Nơi đây thờ thần Quản Gia Đô Bác - vị thần gắn với thần tích đã giúp cho Hồ Quý Ly xây thành được nhanh chóng. Bên cạnh giá trị tín ngưỡng ấy, đình Đông Môn chính là sợi dây thắt chặt gắn kết cộng đồng qua các kỳ lễ hội Thành hoàng tôn nghiêm, thu hút bước chân du khách thập phương tìm về xứ Thanh. Mái đình cổ còn là một kho tàng lịch sử sống động, nơi các di văn chữ Hán trên hoành phi, câu đối và thượng lương âm thầm tỏa sáng, dẫn lối cho hậu thế tỏ tường về quá khứ thăng trầm của mảnh đất này.
Nằm ở phía Tây của Thành Nhà Hồ, làng Tây Giai yên bình hôm nay từng là phố Lan Nhai của kinh đô triều Hồ. Cấu trúc của các con đường vẫn còn mang dáng dấp của khu phố buôn bán. Nơi đây hiện vẫn trân quý lưu giữ nhiều nếp nhà cổ kính, mà tiêu biểu và vẹn nguyên nhất phải kể đến là ngôi nhà ông Phạm Ngọc Tùng. Ngôi nhà được xây dựng vào năm 1810 bởi cụ tổ bảy đời của ông Tùng, là một kiệt tác kiến trúc nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỷ XIX. Sự đồng nhất, bền vững và đậm đà bản sắc dân tộc của ngôi nhà được thể hiện qua kết cấu vững chãi cùng những đường nét chạm khắc tinh xảo. Tại ba gian nhà ngoài, các bức câu đối chữ Hán cổ kính càng làm tôn lên vẻ trầm mặc, trang nghiêm cho không gian. Chính nhờ những giá trị đặc sắc ấy, sau khi được trùng tu bài bản, ngôi nhà cổ của gia đình ông Tùng đã được Tổ chức UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vinh danh là một trong sáu ngôi nhà cổ đẹp nhất Việt Nam. Nơi đây đã trở thành điểm đến không thể bỏ qua của lữ khách phương xa, đồng thời là địa chỉ nghiên cứu quen thuộc của giới kiến trúc sư và những chuyên gia bảo tồn. Khi được hỏi về những câu đối chữ Hán cổ treo trong nhà, ông Tùng hồ hởi cho biết: “Đó chính là những lời răn dạy của tiền nhân. Con cháu các thế hệ sống dưới ngôi nhà này phải thường xuyên nhắc nhở nhau giữ gìn gia phong và bảo tồn di sản của tiên tổ. Đây là niềm vinh hạnh của gia đình, đồng thời cũng là trách nhiệm để ngôi nhà mãi mãi vững bền lưu danh cùng hậu thế”.
Đi qua những thăng trầm của lịch sử, Thành Nhà Hồ và triều Hồ ngày nay đã được nhìn nhận một cách khách quan và trân trọng. Sau khi được xếp hạng Di tích Lịch sử quốc gia năm 1962, Thành Nhà Hồ được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa thế giới vào tháng 7-2011. Tiếp nối hành trình gìn giữ cội nguồn, đơn vị quản lý di sản luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ cốt lõi từ nghiên cứu, bảo tồn đến phát triển du lịch. Nơi đây không chỉ chủ động quảng bá hình ảnh di sản trên các nền tảng số, mà còn không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, đưa xe điện, xe đạp vào phục vụ du khách, khẳng định vị thế một điểm đến an toàn, hấp dẫn.
Trò chuyện với ông Nguyễn Bá Linh, Giám đốc Ban Quản lý Di sản Thành Nhà Hồ và các Di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi mới thấu hiểu hết những nỗi niềm trên vai người chèo lái. Kể từ khi cơ quan này được tổ chức lại vào năm 2025, trên cơ sở sáp nhập Trung tâm Bảo tồn cũ với các Di tích trọng điểm của tỉnh gồm Lam Kinh, đền Bà Triệu và khu danh thắng Am Tiên, gánh vác trọng trách điều hành, áp lực đối với người đứng đầu lại càng thêm nặng nề.
Từ những giai đoạn trước cho đến nay, ông Linh cùng các cộng sự đã bền bỉ biến khối di tích đá tĩnh lặng thành một không gian di sản sống động. Nhiều người vẫn gọi vui ông là “Tiến sĩ giữ thành”, nhưng hơn cả việc canh giữ những khối đá, ông đã biến nơi này thành một điểm sáng trên bản đồ du lịch, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách ghé thăm mỗi năm. Tính riêng năm 2025, trung tâm đã đón tiếp và giới thiệu về di sản cho 269.681 lượt khách, bao gồm 266.323 lượt khách trong nước và 3.358 lượt khách quốc tế. Ông Nguyễn Bá Linh luôn tâm niệm rằng: Di sản chỉ trường tồn khi được đặt vào lòng cộng