VŨ QUANG TRẠCH
Gọi mặt trời lên
Bút ký dự thi
Cuối năm 2021, Ban Thơ - Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa tổ chức cho hội viên đi thực tế trong tỉnh. Đợt ấy, chúng tôi đến thăm cơ sở đúc đồng tại làng Chè Đông, xã Thiệu Trung. Lần đầu tiên trong đời được xem đúc đồng thủ công, tôi vô cùng ngỡ ngàng và thích thú. Sao lại có thể diệu nghệ, tinh xảo, mỹ cảm thăng hoa đến vậy... Cảm nhận ban đầu ấy khơi gợi trong tôi niềm kiêu hãnh về những giá trị lớn lao mà con người tạo ra cho cuộc đời, cho nhân sinh. Từ đó tôi nuôi ý định viết về nghề đúc đồng, nghề mà từ bình minh của lịch sử dân tộc đã có. Vẻ đẹp sang trọng kết tinh từ rung cảm tâm hồn, trí tuệ sáng tạo, giao hòa thiên nhiên cùng lóng lánh những giọt mồ hôi rơi trên miền nhiệt đới. Đó là di sản trường tồn hàng ngàn năm của giống dòng Lạc Việt bền bỉ, vững vàng, luôn được tôn vinh, văn hóa độc đáo trong lòng bạn bè và cộng đồng quốc tế.
*
Mùa xuân Bính Ngọ năm 2026, đúng dịp Chè Đông tổ chức hội làng, ông Trần Văn Chinh - một người con của xứ này - gọi điện cho tôi nhắn nhủ: “Làng Chè Đông tổ chức hội làng, có lễ hội đậm đà bản sắc và vui lắm, anh lên nhé!”. Lời mời chân tình đưa tôi trở lại Chè Đông lần thứ hai. Tôi được ông Chinh dẫn qua những ngôi đền, chùa, lăng mộ, sông lớn, sông nhỏ, sân thể thao. Thế đất, nguồn mạch sông nước, cồn bãi, ruộng đồng nơi đây tựa như “quần long hội tụ”, đắc địa quá. Các dòng sông cùng chảy về hướng làng, kè bờ sạch đẹp, hiển hiện chung dòng sức mạnh, thuận hòa, vượng nghề cho đời sống dân cư. Khát vọng vươn tầm của đất và người nơi đây dường như đang hiện hữu rõ ràng hơn bao giờ hết.
Tôi được hòa mình vào các sự kiện văn hóa: từ nấu cơm thi, đánh cờ người đến thi đấu thể thao rồi dâng hương đền thờ, vào chùa chiêm bái. Qua từng thôn xem “không khí” con cháu ở mọi miền đất nước cùng về hội làng... Nhìn dòng người từ muôn phương ríu rít tìm về nguồn cội, tôi chợt hiểu rằng, nếu không có lòng kính vọng tổ tiên sâu sắc và tình yêu làng sắt son, người dân nơi đây chẳng thể chung tay tổ chức một lễ hội quy mô, bài bản đến thế. Tôi thầm mến phục những người thôn quê nắng mưa bền bỉ, tâm huyết gìn giữ nét đẹp văn hóa, những người thợ đúc đồng mắt nhìn thấu khuôn, lòng thấu lửa và cả những em học sinh trên mảnh đất học Lê Lương, Lê Văn Hưu... Trong phút giây xúc động, tôi nói với ông Chinh: “Tôi không phải là người ở đây, nhưng tôi biết ơn các thế hệ cán bộ, nhân dân xã Thiệu Trung nhiều lắm. Họ đã dành quỹ đất xứng tầm cho làng nghề, cho khu đền, mộ Lê Văn Hưu đủ không gian tâm tĩnh gợi lòng về cõi tiền nhân; cho chùa Hương Nghiêm có khuôn viên mát mẻ ra vào tiện lợi; cho sân vận động rộng rãi như một sân bóng lớn và cả Khu Di tích lịch sử Hầm làm việc và Chỉ huy của Thường trực Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa, thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 1964-1972... Tất cả đều minh chứng cho sự hài hòa giữa dòng chảy lịch sử và nhịp sống đương đại. Hôm nay, tôi được thấm cảm khá đủ đầy những sắc màu văn hóa trong cái nôi làng nghề đúc đồng, chắc chắn còn cơ hội tôi sẽ về lại Chè Đông để được tham quan đúc đồng và trò chuyện cùng các nghệ nhân”. Cứ bồi hồi miên mải cảm ơn thế, nước mắt tôi chực ứa ra... Ngước nhìn trời xanh bao la, khoảng ấy có mặt trời đang lên từ phía núi Đọ, ngọt lòng châu thổ sông Chu.
*
Khi dấn thân vào hành trình tìm hiểu vùng miền, những linh địa tổ tiên hay lật mở từng vỉa tầng lịch sử văn hóa, nơi có sự đan cài của mạch nguồn sông nước núi non, ta rất dễ bị phụ thuộc vào các địa danh khô khan trên bản đồ. Nhưng những cái tên Kẻ Chè, Kẻ Rị(*) lại mang đến cho tôi một lối rẽ khác. Chúng mở ra một tầm nhìn cội nguồn, logic hơn từ thuở sơ khai của lịch sử đất này.
Kẻ Chè, Kẻ Rị, nằm trong vùng văn hóa cổ Đông Sơn - nơi mà từ giữa thế kỷ trước, giới khảo cổ học và khoa học lịch sử đã công nhận Đông Sơn là vùng văn hóa cổ của người Việt. Biểu tượng tiêu biểu của văn hóa ấy là kỹ nghệ đúc đồng, nghệ thuật của lửa và đất để tạo nên những tuyệt tác tinh xảo xuyên thời gian. Minh chứng cho tầm vóc ấy, Giáo sư Phạm Huy Thông - nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam - từng nhận định: “Người Việt cổ đã có thời làm chủ một cuộc sống huy hoàng với văn hóa Đông Sơn, với các vua Hùng. Di tích Đông Sơn bên bờ sông Mã chứng tỏ tài năng xuất chúng về phát minh và đúc trống đồng văn minh hơn Âu châu ngang thời của người Việt cổ”. Từ luận cứ trên, khi tìm hiểu về đúc đồng Chè Đông, tôi đặt trong “vùng ảnh hưởng” của người Việt cổ và văn hóa Đông Sơn để nhận ra nghề đúc đồng ở đây đã có từ rất sớm. Theo sách “Lịch sử làng nghề Thanh Hóa”, nghề đúc đồng Chè Đông có từ cuối thời tiền Lê, đầu thời Lý đã phát triển mạnh mẽ và ổn định. Chè Đông có nhiều thợ giỏi, bí quyết nghề được truyền qua các thế hệ, lại có loại đất làm khuôn đúc ít nơi có được. Sản phẩm khá phong phú như trống đồng, tượng phật, binh khí, chuông chùa, các đồ tế lễ, thờ phụng; các sản phẩm kỹ thuật cao như vạc đồng, đỉnh đồng tại kinh thành Huế, các tượng thờ ở Thái Miếu nhà Lê. Một số lớn hàng hóa được trao đổi, buôn bán vào Tây Nguyên, sang Lào, sang Thái Lan.
Trải qua các triều đại, Kẻ Chè, Kẻ Rị đã có nhiều người nổi tiếng tài giỏi uy danh, đỗ đạt khoa bảng, được triều đình ban chức tước. Điển hình nhất là nhà cự tộc Lê Lương và Bảng nhãn Lê Văn Hưu - nhà sử học, danh nhân văn hóa.
Nhà cự tộc Lê Lương được vua Đinh Tiên Hoàng mến trọng tài đức, phong tước “Kim tử Quang Lộc đại phu” và giao giữ chức “Trấn quốc bộc xạ” để cai quản toàn bộ vùng đất Ái Châu. Dưới danh tiếng và tài trị vì của Lê Lương, vùng đất Kẻ Chè, Kẻ Rị thời bấy giờ trở thành một trung tâm sầm uất, đã từng đón vua Đinh Tiên Hoàng đến thăm và phong chức. Khi Lê Hoàn lên ngôi, lại tiếp tục tin tưởng và giao trọng trách cho Lê Lương cai quản vùng đất này. Đến thời nhà Lý, Thái úy Lý Thường Kiệt vào Thanh Hóa trị sự đã về đây giải quyết việc công, đồng thời truyền lệnh cho sửa sang chùa Hương Nghiêm, ngôi cổ tự do chính Lê Lương xây dựng từ thế kỷ X. Các vị vua nhà Hậu Lê như Lê Thánh Tông những lần ngự giá về Lam Kinh dâng công cũng ghé thăm vùng đất này. Lê Lương cùng với nhân dân Kẻ Chè, Kẻ Rị đã đồng lòng khai phá đất đai, dựng xóm làng, đẩy mạnh nghề nông và đặt nền móng phát triển cho làng nghề đúc đồng truyền thống tại quê hương.
Bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230 - 1322) là cháu đời thứ 7 của Lê Lương. Ông đỗ Bảng nhãn khoa thi năm 1247. Năm 1272, trên cương vị Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc tử viện Giám tu, Lê Văn Hưu vâng lệnh soạn bộ “Đại Việt sử ký” được vua xuống chiếu khen ngợi. Ông là một nhà sử học uyên bác, mang tinh thần tự tôn dân tộc cao, được hậu thế tôn vinh là người đặt nền móng cho nền sử học Việt Nam. Cùng với Lê Lương, Lê Văn Hưu chính là linh tổ để con cháu đời sau kính ngưỡng, tự hào và chung tay mà gìn giữ ngọn lửa thiêng.
*
Không lâu sau tôi có dịp trở lại khi xã Thiệu Trung long trọng tổ chức “Lễ hội đền thờ Lê Văn Hưu năm 2026”, kỷ niệm 704 năm ngày mất của ông. Tại đây, tôi được tận mắt chứng kiến nghi thức khởi kiệu trang nghiêm, rước biểu tượng cuốn sách “Đại Việt sử ký” từ đền thờ về lăng mộ dâng hương tưởng niệm, cáo yết tổ tiên rồi hồi loan an vị. Tôi cũng được tham quan các gian hàng hội chợ, nơi trưng bày các sản phẩm OCOP và văn hóa làng nghề truyền thống từ đồ đồng tuyệt mỹ, tinh xảo như có khí thiêng trời đất lung linh ánh đồng, thứ ánh sáng của cả ngàn năm.
Tham quan làng nghề đúc đồng Chè Đông, nhìn bàn tay em gái mười tám, đôi mươi nhích từng li mũi chạm, nhấn tỉa những hoa văn tròn đồng tâm, tam giác nhỏ li ti như hạt gạo trên mặt trống, tôi như đang sống trong huyền thoại. Độ chính xác phải tính bằng một phần bao nhiêu milimet... Đôi mắt, bàn tay, lực từ chiếc búa mini gõ vào chạm khắc chỉ cần thiếu chính xác một chút là có thể hỏng họa tiết. Thật là tuyệt đỉnh! Một vẻ đẹp tinh anh. Hàng ngàn hoa văn nhỏ xíu nối nhau theo vòng tròn lớn mà không thừa không thiếu một đầu tăm. Vũ trụ bao la như tụ hết vào mặt trống, thiên nhiên trong trí tưởng, ý tưởng trong ánh mắt, bàn tay con người hóa nên những vi thể tinh tú, dung dưỡng mỹ cảm đến vô độ vô cùng... Những giọt máu của tổ tiên đang thấm chuyển sinh sôi trong hoa tay ấy, gương mặt ấy để thành Lạc điểu nước non. Tôi thấy mình phiêu du nhẹ bẫng, như cánh chim sải cánh lướt bay trên bầu trời bao la, qua ngọn nguồn biển cả, mải mê những cánh rừng, dải thác, những con thuyền độc mộc, những tộc dân vận khố, những bầy đàn hươu nai nhởn nhơ trong giao hưởng gió trời nắng sớm miên man. Nhìn ngọn lửa rừng rực thốc lên trong lò nấu đồng, nhìn những tảng ngực vạm vỡ khiêng nồi nước đồng đỏ au hơn ngàn độ nóng như mặt trời mang lửa về đây... Tôi chợt nhận ra, chỉ có con người mới có thể làm cho cái hoang dã của tự nhiên tan chảy mà nên tuyệt tác nhân sinh, mà giao hòa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Đó là lửa đồng, là tinh khí từ hơi thở đất đai, từ cong khô ngọn tóc đồng hun của con người và của non nước quê hương...
Làng Chè Đông, minh chứng rõ ràng nhất cho những điều có trong “sách vở” đó là động lực tương hỗ giữa kinh tế và văn hóa. Giữ gìn vẻ đẹp văn hóa truyền thống là yếu tố tạo nên sự phát triển về kinh tế vững vàng, kinh tế phát triển là điều kiện để văn hóa, nhân tâm, luân lý, đạo đức con người sáng đẹp hơn. Mục tiêu của “Hội nghề đúc đồng xã Thiệu Trung” là: “Đoàn kết - Sáng tạo - Giữ lửa nghề truyền thống”, Hội không ngừng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế, tổ chức tham quan học hỏi, tham gia hội chợ nhằm quảng bá sản phẩm, đồng thời tăng cường giao lưu với các làng nghề khác.
Tôi vào thăm xưởng của Công ty TNHH đúc đồng truyền thống Đông Sơn Chè Đông do Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Bá Châu làm giám đốc, rồi trở lại văn phòng để trò chuyện cùng ông.
Nghệ nhân Nguyễn Bá Châu sinh năm 1962. Ông có dáng vẻ rắn rỏi, phong thái điềm đạm, bền bỉ. Thoáng nhìn đã thấy toát lên thần thái của một nghệ nhân giàu ý chí, quyết đoán, thận trọng nhưng vô cùng dám nghĩ dám làm. Năm 2025, ông vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân đầu tiên của nghề đúc đồng thủ công Việt Nam. Là một người có tư duy sâu sắc và khá nhiều trăn trở... Câu chuyện đầu tiên ông tâm sự với tôi chính là cơ duyên và niềm tự hào của người dân Chè Đông khi được giao trọng trách đúc tượng Bác Hồ:
- Năm 1970, Hợp tác xã Tiểu thủ công nghiệp của xã được giao nhiệm vụ đúc tượng đồng Bác. Dạo ấy tôi mới tám tuổi nhưng vẫn còn nhớ cả làng rộn rịp lắm. Trong những người được đúc tượng Bác, có bố tôi - ông Nguyễn Bá Xuân, là Phó Chủ nhiệm hợp tác xã. Tôi cứ loanh quanh nơi đúc tượng để xem. Mọi người làm việc liên tục, ăn thay ca là bánh mì và sữa. Ngay từ ngày ấy tôi đã kính yêu Bác... Tôi mang tình cảm cao quý, thiêng liêng đó trong cuộc đời mình. Tình cảm ấy cứ sâu nặng theo tuổi tác, Bác Hồ luôn là tấm gương để tôi noi theo. Từ bấy đến nay, mỗi khi được đúc tượng Bác, tôi hạnh phúc lắm...
Hướng nhìn tượng Bác trong phòng, ông nói tiếp:
- Sau khi đúc tượng Bác được mấy năm, Hợp tác xã Tiểu thủ công nghiệp sáp nhập vào Hợp tác xã Nông nghiệp, rồi mọi người chỉ lo cấy trồng để có hạt gạo, củ khoai, sao nhãng nghề đúc đồng đến mức buông lơi... Day dứt quá! Phải mất hơn chục năm, cảm thấy có lỗi với tiền nhân, tiên tổ, năm 1998 tôi khôi phục lại nghề bắt đầu từ việc đúc trống đồng. Có vô vàn khó khăn... Hai năm đầu công việc hoàn toàn thất bại, sau đó mới đạt kết quả. Chè Đông là nơi đầu tiên của Việt Nam đúc lại được trống đồng. Thành công ấy có phần động viên, tạo mọi điều kiện của Đảng ủy, Uỷ ban Nhân dân xã Thiệu Trung lúc bấy giờ. Chúng tôi tổ chức lên tỉnh, gặp trực tiếp lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban để báo cáo kết quả, khẳng định chắc chắn: Chúng tôi đã đúc thành công trống đồng.
Tuy vậy khoảng 5 năm đầu công việc rất khó khăn vì không tìm được đầu ra để tiêu thụ... Quyết không nản chí, chúng tôi đề xuất với Cục Công nghiệp địa phương và Sở Công thương cho mở lớp đào tạo nghề, tạo sinh kế ổn định cho hàng trăm lao động. Đồng thời tôi cũng làm đề án “Nghiên cứu chế tạo khuôn đúc đồng” và lập trang web quảng cáo giới thiệu sản phẩm. Đến tháng 5 năm 2009, xã dành riêng khu đất cho làng nghề, cơ sở sản xuất phát triển mở mang, được các nơi trong nước tìm đến. Đặc biệt, dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Hội Di sản Văn hóa Việt Nam đặt Chè Đông đúc 100 trống đồng cho đại lễ. Trống đúc xong được trưng bày tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đó là cơ hội để tiếp thị, quảng bá rộng rãi hơn. Nghề đúc đồng là di sản văn hóa của nhân loại, nó rất quý giá bởi tận dụng được các vật liệu rẻ tiền có sẵn ở mọi nơi, mà làm ra những sản phẩm giá trị.
Chỉ tay vào mặt tường chính treo kín những xác nhận kỷ lục, bằng khen, giấy chứng nhận, ông Châu hào hứng tiếp lời:
- Từ khi khôi phục lại nghề đúc đồng tới nay chúng tôi đã xác lập được bốn kỷ lục, đó là: Đúc một ngàn pho tượng Mẹ Âu Cơ làm quà tặng cho Hội nghị APEC tổ chức tại Đà Nẵng năm 2017; đôi pho tượng Thần đèn ngồi quỳ - một trong những báu vật quý giá của Việt Nam; đúc trống ngang hai mặt, hiện nay đang đặt ở Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng và cuối cùng là chiếc trống đồng to nhất Việt Nam, đang trưng bày tại làng nghề Chè Đông. Để đúc chiếc trống này dùng tới bốn tấn đồng nguyên liệu, chế tạo nồi nấu đồng cao đến 1m, đường kính 1m. Khi rót đồng vào khuôn phải dùng cần cẩu để nâng nồi. Ngoài ra, chúng tôi còn đúc tượng Lê Văn Hưu bằng cỡ người thật đang đặt trong đền.
Nhân tài nào phải đâu xa... Trước mặt tôi là một nghệ nhân tuổi ngoài 60, mái đầu bạc trắng nhưng “lửa nghề”, ý chí, tài năng thì thật hiếm có. Sao đất này thời nào cũng sinh ra những con người giỏi giang đến vậy? Biết nói thế nào cho hết... Từ sâu tâm thức, tôi ngưỡng vọng và khẽ hỏi:
- Dù muôn vàn khó khăn nhưng trong công việc chắc cũng nhiều niềm vui và hạnh phúc phải không nghệ nhân?
Ông nhìn tôi rồi như nói với chính mình:
- Từ ý tưởng, tính toán cho đến khi hoàn thành sản phẩm, công việc nào cũng có đam mê và hạnh phúc, nhưng với tôi hạnh phúc nhất là đúc tượng Bác. Còn phấp phỏng, hồi hộp là những lần dỡ khuôn để được nghe thanh âm trống đồng. Bởi để đúc một chiếc trống có âm thanh vang gợi hồn cốt núi sông, có hai yếu tố quyết định thành công là: tính toán pha chế hợp kim đồng và phân chia độ dày mỏng khác nhau của mặt trống, tạo khả năng đàn hồi, cộng hưởng âm thanh...
Nghệ nhân đúc đồng đây ư? Trong ông, tôi thấy có tài hoa của nghệ sĩ điêu khắc, tài năng của kỹ sư luyện kim, kỹ sư nhiệt động học, lại có cả trình độ của một kỹ sư sức bền vật liệu và đẳng cấp của một nhạc sĩ danh tiếng... Đó là thực tế. Người nghệ nhân đúc đồng chính là “công trình sư”, một “tiến sĩ” thực nghiệm trong chế tác, nhưng lại hành nghề mà không cần đến dụng cụ đo đếm, không chỉ số hiện báo, tất cả chỉ từ các giác quan và một trái tim của con người... Xúc động lắng lại, tôi hỏi thêm:
- Theo nghệ nhân, để kết nối, lan tỏa rộng rãi các giá trị, vẻ đẹp từ làng nghề Chè Đông hiện nay, cần có bước đi thế nào?
Như đã ấp ủ, ngẫm ngợi từ lâu ông chia sẻ:
- Chè Đông có nhiều lợi thế: sản phẩm đa dạng, giao thương thuận lợi để có các hợp đồng, đào tạo, kết nối chặt chẽ với các làng nghề trong nước và các tour du lịch. Tôi trăn trở về hướng đi du lịch làng nghề suốt cả chục năm nay và hiện chúng tôi đang liên hệ làm du lịch thí điểm. Khó khăn trước mắt là phải có vị trí, mặt bằng để giới thiệu và cho du khách trải nghiệm công việc đúc đồng, đúc tượng người thân, đúc các vật dụng... Rồi phải có cơ sở để nghỉ ngơi, tập kết phương tiện. Có trang web để thường xuyên đăng tải các video giới thiệu rộng rãi về làng nghề, chi tiết tour du lịch trải nghiệm để khách xem xét dự tính, có phương tiện đi lại thường xuyên, thuận tiện. Một khó khăn nữa là cạnh tranh với “hàng công nghệ” giả hàng thủ công ở các nơi khác, nhưng chúng tôi kiên quyết giữ nghề thủ công. Năm 2008, tôi thành lập công ty và hiện con trai tôi - Nguyễn Bá Quý, sinh năm 1987, một Nghệ nhân Ưu tú trẻ tuổi, hiện nay đang giữ chức phó giám đốc công ty. Quý cũng rất đam mê, tâm huyết với nghề. Giữ gìn nghề không chỉ đơn thuần là truyền nối, kinh tế, mà lớn hơn thế rất nhiều. Đúc đồng là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia đã có hàng ngàn năm, đã thành hồn thiêng của dân tộc Việt Nam, phải bảo tồn và phát triển. Mỗi nghệ nhân, mỗi người thợ đúc đồng là một tế bào, cả làng nghề là một bầu nhiệt huyết, đó là tài sản quý giá. Dòng máu ấy lưu truyền từ đời này qua đời khác không thể mất đi, nó thức gọi khao khát giữ gìn tinh hoa dân tộc trong mỗi chúng tôi. Từ xa xưa, mặt trống đồng đã có họa tiết thái dương tia chiếu muôn phương. Chè Đông hôm nay đang khát vọng vươn mình thành điểm du lịch làng nghề gắn liền với văn hóa, lịch sử và tâm linh. Chúng tôi mong muốn kết nối vùng đất địa linh này với các miền di chỉ, di sản như núi Đọ (phường Đông Tiến), thành Tư Phố cổ, làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng), các công ty bảo tồn, bảo tàng và trở thành điểm du lịch như gốm sứ Bát Tràng, đúc đồng Ngũ Xã, Lộng Thượng, Đại Bái... để con dân đất Việt được thấm cảm linh âm tiếng đồng từ thuở Hùng Vương; để được thấy ngọn lửa đồng ngời rạng tổ tiên con cháu Lạc Hồng.
Chiều đã muộn, hoàng hôn như tụ hết ánh vàng vào chiếc trống đồng lớn nhất Việt Nam đặt trước cửa công ty. Tôi xin phép tạm biệt Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Bá Châu, tôi bước đi mà lòng cứ băn khoăn tự hỏi: Sao một vùng đất có di sản văn hóa nhân loại, có những danh nhân lịch sử, cự tộc, khoa bảng, có đường quốc lộ chạy qua và nằm gần trung tâm kinh tế, văn hóa của một miền quần tụ đông đúc dân cư mà đến nay khách tham quan, tìm hiểu làng nghề vẫn chưa có là bao...
Trải qua những thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, nghề đúc đồng có lúc tưởng đã thất truyền, nhưng người Chè Đông hít thở mùi lửa đồng từ trong bụng mẹ, để rồi sinh ra những con người mà “nghề làng” như từ “gien di truyền” qua bao thế hệ, cứ ấp ủ đâu đó bỗng tinh anh. Vầng sáng đô thị hiển hiện từng đêm nhưng ngọn lửa đồng rực đỏ tim làng từ bình minh của lịch sử dân tộc mãi mãi thức gọi lòng người. Chè Đông là một trong số ít làng nghề đúc đồng có những nét chung, nhưng còn có vẻ đẹp riêng, bởi nơi đây trong lòng nôi của Văn hóa Đông Sơn nguồn cội. Trải qua hàng ngàn năm, dù gió mưa bão tố, thái bình thịnh quốc hay binh đao loạn lạc, ngày hay đêm, ngọn lửa đúc đồng Chè Đông vẫn luôn luôn rực ửng không gian, soi tỏ mặt người... Vòng quay bền bỉ thời gian không bao giờ ngừng lại, người Chè Đông biết đúc đồng không chỉ là nghề nghiệp sinh tồn, không chỉ là đam mê, mà đó còn là di sản qua bao thế kỷ của văn hóa dân tộc, văn hiến quốc gia, của tiến trình văn minh nhân loại. Ngọn lửa ấy chỉ có thể sinh ra, cháy liên tục, cháy hết mình và sáng mãi cùng vũ trụ để hòa chung khát vọng muôn đời đồng hành gọi mặt trời lên...
Thanh Hóa, mùa hạ 2026
V.Q.T
(*) Kẻ Chè, Kẻ Rị: Tên Nôm của làng Trà Đông và Phủ Lý (Xã Thiệu Trung, tỉnh Thanh Hóa); vùng đất cổ nổi tiếng với nghề đúc đồng và truyền thống khoa bảng.