đồng. Chương trình giáo dục như “Thành Nhà Hồ - Di sản cho mai sau”; hay hoạt động “Lễ thượng nêu”, “Rung chuông vàng”, “Em là nhà khảo cổ”, “Thành Nhà Hồ, một điểm đến”, chính là tâm huyết của ông nhằm ươm mầm tình yêu lịch sử cho thế hệ tương lai. Bên cạnh đó, ông chú trọng sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển bằng cách tích cực hỗ trợ người dân địa phương trong vùng di sản tham gia vào các dịch vụ du lịch, lễ hội truyền thống, duy trì các câu lạc bộ hát tuồng, hát chèo... Sức sống của vùng đất cổ còn được giới thiệu qua các sản phẩm độc đáo của địa phương đến tay du khách như chè lam Phủ Quảng, sâm Báo, rau má, bánh lá răng bừa, sắn dây, các sản phẩm từ sen thành cổ...
Nói chuyện với chúng tôi, cô Nguyễn Thị Loan, hướng dẫn viên du lịch cho biết thêm: Không dừng lại ở việc khai thác các điểm du lịch nơi thành cổ, hiện nay Ban Quản lý đã và đang đưa các di tích phụ cận trong vùng đệm vào chương trình trải nghiệm tại di sản với việc xây dựng bốn tuyến tham quan: Thành Nhà Hồ - Về miền Di sản; Thành Nhà Hồ - Và các làng truyền thống; Thành Nhà Hồ - Tâm linh vùng đệm; Thành Nhà Hồ - Di tích và thắng cảnh vùng đệm. Sở dĩ có sự mở rộng này bởi đây là khu vực chứa đựng tất cả các yếu tố văn hóa, góp phần tạo nên tính hoàn chỉnh cho một kinh thành xưa, với các công trình tín ngưỡng phong phú như các ngôi chùa cổ dọc bờ sông Mã (Linh Giang, Hà Lương, Tường Vân), di tích chùa Du Anh - động Hồ Công cùng các đền Tam Tổng, đền Đốn Sơn. Bên cạnh đó, hệ thống làng cổ, làng nghề, bến sông và giai thoại lịch sử tại đây sẽ giúp du khách có cái nhìn trực quan nhất về đất và con người Tây Đô.
Thực tế đã chứng minh rằng, nỗ lực đổi mới và đa dạng hóa các tuyến du lịch gắn với đặc trưng của Thành Nhà Hồ thời gian qua đã gặt hái được thành công bước đầu, làm thay đổi sâu sắc nhận thức của du khách lẫn cộng đồng địa phương khi đến tham quan. Tại đây du khách được trải nghiệm nhiều không gian văn hóa sống động qua hiện vật, mô hình trưng bày khảo cổ học độc đáo. Các lộ trình khám phá không ngừng được mở rộng, kết nối chặt chẽ đến các điểm di tích, danh thắng, các làng truyền thống trong khu vực. Bên cạnh đó, tư duy, tác phong và trình độ chuyên môn của đội ngũ thuyết minh viên ngày một nâng cao đã đem lại sự hài lòng cho công chúng. Chúng tôi gửi trọn niềm tin vào một tương lai không xa, khi đã hoàn thành kế hoạch khảo cổ học. Lúc ấy, toàn bộ mặt bằng kiến trúc xưa của thành chắc chắn sẽ được tái hiện vẹn nguyên. Nhà nước có kế hoạch phục dựng từng bước để khôi phục lại một kinh đô cổ, biến Thành Nhà Hồ thành di sản nổi bật, có sức thu hút mạnh mẽ đối với công chúng trong nước và quốc tế.
Khép lại hành trình đầy ắp những chiêm nghiệm và khảo cứu về mảnh đất này, tôi rất tâm đắc với lời chia sẻ của ông Lê Khắc Tuế: “Việc xây nên thành đá kỳ vĩ phải đánh đổi bằng biết bao công sức, tiền của, máu xương của hai triều Trần - Hồ. Nhưng để thổi hồn vào những khối đá tĩnh lặng ấy và giúp chúng trường tồn, đó lại là công trình của hàng thế kỷ, được đắp bồi bằng mồ hôi, xương máu và cả tình yêu di sản của biết bao thế hệ người con đất Việt hôm qua, hôm nay và cả mai sau...”.

7-2026
                             N.H.M


Các tin liên quan

Thống kê truy cập
 Đang online: 92
 Hôm nay: 3788
 Tổng số truy cập: 17332203
Cửa sổ văn hóa

  • TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XỨ THANH
  • Địa chỉ: Tầng 9, trụ sở hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh, đường Lý Nam Đế, Phường Đông Hương, TP. Thanh Hóa - Điện thoại: 0237.3859.400
  • Chịu trách nhiệm nội dung: Thy Lan
  • Website: tapchixuthanh.vn - Email: tapchixuthanh@gmail.com
  • Giấy phép số 187/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cấp ngày 26/10/2023
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa